CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Chè vằng 1. Vị trí phân loại của Jasminum subtriplinerve Blume Chè vằng hay còn gọi là chè cước man, dây cẩm văn, cây dâm trắng, lài ba gân là loài thực vật có hoa thuộc họ Nhài (Oleaceae). Có tên khoa học là Jasminum subtriplinerve Blume.
Chè vằng có vị trí phân loại như sau [31]: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Bộ: Nhài (Oleales) Họ: Nhài (Oleaceae) Chi: Nhài (Jasminum L.) Loài: Jasminum subtriplinerve 1. Đặc điểm thực vật, phân bố, hình thái Cây Chè vằng là một cây nhỏ, mọc thành bụi ở bờ rào hay bụi tre hoặc bám vào các cây lớn. Thân cây cứng, chia thành từng đốt, đường kính 5 – 6 mm, chia thành nhiều cành, có thể vươn cao 1 – 1,5 m và vươn dài tới 15 – 20 m, thân và cảnh đều nhẵn. Lá mọc đối, hình mũi mác, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, dài 4 – 7,5 cm, rộng 2 – 4,5 cm, những lá phía trên nhỏ hơn lá phía dưới, mép nguyên, trên có 3 gần rõ rệt.
Cuống lá nhẵn, dài 3 – 12 mm. Hoa mọc thành xim nhiều hoa (chừng 7 – 9 hoa), cánh hoa màu trắng. Quả hình cầu, đường kính 7 – 8 mm (bằng hạt ngô). Khi chín có màu vàng, trong quả có một hạt rắn chắc.
Mùa quả chín tháng 7 – 10 [4]. Chè vằng phân bố phổ biến và khá tập trung ở khu vực các nước Đông Nam Á và Nam Á. Ngoài ra, cây cũng còn gặp ở các tỉnh phía nam Trung Quốc và đảo Hải Nam. Ở Việt Nam, Chè vằng có rải rác ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp, trung du và cả đồng bằng, không thấy cây mọc ở vùng núi cao trên 1500 m [1].
Cây gặp nhiều từ Lào Cai, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, qua Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng tới Khánh Hòa [1], [12]. Thành phần hóa học Hiện nay, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thành phần hóa học của cây Chè vằng, có các nhóm chất chính như terpen glycosid, flavonoid glycosid, phenylethanoid glycosid, phenylpropanoid glycosid, steroid, triterpenoid, … - Nhóm terpenglyosid: Anatolioside A, 6′′′-epi-anatolioside A, chevangin A, chevangin B, 6-epi-chevangin B, chevangin C, Chevangin D [21]. 2 - Nhóm Phenylethanoid glycosid: Verbascosid, isoverbascosid,… [9], [11], [19] - Flavonoid glycosid: Rutin, Isoquercitrin, Astragalin, Nicotiflorin [9] - Nhóm Phenylpropanoid glycosid: Jasnervosid A, Jasnervosid B, Jasnervosid C, Jasnervosid D,… [18] - Acid phenolic: Acid gallic, Acid protocatechuic [6]. Trong đó nhóm phenylethanoid glycosid gồm các verbascosid, isoverbascosid là thành phần chính mang lại tác dụng dược lý của Chè vằng.
Trong một số nghiên cứu, hàm lượng verbascosid chiếm khoảng 1,8 – 9,3 mg/g tùy từng mẫu ở các nơi khác nhau [7]. Tác dụng sinh học 1. Tác dụng chống oxy hóa Hoạt tính chống oxy hóa của J. subtriplinerve được khảo sát bằng phương pháp bẫy gốc tự do DPPH.
Theo nghiên cứu của Dai Hue Ngan và cộng sự khả năng chống oxy hoá của các chất chiết xuất từ J. subtriplinerve được xác định ở 200 μg/mL và so sánh với hoạt tính chống oxy hóa của 44 μg/mL acid ascorbic. Chiết xuất có SC (khả năng bẫy gốc tự do) trên 50% được coi là có hoạt tính chống oxy hóa. Kết quả thu được cho thấy đa số các chiết xuất đều có hoạt tính kháng oxy hoá trừ petroleum ether, trong đó hoạt tính bẫy gốc tự do DPPH của cao ethyl acetate là mạnh nhất với SC% là 68.
Năm 2012, Nguyễn Thị Thanh Mai và các cộng sự đã sử dụng phương pháp bẫy gốc tự do DPPH và phương pháp ức chế gốc tự do NO để khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của các cao chiết từ thân và lá của cây Vằng sẻ (J. Các kết quả cho thấy cao chloroform, cao ethyl acetat, cao n-butanol đều thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa [6]. Tác dụng kháng khuẩn Năm 2008, Đái Huệ Ngân và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của năm dịch thử từ loài J. subtriplinerve bằng cách sử dụng Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa và Bacillus subtilis làm vi sinh vật đích.
Kết quả cho thấy chiết xuất ether dầu hỏa có tác dụng ức chế B. subtilis với nồng độ ức chế tối thiểu MIC = 100 μg/mL, các dịch chiết ethyl acetat và ethanol ức chế S. aureus với giá trị MIC = 200 μg/mL và chiết xuất methanol ức chế E. coli với giá trị MIC = 200 μg/mL.
Mặt khác, dịch chiết nước không có tác dụng ức chế bất kỳ chủng vi khuẩn nào ở nồng độ bằng hoặc thấp hơn 200 μg/mL. Tất cả các dịch chiết không cho thấy bất kỳ tác dụng ức chế nào đối với các nấm hoặc nấm men [27]. Tác dụng chống ung thư 3 Chiết xuất Chè vằng có từ ether dầu hỏa tác dụng gây độc tế bào in vitro trên cả hai dòng tế bào ung thư ở người là Hep-G2 và RD với giá trị IC50 lần lượt là 19,2 và 20,0 μg/mL [27]. Các jasnervosid A H phân lập từ thân cây J.
subtriplinerve) được đánh giá tác dụng gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào ung thư ở người (A-549, Bel- 7402 và HCT-8), nhưng khả năng ức chế không đáng kể [18]. Công dụng của Chè vằng trong y học cổ truyền Theo Y học cổ truyền, Chè vằng có vị hơi đắng, chát, tính ấm, quy kinh tâm và tỳ; có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt huyết điều kinh, tiêu viêm, trừ mủ. Chè vằng dùng tươi hoặc khô dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu nước tắm với lượng thích hợp, được sử dụng trị rối loạn kinh nguyệt, dùng cho phụ nữ sau sinh bị nhiễm khuẩn sốt cao. Ngoài ra, còn dùng trị phong thấp do huyết kém, đau nhức xương khớp và các bệnh ngoài da [1], [2].
Trong dân gian, lá vằng phơi khô được nấu hay pha nước uống cho phụ nữ sau sinh để kích thích tuyến sữa, điều trị viêm nhiễm, hoặc dùng lá nấu nước tắm trị ghẻ lở [10]. Cấu trúc - Công thức: C29H36O15 - Tên khác: Acteosid - Khối lượng phân tử: 624 - Cấu tạo: - Đặc điểm: + Chất rắn, màu vàng [13]. 4 + Tan ít trong nước lạnh, tan tốt trong nước và ethanol, không tan trong ether và chloroform [39]. + Năng suất quay cực: [α]26D = - 85,6o [39].
+ Nhiệt độ nóng chảy: 198-199oC [5]. Verbascosid có hoạt tính chống oxy hóa mạnh. Hợp chất này thuộc họ nhóm phenylethanoid glycosid và đã được phát hiện ở nhiều loại cây như: Lippia citriodora, Syringa vulgaris và Olea europaea L. Verbascosid tan trong dung môi nước và ethanol, khó tan trong dung môi ether và cloroform.
Các tạp chất có nhiều trong Chè vằng là chất màu, gôm, chất nhầy tan tốt trong dung môi hữu cơ ít phân cực. Do vậy, nên lựa chọn dung môi chiết xuất là ethanol hoặc nước,… kèm theo đó là phương pháp chiết xuất phù hợp với điều kiện với loại dung môi như siêu âm, ngâm, chiết hồi lưu… [8], [27]. Tác dụng sinh học Verbascosid đã được phát hiện có nhiều tác dụng sinh học khác nhau như: chống oxy hóa, chống viêm, chống độc gan, chống oxy hóa,… 1. Tác dụng chống oxy hóa Hoạt tính chống oxy hóa của verbascosid, được đánh giá qua nhiều nghiên cứu khác nhau, và được báo cáo qua bài đánh giá của Alipieva và cộng sự.
Qua đó thấy được khả năng nhận dọn gốc tự do superoxide anion (O2-), nitric oxide (NO), peroxynitrite (NO3-) và DPPH [14]. Trong nghiên cứu của Pierre Luhata, verbascosid thể hiện khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH tốt, với giá trị IC50 là 0,09 ± 0,03 μg/mL so với 0,05 ± 0,0 μg/mL đối với acid ascorbic làm đối chứng. Nó cũng có khả năng loại bỏ gốc H2O2 [28]. Tác dụng chống viêm Tác dụng chống viêm của verbascosid cũng đã được quan sát thấy ở chuột bị viêm xương khớp do giảm hoạt động của yếu tố hạt nhân-κB (NF-κB), là các yếu tố phiên mã cảm ứng điều chỉnh các gen liên quan đến tình trạng viêm.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy sự giảm sản sinh các yếu tố hoại tử khối u (TNF)-α và interleukin của phản ứng viêm (IL-1β, IL-6) [24]. Các tế bào đuôi gai được điều trị bằng verbascosid, người ta đã quan sát thấy sản xuất các cytokine tiền viêm thấp hơn, bao gồm interleukin (IL)-12 và TNF-α, và sản xuất nhiều cytokine IL-10 chống viêm [16]. Tác dụng chống ung thư Trong nghiên cứu của Wei-Qiang Jia đã chứng minh rằng verbascosid ức chế sự tăng sinh, di căn và xâm lấn của tế bào u nguyên bào thần kinh đệm (glioblastoma) đồng 5 thời thúc đẩy sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis) thông qua kích hoạt SHP-1 và ức chế quá trình phosphoryl hóa STAT3 [33]. Trong nghiên cứu của Hugo A.
Garro và cộng sự, đã chứng minh rằng verbascosid cũng có khả năng ức chế quá trình sao chép ADN, hoạt động ức chế tế bào ung thư [17]. Trên cơ sở số liệu thu được của Kostyuk và cộng sự cho rằng verbascosid có tác dụng ngăn ngừa hóa học do tia cực tím gây ra ung thư da không hắc tố [25]. Một số tác dụng khác Theo nghiên cứu của Quanbo Xiong và các cộng sự hoạt tính bảo vệ gan ức chế chất tạo gốc CCl4 và gốc caffeoyl trong phân tử verbascosid quan trọng đối với hoạt động bảo vệ gan [34]. Tác dụng bảo vệ thần kinh của verbascosid đã được nghiên cứu trên nhiều mô hình thí nghiệm.
Trong nghiên cứu của Guo-Qing, verbascosid làm giảm đáng kể sự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) do MPP + (1-methyl-4-phenylpyridinium) gây ra, tăng mức độ hydro peroxide ngoại bào, kích hoạt caspase-3. Kết quả này chỉ ra verbascosid giúp điều trị bệnh Parkinson [29]. Trong nghiên cứu gần dây của Yi Zhao và cộng sự, cung cấp bằng chứng verbascosid phát huy tác dụng chống trầm cảm thông qua các cơ chế tác dụng khác nhau. Verbascosid thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp dopamine (DA) bằng cách thúc đẩy hoạt động của tyrosine hydroxylase mARN và protein, thụ thể 5-hydroxytryptamine 1B (5- HT1B), hemeoxygenase-1 (HO-1), SQSTM1, protein liên quan đến quá trình tái tổ hợp 5 (ATG5) và Beclin-1, đồng thời làm giảm hoạt động của caspase-3 và α-synuclein, do đó có tác dụng chống trầm cảm [36].
Tổng quan về chiết xuất Khái niệm về chiết xuất: Chiết xuất là quá trình dùng dung môi thích hợp để hòa tan các chất khỏi phần không tan trong dược liệu. Sản phẩm của quá trình chiết xuất là một dung dịch của các chất hòa tan trong dung môi, được gọi là dịch chiết xuất [8]. Các phương pháp chiết xuất về verbascosid trong dược liệu Hiện nay, verbascosid được chiết xuất từ dược liệu từ nhiều phương pháp chiết khác nhau. Phương pháp ngâm: Đây là quy trình đơn giản và vẫn được sử dụng rộng rãi, liên quan đến việc để nhà máy nghiền thành bột ngâm trong dung môi thích hợp trong hộp kín ở nhiệt độ phòng.