Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Vật liệu Điện tử (mã số 9 44 01 23) của nghiên cứu sinh Phạm Văn Hảo, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS. Đặng Văn Thành và TS. Phan Ngọc Hồng, mang tên: “Nghiên cứu chế tạo vật liệu graphene bằng phương pháp điện hóa định hướng ứng dụng làm vật liệu hấp phụ trong xử lý môi trường” (Hà Nội, 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vật liệu graphene sở hữu cấu trúc mạng carbon hai chiều (2D) lai hóa $sp^2$ với diện tích bề mặt riêng lý thuyết lớn ($2630\text{ m}^2/\text{g}$), độ bền cơ học cao và khả năng dẫn điện, dẫn nhiệt tốt. Việc ứng dụng graphene trong xử lý môi trường (hấp phụ phẩm nhuộm hữu cơ và kim loại nặng) đòi hỏi vật liệu phải có số lượng nhóm chức chứa oxy thích hợp nhằm tăng khả năng phân tán trong nước và tạo ái lực tương tác tĩnh điện với chất ô nhiễm.

Tuy nhiên, các phương pháp chế tạo truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế:

  • Phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học (CVD) và epitaxy trên đế SiC đòi hỏi thiết bị phức tạp, chi phí cao, điều kiện chân không/nhiệt độ khắt khe và sản lượng thấp.
  • Phương pháp hóa học Hummers sử dụng các chất oxy hóa mạnh ($\text{H}_2\text{SO}_4$ đậm đặc, $\text{KMnO}_4$, $\text{H}_2\text{O}_2$, $\text{HNO}_3$), quy trình phản ứng kéo dài, đòi hỏi nhiều bước xử lý và phát sinh lượng lớn chất thải thứ cấp độc hại.
  • Các nghiên cứu bóc tách điện hóa trước đây chủ yếu giới hạn ở quy mô phòng thí nghiệm nhỏ, chưa hoàn thiện thiết kế hệ điện hóa có khả năng mở rộng sản lượng và tự động hóa.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết là: Thiết lập quy trình công nghệ và hệ thiết bị điện hóa một bước ở điều kiện thường, sử dụng dung dịch chất điện ly trung hòa, thân thiện với môi trường, cho phép chế tạo vật liệu graphene đa lớp giàu nhóm chức chứa oxy ở quy mô gam/giờ, đồng thời thử nghiệm ứng dụng làm vật liệu hấp phụ xử lý phẩm nhuộm methylene xanh (MB) và ion kim loại nặng As(III) trong môi trường nước.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu phát triển kỹ thuật điện hóa hòa tan điện cực dương truyền thống để chế tạo một bước ra vật liệu graphene đa lớp; xây dựng hệ điện hóa có khả năng triển khai tự động hóa, thân thiện với môi trường; định hướng ứng dụng vật liệu tạo ra làm chất hấp phụ xử lý phẩm nhuộm MB và As(III) trong môi trường nước.

Để thực hiện mục tiêu tổng quát, 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  1. Chế tạo một bước vật liệu graphene đa lớp giàu nhóm chức oxy trên bề mặt từ thanh graphite với quy mô gam.
  2. Khảo sát hình thái học và cấu trúc của vật liệu thu được.
  3. Giải thích cơ chế tạo ra vật liệu và thiết lập quy trình tối ưu để chế tạo mẫu, phù hợp với nhu cầu vật liệu làm chất hấp phụ xanh methylene và As(III) trong nước.
  4. Tiến hành các thí nghiệm hấp phụ theo mẻ để thử nghiệm khả năng hấp phụ của các vật liệu graphene chế tạo được và nghiên cứu cơ chế hấp phụ xanh methylene và As(III) trong nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vật liệu graphene chế tạo bằng phương pháp điện hóa (các mẫu GSs, A-GSs, C-GSs, MGSs, O-MGSs); phẩm nhuộm cation xanh methylene (Methylene Blue - MB) và ion As(III) trong nước.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực nghiệm quá trình chế tạo điện hóa và đánh giá khả năng xử lý nước ô nhiễm nhân tạo chứa MB và As(III) ở quy mô phòng thí nghiệm tại Viện Khoa học vật liệu và Trung tâm Phát triển công nghệ cao (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển và các phương pháp chế tạo graphene:

  • Bóc tách cơ học: Andre Geim và Konstantin Novoselov (2004) dùng băng dính tách graphite thành graphene đơn lớp, mở ra hướng nghiên cứu mới và được trao giải Nobel Vật lý năm 2010.
  • Phương pháp hóa học: B. C. Brodie (1859), William S. Hummers và Richard E. Offeman (1958) phát triển quy trình oxy hóa graphite thành graphite oxit rồi bóc tách thành graphene oxit (GO) và khử thành rGO; Boehm và cộng sự (1962) chế tạo tấm than chì siêu mỏng bằng cách khử graphite oxit.
  • Phương pháp từ dưới lên (Bottom-up): Lắng đọng pha hơi hóa học (CVD) trên đế xúc tác Cu, Ni; phương pháp epitaxy trên đế SiC ở nhiệt độ cao ($1200 - 1600^\circ\text{C}$).
  • Bóc tách pha lỏng (LPE): Sử dụng lực cắt cơ học từ máy khuấy, máy xay, hoặc sóng siêu âm trong dung môi hữu cơ.
  • Phương pháp bóc tách điện hóa:
    • Điện hóa anôt: Su và cộng sự nghiên cứu bóc tách trong $\text{H}_2\text{SO}_4 + \text{KOH}$; Parvez/Pavez và cộng sự (2013) khảo sát ảnh hưởng của nồng độ $\text{H}_2\text{SO}_4$ và vai trò của nước trong việc tạo gốc hydroxyl; Parveen và cộng sự (2019) sử dụng hỗn hợp $\text{NaOH} + \text{Na}_2\text{S}_2\text{O}_3 + \text{NaClO}_4$; Srivastava và cộng sự khảo sát thế điện cực từ $2 - 10\text{ V}$; Tripathi và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ ($80^\circ\text{C}$).
    • Điện hóa catôt: Bóc tách nhờ sự xen kẽ của phức ion $\text{Li}^+$ ở thế cao; Đặng Văn Thành và cộng sự phát triển kỹ thuật điện ly plasma dung dịch ở thế $-60\text{ V}$ trong môi trường $\text{KOH} + (\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$.
    • Điện hóa nguồn xoay chiều (AC): Feng và cộng sự sử dụng dung dịch $\text{TBA-HSO}_4$ bóc tách đồng thời trên cả hai điện cực.
  • Nghiên cứu ứng dụng graphene tại Việt Nam:
    • Phan Ngọc Minh, Nguyễn Văn Chúc và cs (Viện Khoa học vật liệu): Chế tạo màng lai DWCNTs-Gr bằng CVD làm điện cực cảm biến phát hiện As(V) qua enzym (giới hạn phát hiện $0,287\text{ ppb}$).
    • Nguyễn Năng Định và cs (ĐHQGHN): Chế tạo màng tổ hợp graphene-bạc bằng phương pháp Hummers kết hợp vi sóng ứng dụng cảm biến khí $\text{NH}_3$.
    • Nguyễn Văn Nội và cs (ĐHQGHN): Tổng hợp nanocomposite $\text{ZnO/GO}$ thủy nhiệt làm chất quang xúc tác phân hủy methyl da cam dưới tia UV ($>95%$ sau 2 giờ).
    • Vũ Văn Cát: Tổng hợp $\text{Ag/GO}$ thủy nhiệt cho cảm biến khí $\text{SO}_2$ và cảm biến quang SERS phát hiện tricyclazole.
    • Phạm Thị Lan Hương: Chế tạo nanocomposite $\text{Fe}_3\text{O}_4\text{@C}$, $\text{GO-Fe}_3\text{O}_4$, $\text{GO-MnFe}_2\text{O}_4$ hấp phụ MB ($177,3\text{ mg/g}$) và As(V) ($240,4\text{ mg/g}$).
    • Mai Thanh Phong và cs: Tổng hợp $\text{Fe}_3\text{O}_4\text{/GO}$ đồng kết tủa hấp phụ $\text{Cd}^{2+}$ ($52,083\text{ mg/g}$ tại $\text{pH}=8$).
    • Lã Đức Dương và cs: Chế tạo $\text{graphene@Fe-Mg-Cu}$ thủy nhiệt hấp phụ $\text{Pb(II)}$ ($251,26\text{ mg/g}$ tại $\text{pH}=7$).
    • Lê Anh Tuấn và cs (Đại học Phenikaa): Nghiên cứu hệ nanocomposite $\text{MFe}_2\text{O}_4\text{@graphene}$ và $\text{Fe}_3\text{O}_4\text{/graphene}$ hấp phụ MB và As(V).
    • Nguyễn Thị Thu Thủy (ĐH Công nghiệp Hà Nội): Nghiên cứu vật liệu màng lọc hấp phụ $\text{PVDF/GO/chitosan}$ xử lý kim loại nặng.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Trong khi đa số nghiên cứu hấp phụ trong nước đi từ tiền chất GO qua phương pháp Hummers dùng axit đặc và chất oxy hóa mạnh, luận án chọn hướng đi bóc tách điện hóa anôt một bước với muối trung hòa $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$. Kỹ thuật này trực tiếp tạo ra graphene đa lớp có nhóm chức chứa oxy liên kết trên mạng carbon, đạt sản lượng cao ở điều kiện phòng, không phát sinh hóa chất thứ cấp độc hại và phù hợp cho hấp phụ ion trong nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Cấu trúc tinh thể carbon: Graphite gồm các lớp mạng lục giác liên kết Van der Waals yếu (khoảng cách lớp $0,334\text{ nm}$, liên kết trong lớp dài $0,142\text{ nm}$). Graphene đơn lớp là mạng lục giác phẳng chứa liên kết $\sigma$ bền vững giữa các carbon lai hóa $sp^2$ và liên kết $\pi$ định vị ngoài mặt phẳng.
  2. Cơ chế bóc tách điện hóa anôt: Dưới tác dụng của điện trường DC, các anion $(\text{SO}_4^{2-}, \text{NO}_3^-, \text{OH}^-)$ dịch chuyển về anôt graphite, chèn vào các khe giữa các lớp tinh thể làm trương nở mạng lưới; phản ứng oxy hóa nước đồng thời sinh ra các bóng khí ($\text{O}_2, \text{SO}_2, \text{CO}_2$) tạo áp suất cục bộ phá vỡ lực Van der Waals, tách các lớp than chì thành các phiến graphene phân tán vào dung dịch.
  3. Cơ chế hấp phụ: Tương tác tĩnh điện giữa bề mặt graphene tích điện âm (khi $\text{pH} > \text{pH}_{\text{pzc}}$) với cation thuốc nhuộm mang điện dương $\text{MB}^+$ hoặc phức ion kim loại $\text{As(III)}$; tương tác xếp chồng $\pi-\pi$ giữa các vòng thơm; tạo liên kết hydro giữa nhóm chức bề mặt ($-\text{OH}, -\text{COOH}, \text{C}=\text{O}$) với phân tử chất hấp phụ.

Phương pháp thực nghiệm

Luận án sử dụng phương pháp thực nghiệm vật lý - hóa học:

  • Chế tạo vật liệu: Hệ điện phân 2 điện cực quy mô phòng thí nghiệm và hệ mở rộng nhiều điện cực (10 cặp điện cực hoặc hệ 10 anôt - 1 catôt). Nguồn điện DC cung cấp điện áp phân cực từ $5\text{ V}$ đến $20\text{ V}$.
  • Phân tích đặc trưng cấu trúc và hình thái:
    • Kính hiển vi điện tử quét (SEM) và kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM): Đánh giá hình thái bề mặt, kích thước phiến và độ mỏng.
    • Kính hiển vi lực nguyên tử (AFM): Xác định độ dày và số lớp graphene.
    • Phổ tán xạ Raman: Phân tích cường độ các đỉnh đặc trưng D ($~1350\text{ cm}^{-1}$), G ($~1580\text{ cm}^{-1}$), 2D ($~2700\text{ cm}^{-1}$) và tính toán tỷ số $I_D/I_G$ phản ánh mật độ khuyết tật.
    • Nhiễu xạ tia X (XRD): Xác định cấu trúc tinh thể và khoảng cách giữa các lớp mạng.
    • Phổ quang điện tử tia X (XPS): Phân tích trạng thái hóa học của C 1s ($\text{C}-\text{C}/\text{C}=\text{C}, \text{C}-\text{O}, \text{C}=\text{O}, \text{O}-\text{C}=\text{O}$) và O 1s, xác định tỷ lệ C/O.
  • Thử nghiệm hấp phụ và xử lý số liệu:
    • Quy trình hấp phụ theo mẻ (Batch study), đo độ hấp thụ quang trên phổ tử ngoại khả kiến (UV-Vis) tại bước sóng $663\text{ nm}$ để xác định nồng độ MB còn lại; đo nồng độ As(III).
    • Phương pháp xác định điểm đẳng điện ($\text{pH}_{\text{pzc}}$).
    • Mô hình đẳng nhiệt hấp phụ: Langmuir và Freundlich.
    • Mô hình động học hấp phụ: Phương trình động học biểu kiến bậc 1 (Lagergren) và biểu kiến bậc 2 (Ho & McKay).
    • Đánh giá khả năng tái sinh vật liệu qua các chu kỳ giải hấp bằng aceton (đối với MB) và dung dịch NaOH (đối với As(III)).

Nguồn hóa chất và thiết bị

STT Tên hóa chất / Thiết bị Thông số / Nhà sản xuất
1 Thanh graphite độ tinh khiết cao (HG) Sigma-Aldrich (CAS 7782-42-5, độ sạch 99,999%)
2 $\text{KOH}$, $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$, $\text{NH}_4\text{NO}_3$ Sigma-Aldrich (Đức), Showa (Nhật Bản)
3 Xanh methylene (MB) Merck (CAS 61-73-4, C.I. 52015, Đức)
4 Dung dịch chuẩn As(III) ($1\text{ g/L}$) Sigma-Aldrich (Đức)
5 Nguồn điện một chiều GR-15H30 (0-150V, 0-3A), 6274B (0-60V, 0-15A), TES 6220
6 Cân điện tử, Máy đo pH/ORP Mettler Toledo NewClassic, máy đo để bàn
7 Máy ly tâm, Máy lọc chân không Eppendorf 5430/5430R, Aspirator A-1000S EYELA, màng PVDF 0.2 µm

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về cấu trúc, tính chất của graphite và graphene, phân loại các phương pháp tổng hợp theo hai hướng:

  1. Hướng từ dưới lên (Bottom-up): CVD, epitaxy SiC.
  2. Hướng từ trên xuống (Top-down): Bóc tách cơ học, bóc tách pha lỏng (LPE), phương pháp hóa học Hummers, và bóc tách điện hóa.

Chương này phân tích sâu các kỹ thuật điện hóa gồm: điện hóa anôt, điện hóa catôt (điện ly plasma), điện hóa xoay chiều; các yếu tố ảnh hưởng (loại điện cực, chất điện ly trung hòa và axit, điện áp, thời gian và nhiệt độ phản ứng); cơ chế chức năng hóa bề mặt bằng nhóm chứa oxy. Đồng thời, chương 1 điểm luận các ứng dụng của graphene trong xử lý môi trường (màng lọc nano, vật liệu nền quang xúc tác phân hủy chất hữu cơ, vật liệu hấp phụ phẩm nhuộm và kim loại nặng) cùng tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Chương 2. Các phương pháp thực nghiệm

Chương 2 trình bày chi tiết:

  • Danh mục hóa chất, nguồn gốc và hệ thống thiết bị đo đạc.
  • Quy trình bóc tách điện hóa anôt sử dụng thanh graphite HG làm anôt trong các dung dịch điện ly: $\text{KOH}$, $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$, $\text{NH}_4\text{NO}_3$, hỗn hợp $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4 + \text{KOH}$.
  • Quy trình điện ly plasma catôt ở hiệu điện thế cao.
  • Nguyên lý và thông số vận hành của các phép đo phân tích đặc trưng: Raman, XRD, XPS, SEM, TEM, AFM.
  • Quy trình xác định điểm đẳng điện $\text{pH}_{\text{pzc}}$ của vật liệu.
  • Thiết lập thí nghiệm hấp phụ MB và As(III) theo mẻ, các công thức toán học tính dung lượng hấp phụ cân bằng $q_e$, hiệu suất loại bỏ $H%$, phương trình đẳng nhiệt Langmuir, Freundlich, phương trình động học biểu kiến bậc 1 và bậc 2, cùng quy trình giải hấp tái sinh vật liệu.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu chế tạo vật liệu graphene bằng phương pháp điện hóa

Chương 3 tập trung vào các kết quả thực nghiệm chế tạo và khảo sát cấu trúc:

  • Khảo sát chất điện ly: Dung dịch $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$ cho hiệu quả bóc tách tốt nhất so với $\text{KOH}$ và $\text{NH}_4\text{NO}_3$. Khảo sát nồng độ $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$ từ $2,5%$ đến $10%$ cho thấy nồng độ tăng làm tăng khối lượng sản phẩm đến một giới hạn ổn định.
  • Khảo sát thế điện cực: Điện áp khảo sát từ $5\text{ V}$ đến $20\text{ V}$. Ở mức điện áp thích hợp ($10\text{ V} - 15\text{ V}$), tốc độ bóc tách diễn ra nhanh, tạo các phiến graphene ít lớp; ở mức điện áp quá cao ($20\text{ V}$), quá trình oxy hóa mạnh làm tăng mật độ sai hỏng mạng lưới.
  • Đặc trưng vật liệu GSs: Ảnh SEM và TEM cho thấy các phiến graphene mỏng, có nếp gấp đặc trưng; AFM xác định độ dày tấm nằm trong khoảng $3,5\text{ nm} - 4\text{ nm}$ (tương ứng graphene đa lớp); phổ Raman xuất hiện đỉnh D và đỉnh G rõ nét; phổ XPS C 1s và O 1s khẳng định sự tồn tại của các liên kết oxy hóa ($\text{C}-\text{O}, \text{C}=\text{O}, \text{O}-\text{C}=\text{O}$).
  • So sánh A-GSs (anôt) và C-GSs (catôt - plasma): Vật liệu C-GSs có hàm lượng oxy thấp, ít khuyết tật ($I_D/I_G$ thấp), trong khi A-GSs có hàm lượng nhóm chức oxy cao hơn đáng kể.
  • Mở rộng quy mô chế tạo:
    • Luận án thiết kế hệ điện phân 10 cặp điện cực graphite (MGSs) và hệ 10 anôt kết hợp 1 catôt (O-MGSs).
    • Hệ thống cho phép bóc tách liên tục, đạt sản lượng $10\text{ g}$ vật liệu graphene sau mỗi chu trình phản ứng $60\text{ phút}$ (năng suất ở quy mô gam/giờ).
    • Mẫu O-MGSs duy trì độ mỏng ($3,5 - 4\text{ nm}$), giàu nhóm chức chứa oxy đồng đều trên diện tích bề mặt.

Chương 4. Thử nghiệm khả năng hấp phụ của vật liệu graphene chế tạo bằng phương pháp điện hóa

Chương 4 kiểm tra hoạt tính hấp phụ xử lý chất ô nhiễm trong nước:

  • Điểm đẳng điện: Xác định giá trị $\text{pH}_{\text{pzc}}$ của GSs và O-MGSs, làm cơ sở giải thích cơ chế tích điện bề mặt theo pH môi trường.
  • Hấp phụ phẩm nhuộm Methylene Blue (MB):
    • Hiệu suất hấp phụ MB đạt mức cao khi $\text{pH} > \text{pH}_{\text{pzc}}$ do lực hút tĩnh điện giữa bề mặt tích điện âm và cation $\text{MB}^+$.
    • Quá trình hấp phụ đạt cân bằng nhanh theo thời gian tiếp xúc.
    • Số liệu thực nghiệm tuân theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir và mô hình động học biểu kiến bậc 2 (pseudo-second-order). Dung lượng hấp phụ cực đại $q_{max}$ đối với MB trên vật liệu đạt $476,19\text{ mg/g}$.
  • Hấp phụ As(III):
    • Khảo sát ảnh hưởng của pH dung dịch, thời gian tiếp xúc và nồng độ As(III) ban đầu.
    • Quá trình hấp phụ As(III) trên O-MGSs phù hợp với mô hình động học biểu kiến bậc 2 và đẳng nhiệt Langmuir. Dung lượng hấp phụ cực đại $q_{max}$ đối với As(III) đạt $93,45\text{ mg/g}$.
  • Khả năng tái sử dụng:
    • Giải hấp MB bằng dung môi aceton và giải hấp As(III) bằng dung dịch NaOH.
    • Vật liệu O-MGSs duy trì hiệu suất hấp phụ sau nhiều chu kỳ giải hấp - tái sinh liên tiếp.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Về khoa học:
    • Làm chủ và làm sáng tỏ cơ chế bóc tách điện hóa một bước chuyển hóa thanh than chì (graphite) thành vật liệu graphene đa lớp trong dung dịch muối trung hòa $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$.
    • Chứng minh được khả năng kiểm soát hàm lượng nhóm chức chứa oxy ($\text{C}-\text{OH}, \text{C}-\text{O}, \text{C}=\text{O}$) gắn trực tiếp lên mạng lưới carbon của graphene thông qua việc điều khiển các thông số điện áp và bản chất dung dịch điện ly ở điều kiện phòng.
  2. Về thực tiễn và công nghệ:
    • Thiết kế và chế tạo thành công hệ thiết bị điện hóa đa điện cực (hệ 10 cặp điện cực và hệ 10 anôt - 1 catôt), nâng cao năng suất chế tạo graphene đạt quy mô $10\text{ g/chu kỳ 60 phút}$ ($10\text{ g/h}$) mà không cần dùng các chất oxy hóa mạnh độc hại.
    • Ứng dụng thành công vật liệu graphene bóc tách điện hóa (O-MGSs) làm chất hấp phụ xử lý chất ô nhiễm trong môi trường nước, đạt dung lượng hấp phụ cực đại $476,19\text{ mg/g}$ đối với phẩm nhuộm cation xanh methylene (MB) và $93,45\text{ mg/g}$ đối với ion $\text{As(III)}$.

Tóm tắt các thông số thực nghiệm quan trọng

Đối tượng / Thông số Kết quả thực nghiệm trong luận án
Kỹ thuật chế tạo tối ưu Bóc tách điện hóa anôt một bước, nguồn DC
Chất điện ly tối ưu Dung dịch muối trung hòa $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$
Độ dày tấm graphene $3,5\text{ nm} - 4\text{ nm}$ (graphene đa lớp)
Nhóm chức bề mặt Giàu nhóm chứa oxy ($\text{C}-\text{OH}, \text{C}-\text{O}, \text{C}=\text{O}$)
Năng suất hệ mở rộng (MGSs/O-MGSs) $10\text{ g}$ sản phẩm / $60\text{ phút}$ phản ứng
Dung lượng hấp phụ cực đại MB ($q_{max}$) $476,19\text{ mg/g}$ (Mô hình Langmuir, động học bậc 2)
Dung lượng hấp phụ cực đại As(III) ($q_{max}$) $93,45\text{ mg/g}$ (Mô hình Langmuir, động học bậc 2)
Tác nhân giải hấp tái sinh Aceton (đối với MB), dung dịch $\text{NaOH}$ (đối với As(III))

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Các thử nghiệm hấp phụ MB và As(III) mới thực hiện trên dung dịch nước pha nhân tạo đơn thành phần trong phòng thí nghiệm, chưa đánh giá ảnh hưởng cạnh tranh hấp phụ trong nền nước thải thực tế phức tạp chứa nhiều ion kim loại và hợp chất hữu cơ đồng thời.
  • Quá trình thu hồi, rửa và lọc vắt vật liệu graphene sau bóc tách điện hóa vẫn sử dụng các thao tác lọc chân không và ly tâm gián đoạn theo từng mẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng thử nghiệm xử lý hấp phụ trên các nguồn mẫu nước thải công nghiệp dệt nhuộm và nước ngầm nhiễm asen thực tế.
  • Hoàn thiện dây chuyền tự động hóa khép kín từ khâu điện phân bóc tách, rửa lọc liên tục đến sấy khô sản phẩm ở quy mô pilot.
  • Nghiên cứu chế tạo các vật liệu tổ hợp (composite) lai ghép giữa graphene điện hóa giàu nhóm oxy với các hạt nano oxit kim loại từ tính để thuận tiện thu hồi bằng từ trường sau xử lý nước.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học vật liệu, Vật liệu điện tử, Kỹ thuật hóa học và Công nghệ môi trường: Tham khảo quy trình thực nghiệm bóc tách điện hóa, phương pháp phân tích phổ Raman, XPS, XRD, kính hiển vi điện tử SEM, TEM, AFM và kỹ thuật xử lý số liệu mô hình động học/đẳng nhiệt hấp phụ.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Tham khảo thông số thiết kế hệ điện phân mở rộng nhiều điện cực và cơ chế hóa lý của quá trình bóc tách graphite bằng dòng điện.
  • Kỹ sư và nhà phát triển công nghệ xử lý môi trường: Ứng dụng quy trình chế tạo chất hấp phụ gốc carbon thân thiện môi trường quy mô lớn, chi phí thấp nhằm xử lý phẩm nhuộm và asen trong nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng kỹ thuật điện hóa nào làm trọng tâm và tại sao kỹ thuật đó lại phù hợp cho xử lý môi trường?

Luận án tập trung vào kỹ thuật bóc tách điện hóa anôt (graphene tạo ra ở cực dương) trong dung dịch muối trung hòa $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$. Kỹ thuật này phù hợp vì quy trình một bước thực hiện ở điều kiện thường, không dùng axit đặc hay chất oxy hóa mạnh, và trực tiếp tạo ra graphene đa lớp giàu các nhóm chức chứa oxy ($\text{C}-\text{OH}, \text{C}-\text{O}, \text{C}=\text{O}$) trên bề mặt, giúp vật liệu phân tán tốt trong nước và tăng ái lực hút tĩnh điện với các chất ô nhiễm tích điện dương.

2. Vật liệu graphene chế tạo bằng hệ đa điện cực mở rộng đạt độ dày và sản lượng bao nhiêu?

Hệ điện hóa mở rộng (gồm hệ 10 cặp điện cực MGSs và hệ 10 anôt - 1 catôt O-MGSs) đạt sản lượng $10\text{ g}$ vật liệu graphene sau mỗi chu trình điện phân $60\text{ phút}$ (tương đương $10\text{ g/h}$). Vật liệu thu được có độ dày đo bằng AFM khoảng $3,5\text{ nm} - 4\text{ nm}$, thuộc dạng graphene đa lớp.

3. Dung lượng hấp phụ cực đại của vật liệu đối với MB và As(III) là bao nhiêu, tuân theo mô hình nào?

Dung lượng hấp phụ cực đại tính theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir đạt $476,19\text{ mg/g}$ đối với xanh methylene (MB) và $93,45\text{ mg/g}$ đối với $\text{As(III)}$. Quá trình hấp phụ của cả hai chất đều tuân theo mô hình động học biểu kiến bậc 2 (pseudo-second-order).

4. Quy trình tái sinh và giải hấp vật liệu graphene sau khi hấp phụ được thực hiện như thế nào?

Vật liệu sau khi hấp phụ MB được giải hấp bằng dung môi hữu cơ aceton; đối với $\text{As(III)}$, vật liệu được giải hấp bằng dung dịch $\text{NaOH}$. Sau giải hấp, vật liệu graphene O-MGSs có thể tái sử dụng qua nhiều chu kỳ mà vẫn duy trì hiệu suất hấp phụ.


Kết luận

Luận án của NCS Phạm Văn Hảo đã phát triển thành công quy trình công nghệ chế tạo vật liệu graphene đa lớp giàu nhóm chức chứa oxy bằng phương pháp bóc tách điện hóa anôt một bước trong dung dịch muối trung hòa $(\text{NH}_4)_2\text{SO}_4$. Tác giả đã thiết kế hệ thống điện hóa mở rộng quy mô đạt sản lượng $10\text{ g/h}$, khắc phục các nhược điểm độc hại và phức tạp của phương pháp Hummers truyền thống. Kết quả thử nghiệm khẳng định vật liệu graphene chế tạo được có dung lượng hấp phụ cao đối với phẩm nhuộm xanh methylene ($476,19\text{ mg/g}$) và asen ($93,45\text{ mg/g}$), chứng minh tính khả thi trong định hướng ứng dụng làm vật liệu hấp phụ xử lý môi trường nước.