ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa thích hợp cho các bệnh nấm da phát triển. Nấm da là một trong những nguyên nhân chính gây các bệnh ngoài da và là một vấn đề sức khỏe trong cộng đồng. Trong đó, nấm kẽ chân là bệnh da liễu phổ biến do vi nấm Trichophyton sp. hay Epidermophyton sp.
Bệnh thường gặp ở những cá nhân có nghề nghiệp mà chân tiếp xúc với nước, mồ hôi trong thời gian dài như vận động viên, người buôn bán hải sản. Do đặc thù nghề nghiệp nên bệnh thường tái phát nhiều lần, khó điều trị dứt điểm và dẫn đến mãn tính, đòi hỏi thời gian điều trị lâu dài, gây tốn kém nhưng đôi khi không hiệu quả. Bên cạnh đó, các thuốc kháng nấm nguồn gốc hóa dược có nhiều tác dụng phụ và tỉ lệ kháng thuốc ngày càng cao. Trong những năm gần đây, việc sử dụng các sản phẩm từ dược liệu để chống nhiễm nấm, vi khuẩn và ký sinh trùng được quan tâm nhiều hơn.
Điều này là do việc sử dụng cây thuốc có nhiều ưu điểm như ít tác dụng phụ, giảm chi phí điều trị, tự chủ được nguồn nguyên liệu do không phải nhập khẩu. Dược liệu Núc Nác – thuộc họ Chùm ớt với nhiều đặc tính như kháng viêm, kháng khuẩn, bảo vệ tế bào gan đã được sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền như điều trị đau dạ dày, trị giun sán, viêm loét… Kế thừa kinh nghiệm sử dụng trong dân gian và các nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy dược liệu này hứa hẹn khả năng trị nấm da cao. Bên cạnh đó, trên thị trường Việt Nam chưa có chế phẩm dạng kem chứa cao chiết Núc Nác. Từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu bào chế kem trị nấm chứa cao chiết Núc Nác” được thực hiện nhằm bào chế dạng thuốc kem trị nấm có nguồn gốc từ dược liệu, đáp ứng nhu cầu điều trị và làm phong phú thêm thị trường dược phẩm nước ta.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm: 1. Đánh giá được khả năng kháng nấm và xác định được MIC của cao chiết Núc Nác. Nghiên cứu xây dựng được công thức và quy trình bào chế kem trị nấm chứa cao chiết Núc Nác. Đánh giá được khả năng kháng nấm của chế phẩm nghiên cứu và xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở dự kiến cho kem trị nấm chứa cao chiết Núc Nác.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về Núc Nác - Tên khoa học: Oroxylum indicum (L.), Vent - Họ: Chùm ớt (Bignoniaceae). - Tên gọi khác: Nam hoàng bá, Mộc hồ điệp, Sò đo thuyền. - Phân bố: Núc Nác mọc hoang và được trồng khắp các vùng ở Việt Nam.
Dược liệu này cũng được tìm thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, Lào, Campuchia. - Mô tả cây: Cây cao to 7 - 12 m, có thể cao tới 20 - 25 m, thân nhẵn, ít phân nhánh, vỏ cây màu xám tro, nhưng khi bẻ có màu vàng nhạt. Lá to 2- 3 lần kép lông chim. Lá chét hình bầu dục, nguyên, đầu nhọn, dài 7,5 – 15,0 cm, rộng 5,0 - 6,5 cm.
Hoa màu đỏ tím, to, mọc thành chùm ở đầu cành, dài tới 1m, 5 nhị trong đó có một nhị nhỏ hơn. Quả nang to, dài tới 50 - 80 cm, rộng 5 - 7 cm, trong chứa hạt, bao quanh có một màng mỏng, bóng và trong. - Bộ phận dùng: + Vỏ Núc Nác (Cortex Oroxyli): là vỏ thân phơi hay sấy khô của cây Núc Nác. Vỏ thân Núc Nác có màu nâu nhạt, trên bề mặt có rất nhiều sẹo của cuống lá cũ và nhiều những đốm nhỏ nổi lên, mặt trong khi còn tươi có màu vàng nhạt, không mùi, vị đắng, hơi hắc.
+ Hạt Núc Nác (Semen Oroxyli): là hạt phơi hay sấy khô của cây Núc Nác. Hạt Núc Nác hình bầu dục, rất mỏng, dẹt ba phía vỏ ngoài phát triển thành màng rất mỏng trông như cánh bướm, màu trắng nâu nhạt, có những đường gân từ hạt tỏa ra. Chiều dài cả hạt và cánh từ 4 - 7 cm, rộng 2,5 – 4,0 cm. Hạt Núc Nác làm thuốc có tên Mộc hồ điệp [2].
+ Lá Núc Nác: Lá rất to, dài 90-180 cm có 2-3 hình lông chim với 5 hoặc nhiều hơn các cặp hình tai gai sơ cấp, mọc rất nhanh, hình trụ, phình ra ở chỗ nối các cành, lá chét 2-4 cặp hình trứng hoặc hình elip, đầu nhọn, hình lông chim. Nước sắc lá được dùng trong điều trị đau thấp khớp, lá lách to, loét, ho và viêm phế quản. Thành phần hóa học - Lá chứa flavone, các glycosid như baicalein, scutellarein; anthraquinon như aloe emodin. - Vỏ thân Núc Nác chứa alkaloid, tannin, sitosterol và galactose [5].
- Bốn flavonoid gồm chrysin, baicalein, baicalein-7-O-glucoside, baicalein-7-O- diglucoside (Oroxylin B) và một flavonoid chưa biết cũng đã được phân lập từ hạt của Oroxylum [8]. - Những flavonoid thường thấy là: + Oroxylin A: Công thức phân tử C6H12O5, cấu trúc là 5-7 dihydroxy 9-methoxy flavon, trọng lượng phân tử 284 g/mol. Tinh thể màu vàng chanh, nhiệt độ nóng chảy 230 – 232 0C, tan trong cồn, aceton, benzen nóng, trong kiềm, ete và acid acetic đặc. + Baicalein hay noroxylin: 5-6-7 trihydroxyflavon, công thức phân tử C5H10O5, trọng lượng phân tử 270,2 g/mol, tinh thể màu vàng, hình lăng trụ, nhiệt độ nóng chảy 264 – 265 0C, tan trong ethanol, methanol, ete, aceton, etylacetat, acid acetic đặc, trong kiềm loãng và cho màu vàng thẫm, acid sunfuric đặc cho màu vàng có huỳnh quang lục.
Ít tan trong cloroform, nitrobenzen. + Chrysin: 5-7 dihydroxyflavon, công thức phân tử C15H10O4, trọng lượng phân tử 254,23 g/mol, nhiệt độ nóng chảy 276 0C, tinh thể màu vàng nhạt. Không tan trong nước, tan trong dung dịch kiềm. Ít tan trong cồn cloroform, ete.
Có thể thăng hoa được. + Tetuin: là baicalein kết hợp với glucose ở vị trí 6 – O – glycoside, công thức phân tử C21H20O10, trọng lượng phân tử 432,37 g/mol. Có tinh thể màu vàng nhạt, nhiệt độ nóng chảy 112 – 114 0C - Một số công thức cấu tạo hóa học đại diện được trình bày trong Hình 1.1 Cấu tạo hóa học (1) Oroxylin A, (2) Baicalein, (3) Chrysin, (4) Tetuin 1. Tính kháng viêm Dịch chiết nước của lá Núc Nác đã được báo cáo là có hoạt động kháng viêm đáng kể.
Hoạt tính kháng viêm đã được nghiên cứu in vivo trên mô hình phù chân chuột do carageenan gây ra. Dịch chiết nước của lá Núc Nác liều 300 mg/ kg trọng lượng cơ thể cho thấy hoạt động kháng viêm tối đa [15]. Hoạt tính chống độc tế bào gan Lá của Núc Nác được sử dụng rộng rãi như một phương pháp dự phòng rối loạn gan trong y học Ấn Độ. Nghiên cứu của Tenpe và cộng sự về hoạt động chống độc gan của các chiết xuất khác nhau của Núc Nác chống lại nhiễm độc gan do CCl4.
Dịch chiết ether, chloroform, ethanol và nước được dùng cho chuột với liều 300 mg/ kg trọng lượng cơ thể và đo nồng độ enzyme trong huyết thanh. Tất cả các nhóm thử nghiệm cho thấy sự giảm đáng kể về SGOT, SGPT, ALP, tổng hàm lượng bilirubin. và mức tăng đáng kể của protein đã được quan sát thấy ở chuột. Trong số tất cả các dịch chiết, dịch chiết cồn được thấy là có hiệu quả hơn [37].
Khả năng trừ giun sán Khả năng trừ giun của Núc Nác đối với trứng giun lươn đã được nghiên cứu in vitro và so sánh với ivermectin, một trong những chất tẩy giun hiệu quả nhất. Với liều 2 x 10-5 g/ ml và cao hơn, trứng giun lươn đã nở chậm hơn khi sử dụng Núc Nác. Với liều 2 x 10-1 g/ ml không có trứng giun lươn nào nở. Với liều 2 x 104 g/ ml và cao hơn không có trứng và ấu trùng giun lươn nở [11].
Khả năng kháng ung thư Các nghiên cứu khác nhau đã chứng minh tiềm năng chống ung thư của Núc Nác bằng các mô hình khác nhau. Nghiên cứu của Narisa và cộng sự đã chiết xuất Núc Nác với cồn 95% và thử nghiệm gây độc tế bào bằng cách xác định tác dụng chống tăng sinh trên các dòng tế bào Hep2 [21]. Roy và cộng sự đã nghiên cứu về tác dụng in vitro của baicalein đối với khả năng sống sót và gây ra chu trình apoptosis trong dòng tế bào HL-60. Khả năng tồn tại của tế bào sau khi điều trị bằng baicalein trong 24 giờ đã được định lượng bằng cách đếm các tế bào khả thi bằng cách sử dụng nhuộm màu xanh lam trypan.
Kết quả cho thấy baicalein gây ra sự ức chế 50% tế bào HL-60 ở nồng độ 25 – 30 µM. Sự ức chế tăng sinh của các tế bào HL-60 do tiếp xúc 36 - 48 h với 10 - 20 µM baicalein có liên quan đến sự tích tụ của các tế bào ở các pha S hoặc pha G2M [35]. Hoạt tính kháng khuẩn Hoạt tính kháng khuẩn của các dịch chiết Núc Nác khác nhau đã được sàng lọc kháng lại 14 vi khuẩn gây bệnh (5 vi khuẩn gram dương và 9 vi khuẩn gram âm) và 7 loại nấm gây bệnh bằng phương pháp khuếch tán đĩa. Chiết xuất ethyl acetat thô cho thấy hoạt động ở mức độ nhẹ đến trung bình kháng lại tất cả các vi khuẩn và nấm, trong khi dịch chiết methanol cho thấy ít hoạt động kháng lại vi khuẩn nhưng hoạt động kháng nấm ở mức trung bình.
Nồng độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid phân lập từ Núc Nác được xác định kháng lại Bacillus subtilis,. Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Shigella dysenteriae và các giá trị được tìm thấy trong khoảng 64 – 128 g/ ml [14]. Hoạt tính kháng nấm Kết quả kháng nấm từ các dịch chiết vỏ rễ cây Núc Nác (ete dầu hỏa, ethyl acetat, methanol) (300 µg/ đĩa) cho thấy có tác dụng kháng mạnh với Aspergillus niger và các chủng vi nấm Candida. Dịch chiết ete dầu hỏa của Núc Nác cho vòng kháng nấm của các chủng Candida là 20 mm, so với chứng Clotrimazol cho vòng kháng nấm là 18 mm [14].
Theo nghiên cứu của Rasadah Mat Ali, dịch chiết dicloromethan từ rễ và vỏ thân của Núc Nác (100 µg dịch chiết) có tác dụng kháng nấm da (Trichophyton mentagophyte, Microsporum gypsum and Epidermophyton floccosum), vùng ức chế khoảng 16 - 20 mm so với chuẩn acid salicylic 16 - 20 mm [25]. Tác dụng của một số dịch chiết được trình bày trong Bảng 1.1 Một số dịch chiết Núc Nác và tác dụng được nghiên cứu Dịch chiết Thành phần Tác dụng Dicloromethan (vỏ Dehydro-iso-α- Baicalein, Lapachol, oroxylin A thân) Iapachone, Baicalein, ức chế vi khuẩn gram dương, Chrysin, Lapachol trong khi Chrysin ức chế Candida albicans và Pseudomonas aeruginosa [24]. Dịch chiết Baicalein, Chrysin, Chiết xuất Dicloromethan của Núc Dicloromethan (vỏ Oroxylin - A Nác đã chứng tỏ là chất hứa hẹn thân) ức chế NF-κB.