Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật thực định, pháp luật dân sự và tố tụng dân sự đóng vai trò điều chỉnh phạm vi các quan hệ xã hội rộng lớn và đa dạng. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các giao dịch và quan hệ dân sự giữa các cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, kéo theo sự xuất hiện của nhiều mâu thuẫn, tranh chấp có tính chất phức tạp. Khi các bên không thể tự giải quyết thông qua con đường thương lượng hoặc hòa giải, sự can thiệp của cơ quan tài phán nhà nước là Tòa án trở thành phương thức bảo đảm trật tự pháp luật và công lý. Trong quá trình đó, quan hệ tố tụng dân sự chỉ có thể phát sinh khi có chủ thể thực hiện quyền khởi kiện nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà họ cho rằng đang bị xâm phạm. Chủ thể này được pháp luật trao tư cách tố tụng là nguyên đơn.

Mặc dù Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã kế thừa và hoàn thiện nhiều quy định so với các văn bản trước đây, thực tiễn áp dụng chế định nguyên đơn vẫn bộc lộ những điểm chưa thống nhất, đặc biệt là việc xác định tư cách đương sự, phạm vi quyền tự định đoạt và quyền tranh tụng. Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án tại Tòa án và bảo đảm quyền con người, tác giả Nguyễn Tuấn Kiệt đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Nguyên đơn trong vụ án dân sự".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và quy định thực tế của pháp luật hiện hành về nguyên đơn trong vụ án dân sự, chỉ ra những điểm chưa phù hợp, bất cập, hạn chế của chế định, đồng thời đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật. Để đạt được mục đích này, khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên đơn trong vụ án dân sự.
  2. Làm rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự được quy định như thế nào, phân biệt ra sao, với trọng tâm đặt vào nguyên đơn tại Tòa án cấp sơ thẩm.
  3. Chỉ ra những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung vào cách thức xác định tư cách nguyên đơn cùng hệ thống quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn. Phạm vi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ được giới hạn trọng tâm ở giai đoạn tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm. Về mặt không gian và thời gian, đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trọng tâm là BLTTDS năm 2015 trong sự so sánh, đối chiếu với BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm quyền và tư cách pháp lý của nguyên đơn dưới hai học thuyết pháp lý nền tảng:

  • Học thuyết pháp luật tự nhiên: Tiếp cận quan điểm của Aristotle và triết học cổ đại, khẳng định quyền là những giá trị vốn có, khách quan, gắn liền với con người từ khi sinh ra nhằm hướng đến sự công bằng.
  • Học thuyết pháp luật thực chứng: Tiếp cận quan điểm quyền là khả năng xử sự do Nhà nước xác định, thừa nhận và pháp điển hóa thông qua các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các định nghĩa chuyên ngành từ Từ điển Luật học (2006) của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, cùng hệ thống giáo trình, tài liệu nghiên cứu của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các công trình của các học giả pháp lý như Nguyễn Huy Đẩu, Vũ Văn Mẫu, Tống Công Cường, Nguyễn Văn Hợi, Đỗ Minh Đức, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Đăng Dung.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm căn cứ pháp lý trực tiếp bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 68, Điều 69, Điều 70, Điều 91, Điều 92, Điều 96, Điều 186, Điều 187, Điều 188, Điều 189, Điều 210, Điều 266, Điều 284, Điều 301–305);
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (tiêu biểu là Điều 101 về chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác và các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng);
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020 (khoản 1 và khoản 2 Điều 12 về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp);
  • Bộ luật Lao động năm 2019;
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014;
  • Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được kết hợp sử dụng gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa các thời kỳ BLTTDS 2004, 2011 và 2015), phương pháp tổng hợp lý luận và phương pháp liệt kê, hệ thống hóa văn bản. Nguồn dữ liệu chủ yếu là các văn bản luật thực định, tài liệu án lệ, sách chuyên khảo, bài báo trên Tạp chí Tòa án nhân dân và các luận án tiến sĩ luật học có liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về nguyên đơn trong vụ án dân sự

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và phân tích hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự hiện hành điều chỉnh về nguyên đơn. Tác giả phân tích khái niệm nguyên đơn theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015, chỉ rõ điểm tiến bộ của điều luật này so với định nghĩa trong Từ điển Luật học (2006) khi đã bao hàm đầy đủ trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.

Về đặc điểm của nguyên đơn, khóa luận phân loại chi tiết các nhóm chủ thể dựa trên điều kiện năng lực hành vi tố tụng dân sự, độ tuổi và tư cách pháp lý:

Nhóm chủ thể nguyên đơn Điều kiện năng lực hành vi tố tụng Phương thức thực hiện quyền, nghĩa vụ
Cá nhân dưới 06 tuổi Không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Toàn bộ quyền và nghĩa vụ do người đại diện hợp pháp thực hiện.
Cá nhân từ đủ 06 đến dưới 15 tuổi Năng lực hành vi tố tụng hạn chế Được khởi kiện nhưng không được khởi kiện việc nhân thân, tài sản lớn; phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
Cá nhân từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi Năng lực hành vi tố tụng tương đối đầy đủ Tự mình tham gia tố tụng nếu tranh chấp phát sinh từ hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng. Các việc khác do người đại diện thực hiện.
Người mất năng lực, hạn chế năng lực, có khó khăn trong nhận thức Năng lực bị hạn chế theo phán quyết Tòa án Tòa án căn cứ mức độ hạn chế để quyết định cá nhân tự tham gia hay người đại diện hợp pháp thực hiện thay.
Trường hợp khởi kiện thay Cơ quan, tổ chức được luật trao quyền (VKS, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Chấp hành viên...) Cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích công hoặc quyền lợi cá nhân; chủ thể có quyền lợi được bảo vệ mới là nguyên đơn.
Cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân Tham gia thông qua người đại diện Người đại diện theo pháp luật theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 đại diện tham gia tố tụng.
Hộ gia đình, tổ hợp tác (không có tư cách pháp nhân) Không có tư cách đương sự độc lập theo Điều 101 BLDS 2015 Các thành viên tự tham gia hoặc ủy quyền cho một cá nhân đại diện tham gia tố tụng.

Về căn cứ xác định tư cách nguyên đơn, khóa luận nhấn mạnh ba yêu cầu: tư cách khởi kiện (phải chịu thiệt hại hoặc có liên quan trực tiếp đến kết quả vụ án), năng lực chủ thể và yêu cầu về thủ tục (nộp đơn đúng biểu mẫu, chứng cứ, thẩm quyền). Đáng chú ý, tác giả phân tích bản chất của "quan điểm giả định quyền, lợi ích bị xâm phạm". Trước khi bản án có hiệu lực, sự xâm phạm chỉ mang tính giả định, điều này bảo đảm vị thế bình đẳng giữa nguyên đơn và bị đơn trước Tòa án.

Về hệ thống quyền của nguyên đơn, tác giả phân chia thành hai nhóm quyền cốt lõi:

  • Nhóm quyền tự định đoạt: Bao gồm quyền khởi kiện (kể cả khi chưa có điều luật cụ thể để áp dụng theo khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015, Tòa án phải áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản, án lệ và lẽ công bằng); quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện (bị giới hạn trong phạm vi khởi kiện ban đầu theo Điều 188 và chỉ được thực hiện trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm); quyền rút yêu cầu khởi kiện; quyền kháng cáo và thay đổi, bổ sung kháng cáo trong phạm vi kháng cáo ban đầu (Điều 284).
  • Nhóm quyền tranh tụng: Bao gồm quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh (Điều 6, Điều 70, Điều 96, Điều 189); quyền tiếp cận chứng cứ (được sao gửi chứng cứ từ đương sự khác, yêu cầu Tòa án thu thập, sao chụp tài liệu theo Điều 210); quyền được loại trừ một phần nghĩa vụ chứng minh (Điều 91, Điều 92, tiêu biểu là việc không phải chứng minh yếu tố lỗi trong yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản gây ra); quyền tranh tụng tại phiên tòa (kết hợp thủ tục hỏi và tranh luận, quyền được hỏi đầu tiên, bảo đảm không bị giới hạn thời gian tranh luận).

Song song với quyền, tác giả phân tích hệ thống nghĩa vụ của nguyên đơn: nghĩa vụ nộp đơn đúng trình tự; nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; nghĩa vụ hợp tác với Tòa án; nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí, lệ phí và chi phí tố tụng; nghĩa vụ bảo đảm tính chính xác, bảo mật thông tin; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị đơn nếu khởi kiện sai và nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án.

Cuối chương, tác giả luận giải chế định kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự: xử lý trường hợp cá nhân chết (người thừa kế tài sản tham gia), tổ chức giải thể, phá sản, sáp nhập, chia tách hoặc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp, cũng như hệ quả pháp lý tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án khi chưa xác định được người kế thừa.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về nguyên đơn trong vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 của khóa luận phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật liên quan đến chế định nguyên đơn tại Tòa án các cấp, chỉ rõ những vướng mắc và đề xuất giải pháp. Cụ thể, các nội dung chính được tác giả triển khai bao gồm:

  • Thực tiễn áp dụng: Đánh giá việc thụ lý đơn khởi kiện, xác định tư cách nguyên đơn trong các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại và lao động; thực tiễn Tòa án công nhận quyền khởi kiện của tổ chức đại diện (tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên - môi trường, công đoàn cấp trên cơ sở).
  • Bất cập, vướng mắc: Phân tích tình trạng xung đột và khó khăn khi xác định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khi công ty có nhiều đại diện theo Luật Doanh nghiệp 2020 nhưng Điều lệ không phân định rõ quyền hạn tố tụng; vướng mắc trong việc xác định thành viên hộ gia đình tham gia tố tụng theo Điều 101 BLDS 2015; sự thiếu đồng bộ giữa phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 210) với thủ tục tranh luận tại phiên tòa; việc giới hạn quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và kháng cáo chưa có hướng dẫn thống nhất giữa các cấp Tòa án.
  • Nguyên nhân của bất cập: Chỉ ra nguyên nhân từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật nội dung (Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai) và pháp luật hình thức (BLTTDS); hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao chưa kịp thời; nhận thức pháp luật và kỹ năng tố tụng của đương sự còn hạn chế.
  • Kiến nghị hoàn thiện: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều luật trong BLTTDS năm 2015; ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn cụ thể về phạm vi thay đổi yêu cầu khởi kiện, cơ chế tiếp cận chứng cứ độc quyền của bên đối tụng và hoàn thiện quy trình kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng để hạn chế việc đình chỉ vụ án kéo dài.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống pháp luật thực định:

  • Làm rõ ranh giới pháp lý giữa người khởi kiện và nguyên đơn: Khẳng định người nộp đơn chỉ chính thức có tư cách nguyên đơn khi Tòa án thụ lý vụ án và chấp nhận quan điểm giả định về quyền lợi bị xâm phạm; làm rõ người khởi kiện thay (Viện kiểm sát, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước) không phải là nguyên đơn mà tư cách nguyên đơn thuộc về chủ thể có quyền, lợi ích được bảo vệ.
  • Hệ thống hóa các giới hạn của quyền tự định đoạt và quyền tranh tụng: Luận giải nguyên tắc "nguyên đơn đã ấn định khuôn khổ cho Thẩm phán hành động thì cũng bị giam hãm trong phương thức của mình", từ đó chỉ ra quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện chỉ hợp thức khi nằm trong phạm vi khởi kiện ban đầu và trước khi Tòa sơ thẩm ra phán quyết.
  • Chỉ ra điểm đổi mới về nghĩa vụ chứng minh: Phân tích quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 kết hợp với chế định bồi thường ngoài hợp đồng của BLDS 2015, chứng minh bước tiến bảo vệ quyền con người khi giải phóng nguyên đơn khỏi nghĩa vụ chứng minh yếu tố lỗi trong các trường hợp luật định.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lập pháp: Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành các điều khoản còn đa nghĩa tại Điều 70, Điều 188 và Điều 210 BLTTDS 2015 nhằm khắc phục sự thiếu liên kết giữa phiên họp giao nộp chứng cứ với phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu chế định nguyên đơn chủ yếu ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015, chưa đi sâu phân tích toàn diện tư cách và quyền năng của nguyên đơn ở các giai đoạn tố tụng đặc thù khác như thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay giai đoạn thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu các quyền tự định đoạt mới chỉ dừng lại ở các quyền cơ bản (khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, kháng cáo) mà chưa bao quát toàn bộ các quyền chuyên biệt khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài có thể mở rộng khảo sát thực tiễn xét xử thông qua các bản án, quyết định cụ thể của Tòa án các cấp để đánh giá định lượng mức độ sai sót trong việc xác định tư cách nguyên đơn; đồng thời nghiên cứu so sánh quy định về nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam với pháp luật của các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law) và Dân luật (Civil Law).

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, giảng viên giảng dạy học phần Luật Tố tụng Dân sự, cũng như những người làm công tác thực tiễn như Luật sư, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên.

Phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là mục 1.4 của Chương 1, nơi tác giả phân tích kỹ lưỡng điều kiện xác định tư cách nguyên đơn của cá nhân theo từng độ tuổi và tư cách của các cơ quan, tổ chức không có tư cách pháp nhân (hộ gia đình, tổ hợp tác, chi nhánh). Phân tích về sự kết hợp giữa Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều 68 BLTTDS 2015 cung cấp cơ sở đối chiếu rõ ràng cho các tranh chấp kinh doanh thương mại có sự tham gia của pháp nhân.

Câu hỏi thường gặp

Khi nào một cá nhân chính thức được Tòa án công nhận có tư cách là nguyên đơn?

Cá nhân chỉ chính thức có tư cách nguyên đơn trong tố tụng dân sự khi đáp ứng đủ ba điều kiện: có tư cách khởi kiện (quyền lợi bị xâm phạm theo suy đoán), có năng lực chủ thể (hoặc thông qua người đại diện hợp pháp), thực hiện đúng các thủ tục nộp đơn khởi kiện theo luật định và thời điểm được xác lập là khi Tòa án ban hành thông báo thụ lý vụ án dân sự.

Trường hợp tổ chức xã hội hoặc Viện kiểm sát khởi kiện thì ai là nguyên đơn trong vụ án?

Theo phân tích tại Chương 1, khi Viện kiểm sát khởi kiện vì lợi ích công cộng hoặc tổ chức xã hội (như tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cơ quan về dân số gia đình và trẻ em, tổ chức công đoàn) khởi kiện thay cho nhóm người, thì người hoặc tập thể có quyền, lợi ích hợp pháp được bảo vệ mới tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn. Viện kiểm sát và các tổ chức xã hội khởi kiện thay không phải là nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Hộ gia đình có được đứng tên trực tiếp làm nguyên đơn trong vụ án dân sự không?

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015 được tác giả trích dẫn, hộ gia đình không có tư cách pháp nhân nên không thể trực tiếp tham gia tố tụng với tư cách đương sự độc lập. Việc tham gia tố tụng và xác định tư cách nguyên đơn sẽ thông qua chủ thể là các cá nhân thành viên trong hộ gia đình đó (tự tham gia hoặc ủy quyền cho một người đại diện).

Nguyên đơn có được thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm không?

Có, nhưng quyền này bị giới hạn. Nguyên đơn chỉ được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện trong phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu theo Điều 188 BLTTDS năm 2015. Đồng thời, quyền này chỉ được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm; sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định thì nguyên đơn không còn quyền này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tuấn Kiệt đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực định về chế định nguyên đơn trong tố tụng dân sự Việt Nam theo tinh thần của BLTTDS năm 2015. Công trình phân tích sâu sắc các điều kiện cấu thành tư cách đương sự, ranh giới giữa quyền tự định đoạt và quyền tranh tụng, cũng như trách nhiệm tố tụng của nguyên đơn ở giai đoạn sơ thẩm. Các nhận định và đề xuất trong khóa luận cung cấp góc nhìn học thuật rõ ràng, góp phần làm sáng tỏ những vướng mắc thực tiễn trong hoạt động xét xử dân sự hiện nay.