Chương 1: DỊCH VỤ Y TẾ VÀ XÃ HỘI HÓA CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ Y TẾ 1. Tổng quan về DVYT và hoạt động DVYT 1. Tổng quan về DVYT 1. Khái niệm về dịch vụ và DVYT * Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.8] * Khái niệm về dịch vụ công Theo nghĩa rộng, dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.
Theo đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, tòa án. cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công được hiểu là những hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp theo nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng.3] *Khái niệm về dịch vụ y tế Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), DVYT bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán và điều trị bệnh, hay quảng bá, giữ gìn và phục hồi sức khỏe. DVYT bao gồm DVYT cá nhân và y tế công cộng.3] DVYT là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ 1.
Đặc điểm của DVYT DVYT là một trong những dịch vụ công do Nhà nước cùng các chủ thể khác cung cấp cho những người dân có yêu cầu. Vì vậy, DVYT cũng có những đặc điểm giống với đặc điểm của dịch vụ công: Thứ nhất, DVYT mang tính xã hội. Mục tiêu chính của cung cấp DVYT là phục vụ lợi ích của cộng đồng, đáp ứng yêu cầu của mọi công dân, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, địa vị xã hội, từ đó đảm bảo công bằng và ổn định xã hội. Tất cả mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận dịch vụ công, vì vậy, mục tiêu lợi nhuận không có tính chi phối quyết định đối với hoạt động của dịch vụ công.
Thứ hai, việc trao đổi DVYT không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường người sử dụng DVYT không trả trực tiếp toàn bộ tiền để sử dụng dịch vụ, mà bản chất là đã trả một phần tiền qua hoạt động đóng thuế vào NSNN. Tuy nhiên, người sử dụng DVYT vẫn phải trả một phần viện phí hoặc chi phí sử dụng DVYT, nhưng Nhà nước vẫn phải có trách nhiệm đảm bảo cung ứng DVYT không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, dưới góc độ kinh tế học, DVYT cung cấp hàng hóa công cộng Đây là một loại hàng hóa đặc biệt, không chỉ mang lợi ích cho những người mua nó, mà cả những người không trả tiền cho loại hàng hóa này. Vì vậy, Chính phủ có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc đảm bảo cung ứng DVYT.5, 6, 7] Bên cạnh đó, DVYT vẫn có những đặc điểm riêng khác với các loại dịch vụ công khác 8 Luan van Thứ nhất, DVYT mang tính “không lường trước được” Nhiều trường hợp việc sử dụng DVYT là đột ngột và ngẫu nhiên, vì người sử dụng không thể biết trước khi nào mình bị bệnh và bị bệnh gì.
Chính vì vậy, khó khăn trong chi trả chi phí về DVYT cũng không lường trước được. Song song với đó, phía cung cấp dịch vụ cũng phải đối mặt với tính “không lường trước được”. Đối với từng bệnh nhân, triệu chứng bệnh và thể chất của mỗi người là khác nhau, nên phác đồ điều trị bệnh cũng là khác nhau. Có nhiều trường hợp còn xuất hiện những ca bệnh mới chưa có hướng giải quyết.
Thứ hai, DVYT mang tính “thông tin bất cân đối” Nếu như trong quan hệ cung cầu thông thường, cầu quyết định cung, thì trong DVYT ngược lại. Người sử dụng dịch vụ có thể quyết định việc mình sử dụng DVYT, nhưng họ hiểu biết rất ít về bệnh tật và cách thức điều trị bệnh của mình, trong khi mức độ hiểu biết của người cung cấp dịch vụ là rất cao. Người bệnh không thể tự chẩn đoán và lựa chọn phương pháp và thời gian điều trị bệnh, mà đó là do bác sĩ quyết định. Điều này gây nên tình trạng mất cân xứng giữa người cung ứng và sử dụng dịch vụ, từ đó dẫn đến đa phần cầu do cung quyết định.
Có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế. Thứ ba, DVYT mang tính ngoại biên Tính ngoại biên có cả hiệu ứng tích cực và tiêu cực. Khi một người sử dụng DVYT, nhiều người xung quanh sẽ được hưởng lợi. Ví dụ, khi một người bị bệnh cúm, không chỉ mình họ mắc bệnh mà họ còn có khả năng truyền bệnh cho những người thân, bạn bè, hàng xóm.
Khi họ điều trị khỏi bệnh, thì không chỉ có bản thân họ mà những người xung quanh họ cũng sẽ được hưởng lợi ích đó, vì khả năng mắc bệnh của những người lành sẽ giảm đi. 9 Luan van Thứ tư, DVYT đôi khi không bình đẳng trong mối quan hệ DVYT là loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người, nên khi bị bệnh, mặc dù không có tiền, vẫn phải mua. Trong nhiều trường hợp ảnh hưởng đến tính mạng, đặc biệt là trong tình trạng cấp cứu, bệnh nhân không thể được lựa chọn, mà bắt buộc phải sử dụng dịch vụ bằng mọi giá. Thứ năm, DVYT là một ngành dịch vụ có điều kiện Bên cung cấp DVYT có thể là một tổ chức và cá nhân.
Muốn cung cấp DVYT phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Nhà nước và cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất nhất định. Phân loại DVYT * Phân loại theo tiêu thức của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) - Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự phòng, chẩn đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không chăm sóc tại bệnh viện - Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế cung cấp: như giám sát trong thai kỳ và sinh con, chăm sóc (không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia - Các dịch vụ bệnh viện: các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của bác sỹ chủ yếu đốivới các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi và duy trì tình trạng sức khỏe. - Các DVYT con người khác: như các dịch vụ ngoại trú, DVYT kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện * Phân loại theo đối tượng phục vụ: DVYT được chia thành 3 loại: - DVYT công cộng (public good): là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung cứng trực tiếp dịch vụ khám chữa bệnh cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế 10 Luan van - DVYT cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (merit good): dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với cách mạng - DVYT cá nhân (private good) là các DVYT chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ * Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuạn trong khám chữa bệnh Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh là những DVYT mà các cơ sở y tế đăng ký với Nhà nước được cung cấp tại đơn vị mình. Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh được sắp xếp theo chuyên khoa, chuyên ngành như: dịch vụ khoa ngoại, chấn thương, nội, sản, nhi,.
Phân tuyến kỹ thuật là những quy định của cơ quan Nhà nước trong phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến từ xã, huyện, tỉnh đến Trung ương Trong tiêu thức này, DVYT được chia thành 4 loại: - Hoạt động y tế dự phòng (Bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm) - Hoạt động khám chữa bệnh, phục hồi chức năng - Hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền - Hoạt động sản xuất, kiểm nghiệm và phân phối thuốc [14, tr. Tổng quan về hoạt động DVYT 1. Y tế Nhà nước Y tế Nhà nước là một dịch vụ công lập cơ bản thiết yếu mà bất cứ một Nhà nước nào cũng cần có, để đảm bao cung ứng dịch vụ CSSK cho người dân. Y tế Nhà nước bao gồm các cơ sở y tế do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp giấy phép và do Nhà nước quản lý.
11 Luan van DVYT Nhà nước ở Việt Nam đã có những bước phát triển và dần cởi mở hơn với xu thế thị trường. Hiện nay ở Việt Nam, DVYT Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo: Nhà nước nắm trong tay nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là y tế cơ sở tuyến huyện, tuyến xã và thôn bản.; Lấy nguồn NSNN làm nguồn tài chính chủ yếu cho y tế để chủ động điều chỉnh chính sách, thực hiện công bằng xã hội trong CSSK và giải quyết những việc bức bách, cấp thiết của các dịch cụ hoặc những hậu quả do thiên tai, thảm họa gây ra,. Nhiệm vụ của y tế Nhà nước là đảm bảo 3 mục tiêu lớn: tăng cường sức khỏe nhân dân, thực hiện công bằng xã hội trong CSSK và tăng cường hiệu quả và chất lượng trong CSSK 1. Y tế tư nhân Bên cạnh y tế Nhà nước chiếm vai trò chủ đạo, y tế tư nhân cũng chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống DVYT ở Việt Nam hiện nay.
Y tế tư nhân bao gồm tất cả các nhà các nhà cung cấp DVYT nằm ngoài hệ thống y tế Nhà nước, bất kể hoạt động vì mục đích kinh tế hay xã hội, điều trị bệnh hay phòng bệnh. Trong Pháp lệnh về Hành nghề y, dược tư nhân năm 2003 quy định, các hình thức tổ chức hành nghề y tư nhân bao gồm: bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa; phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa; nhà hộ sinh; cơ sở DVYT; cơ sở dịch vụ chuyển người bệnh ra nước ngoài. Trước thời kỳ Đổi mới, y tế tư nhân đã tồn tại dưới hình thức hành nghề y học cổ truyền, bà đỡ, thầy lang,. nhưng còn nhỏ lẻ, phân tán, và không được khuyến khích.