ĐẶT VẤN ĐỀ l-Tetrahydropalmatin (l-THP) là một alkaloid có nguồn gốc tự nhiên, được sử dụng trong điều trị các bệnh mạn tính như mất ngủ, căng thẳng, lo âu,… Tuy nhiên, l-THP khi dùng đường uống có tác dụng ngắn, chuyển hóa nhanh và sinh khả dụng thấp [72], cần dùng nhiều lần trong ngày để đạt hiệu quả điều trị. Dạng bào chế miếng dán qua da chứa l-THP có thể khắc phục các nhược điểm trên bởi l-THP có tính chất lý hóa phù hợp với dạng thuốc này. Để phát triển thành công dạng bào chế miếng dán qua da, cần có những nghiên cứu sâu rộng về giải phóng thuốc, khả năng hấp thu qua da và dược động học của l-THP. Mặc dù vậy, các nghiên cứu về ảnh hưởng của dạng bào chế đến khả năng giải phóng in vitro và sinh khả dụng in vivo của l-THP còn hạn chế, đặc biệt là tương quan in vitro - in vivo (IVIVC).
IVIVC là công cụ quan trọng để dự đoán sinh khả dụng in vivo của chế phẩm giải phóng kéo dài dựa trên dữ liệu giải phóng in vitro, tuy nhiên, tỷ lệ xây dựng và ứng dụng thành công IVIVC vẫn còn thấp [67]. Mô hình dược động học sinh lý (Physiologically based pharmacokinetics - PBPK) đã được phát triển để mô tả chính xác quá trình dược động học của thuốc theo từng cơ quan sinh lý, giúp thiết lập IVIVC với khả năng thành công cao hơn [66]. Trong IVIVC, mô hình PBPK vừa tham gia vào quá trình giải chập để thiết lập tương quan, vừa dùng để tích chập mô phỏng nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian [46]. Nghiên cứu trước đây của ThS.
Nguyễn Thị Hòa (2022) [5] đã bước đầu xây dựng mô hình PBPK và IVIVC cho miếng dán qua da chứa l-THP, đạt được tương quan có ý nghĩa mức A. Tuy nhiên, mô hình PBPK xây dựng được cho thấy phổi, động mạch, tĩnh mạch là 3 cơ quan chuyển hóa, thải trừ chính của thuốc. Điều này không phù hợp với lý thuyết về dược động học, mô hình không mô tả đúng quá trình dược động của thuốc trong cơ thể và có thể dẫn đến kết quả mô phỏng sai lệch so với thực tế. Trên cơ sở đó, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng tương quan in vitro – in vivo trong bào chế miếng dán qua da chứa l-tetrahydropalmatin” được thực hiện với các mục tiêu chính sau đây: 1.
Hoàn thiện mô hình dược động học sinh lý cho miếng dán qua da chứa 1-THP để kết hợp với phương trình tương quan, mô phỏng dữ liệu nồng độ thuốc trong huyết tương in vivo từ dữ liệu in vitro của miếng dán qua da chứa l-THP. Tối ưu hóa công thức bào chế miếng dán qua da chứa l-THP nhằm duy trì nồng độ thuốc trong khoảng có tác dụng trên 8 giờ và cải thiện khả năng bám dính của miếng dán. TỔNG QUAN Tổng quan về l-tetrahydropalmatin 1. Nguồn gốc và cấu trúc hóa học l-Tetrahydropalmatin là một protoberberin isoquinolin alkaloid, là dược chất có hoạt tính được chiết xuất từ rễ củ của một số dược liệu thuộc họ Stephania spp.
hoặc Coridalis spp., đặc biệt là cây Bình vôi (Stephania rotunda) và cây cải cần (Corydalisambigua). Hiện nay, l-THP được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp toàn phần [81]. Cấu trúc phân tử của l-THP được thể hiện ở Hình 1. Cấu trúc hóa học của THP - Công thức phân tử: C21H25NO4; khối lượng phân tử: 355,4 g/mol.
- Tên khoa học: 5, 8, 13, 13a-tetrahydro-2, 3, 9, 10-tetramethoxy-6H-dibenzo [a,g] quinolizin [1]. - Tên khác: rotundin, gindarin, caseanin, hyndarin [1]. Tính chất lý hóa Tính chất vật lý: - Cảm quan: tinh thể màu trắng hay hơi vàng, không mùi, không vị, bị chuyển sang màu vàng khi tiếp xúc với ánh sáng hoặc nhiệt độ cao [1]. - Độ tan: l-THP tan tốt trong cloroform, hơi tan trong ethanol và ether, không tan trong nước, dễ tan trong acid sulfuric loãng [1].
- Nhiệt độ nóng chảy: 141-144˚C [1]. Tính chất hóa học: - Tính base yếu: l-THP chứa N bậc 3 trong phân tử, có thể dễ dàng tạo muối với các acid vô cơ. 2 - Tính chất hóa học của alkaloid: l-THP có phản ứng với các thuốc thử alkaloid như thuốc thử Dragendorff, acid picric,… [1]. - Độ ổn định: l-THP dễ bị oxy hóa dưới ánh sáng và nhiệt độ cao, các phân tử bị kích thích lên năng lượng cao có thể trải qua một hoặc nhiều phản ứng và chuyển hóa thành sản phẩm cuối là palmatin [25].
Tác dụng dược lý l-THP được quan tâm nghiên cứu bởi tác động lên hệ thần kinh. l-THP có tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ được chứng minh là có liên quan đến tính đối kháng trên các thụ thể D1, D2 và D3 của dopamin [54], [81]. Do cơ chế tác dụng không liên quan đến thụ thể opioid, l-THP được sử dụng kết hợp với pethidin nhằm tăng tác dụng giảm đau, giảm liều pethidin và giảm tình trạng phụ thuộc thuốc [81]. Một số nghiên cứu cho thấy l-THP có tác dụng cải thiện hội chứng gây nghiện do sử dụng các thuốc giảm đau opioid.
l-THP có tác dụng ức chế mô hình hành vi CPP khi dùng morphin, cocain, oxycodon và methamphetamin (METH), đồng thời có thể ức chế tái phát CPP do METH ở một mức độ nào đó [15]. l-THP đối kháng các thụ thể của dopamin, adrenergic và serotonin chọn lọc trên não bộ, do đó ức chế quá trình phosphoryl hóa của enzym ERK, giảm tác dụng phụ thuộc do dùng METH [15], [54]. Gần đây, l-THP cũng được nghiên cứu về khả năng chống ung thư. l-THP có khả năng điều trị u nguyên bào thần kinh đệm bằng cách ức chế dòng ERK/NF-κB, làm giảm thể tích khối u, ức chế khả năng di chuyển và xâm lấn của khối u trên cả in vitro và in vivo ở chuột [78].
l-THP có thể gây ra quá trình chết tế bào theo chu kì (apoptosis) độc lập p53 thông qua protein XIAP bằng cách ức chế MDM2 và tăng độ nhạy cảm của tế bào ung thư bạch cầu EU-4 với doxorubicin. l-THP được coi là một phân tử mới có thể gây ra apoptosis đặc biệt trong các tế bào ung thư bạch cầu [23]. l-THP có thể làm giảm khả năng kháng thuốc của bệnh nhân đối với các loại thuốc chống ung thư như cisplatin, doxorubicin, fulvestrant và tamoxifen, do l-THP giảm sự tích tụ và độc tính của các chất ở gan và thận [15]. Ngoài ra, l-THP có tác dụng giãn cơ trơn, hạ huyết áp do ức chế thụ thể 1- adrenergic và kênh calci [54].
l-THP còn có tác dụng kích thích hệ thống nội tiết trên tuyến yên, tuyến thượng thận và bảo vệ gan [15], [75]. Một số nghiên cứu về đặc điểm dược động học của l-tetrahydropalmatin Nguyễn Đình Đức và cộng sự (2015) đã đánh giá đặc tính dược động học của l-THP dạng nguyên liệu và dạng tự vi nhũ hóa trên thỏ. Kết quả cho thấy Tmax đạt được sau 5 phút ở dạng tự vi nhũ hóa và 15 phút ở dạng nguyên liệu thô, sau đó nồng độ l-THP giảm nhanh và không phát hiện được tín hiệu sau 4 giờ [8], [13]. Nghiên cứu của Bùi Quang Đông (2018) đã đánh giá đặc tính dược động học của hệ phân tán rắn chứa 3 l-THP trên thỏ và dạng nguyên liệu (4,5 mg/kg) đường uống và đường tiêm tĩnh mạch cũng cho kết quả tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Đình Đức, Tmax đạt được trong 10 phút và nồng độ l-THP trong huyết tương thỏ giảm nhanh theo thời gian [3].
Chao và cộng sự (2017) đã tiến hành đánh giá dược động học của viên phân tán chứa l-THP ở người với liều 60 mg, đường uống. Kết quả cho thấy Tmax đạt được sau 1,25 giờ. l-THP hấp thu nhanh với t1/2ka là 0,5 giờ, phân bố nhanh với t1/2 là 0,74 giờ và thải trừ chậm với t1/2β là 11,42 giờ. l-THP phân bố chủ yếu ở khoang ngoại vi với V1/F là 133,30 L [41].
Yiran và cộng sự (2021) đã nghiên cứu đánh giá dược động học trên não chuột của 3 dạng bào chế gồm có hỗn dịch l-THP, hỗn dịch l-THP và puerarin (15:100) và hệ vi tự nhũ hóa chứa l-THP với liều 15 mg/kg đường uống. Kết quả thông số dược động học của dạng hỗn dịch l-THP thu được như sau: Tmax = 0,34 giờ, Cmax = 2997,54 ng/g, MRT = 4,5 giờ, AUC0-∞ = 4,975,08 ng. Ngoài ra, hệ vi tự nhũ hóa có sinh khả dụng tương đối cao gấp 3,25 lần dạng hỗn dịch [24]. Một số nghiên cứu về các dạng bào chế qua da chứa l-tetrahydropalmatin Li, Chunmei và cộng sự (2011) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chất kết dính, chất tăng thấm đến khả năng thấm qua da của THP dạng racemic, các đặc tính lưu biến và giải phóng in vitro.
Nghiên cứu chỉ ra rằng emulgel chứa THP được bào chế với Carbopol (971P) và chất tăng thấm N-methyl-2-pyrrolidon cho thông lượng giải phóng cao nhất khi so sánh với các chất tăng thấm như Transcutol, polysorbat 80 và propylen glycol cho lượng dược chất thấm qua da là 118,19 µg/cm2 [53]. Xie và cộng sự (2016) đã nghiên cứu đánh giá dược động học của miếng dán chứa l-THP trên da thỏ với liều 45 mg trong 24 giờ. Kết quả thông số dược động học thu được như sau: Tmax = 5,0 giờ, Cmax = 153,12 ng/ml, MRT = 10,0 giờ, AUC0-∞ = 2,10 µg. So với nhóm sử dụng nguyên liệu, nhóm sử dụng miếng dán cho kết quả Cmax tăng 3 lần [77].
Guizhen và cộng sự (2023) đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của gel liposom chứa l-THP đến khả năng thấm và sinh khả dụng in vivo của l-THP. Kết quả cho thấy Cmax trong huyết tương gel liposom là 0,16 μg/mL và Tmax là 1,2 giờ. Sinh khả dụng tương đối của l-THP trong gel liposom là 233,8% so với nhũ tương. Kết quả đánh giá lượng thuốc còn lại trên da cho thấy tổng lượng l-THP được giải phóng khỏi bề mặt da và parafilm sau 24 giờ lần lượt là 0,43 ± 0,05 mg và 0,37 ± 0,09 mg đối với nhóm gel liposom và nhũ tương.
Từ các nghiên cứu trên, các dạng bào chế qua da chứa l-THP giúp kéo dài nồng độ thuốc trong huyết tương thỏ, góp phần tăng sinh khả dụng so với đường tiêm tĩnh mạch và đường uống. 4 Tương quan in vitro – in vivo 1. Đại cương FDA định nghĩa tương quan in vitro – in vivo (in vitro – in vivo correlation IVIVC) là một mô hình toán học mô tả mối quan hệ giữa đặc tính in vitro của dạng bào chế (thường là tốc độ hoặc mức độ thuốc hòa tan hoặc giải phóng) với đáp ứng in vivo tương ứng (nồng độ dược chất trong huyết tương hoặc lượng dược chất hấp thu) [44].