Giáo trình lý thuyết thuốc nhuộm: Các nguyên tắc tổng hợp và lực liên kết với vật liệu

Khám phá nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm và lý thuyết màu sắc. Tài liệu cung cấp kiến thức chuyên sâu về các quy luật, ứng dụng thực tế trong nhuộm.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vật liệu

Tác giả

Nguyễn Văn A

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm và lực liên kết

Thuốc nhuộm là hợp chất hữu cơ chứa nhóm tạo màu chromophore và nhóm hỗ trợ auxochrome. Nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm dựa trên thiết kế phân tử phù hợp để tương tác với vật liệu nhuộm. Quá trình thuốc nhuộm bám trên vật liệu không đơn thuần chỉ dựa vào một loại lực duy nhất. Nhiều lực liên kết hoạt động đồng thời để cố định thuốc nhuộm trên chất nền. Các lực chính bao gồm liên kết ion, liên kết đồng hóa trị, liên kết hiđrô và lực Van der Waals. Thuốc nhuộm xâm nhập vào các khoang trống bên trong giữa các chùm đại phân tử của vật liệu. Tùy thuộc vào mỗi lớp thuốc nhuộm và loại vật liệu mà liên kết nào sẽ trội hơn đóng vai trò chủ đạo. Trong công nghệ nhuộm, quá trình tạo điều kiện cho thuốc nhuộm liên kết với vật liệu gọi là gắn màu, hãm màu hoặc cố định. Hiểu rõ nguyên tắc này là nền tảng để tối ưu hóa quy trình nhuộm và nâng cao chất lượng sản phẩm dệt nhuộm.

1.1. Khái niệm thuốc nhuộm và cấu trúc phân tử

Thuốc nhuộm là chất hữu cơ có khả năng tạo màu trên vật liệu. Phân tử thuốc nhuộm chứa nhóm chromophore tạo màu như azo, anthraquinone, phthalocyanine. Nhóm auxochrome hỗ trợ tăng cường ái lực với chất nền, bao gồm nhóm hiđrô, amin, sunfonat. Trong nước, phân tử thuốc nhuộm phân ly thành ion mang màu. Ion âm của thuốc nhuộm axit có dạng Ar-SO3⁻ sau khi phân ly từ muối natri. Cấu trúc phân tử quyết định loại liên kết và khả năng bám màu trên vật liệu.

1.2. Quá trình gắn màu và cố định thuốc nhuộm trên vật liệu

Gắn màu là quá trình thuốc nhuộm tiếp cận và liên kết với vật liệu trong điều kiện nhuộm phù hợp. Thuốc nhuộm khuếch tán từ dung dịch vào các khoang trống giữa đại phân tử sợi. Các lực liên kết hóa lý và hóa học giúp cố định thuốc nhuộm bền vững trên chất nền. Quá trình cố định đòi hỏi kiểm soát nghiêm ngặt nhiệt độ, pH và thời gian nhuộm. Chất trợ nhuộm được sử dụng để điều chỉnh tốc độ bắt màu, tránh nhuộm không đều màu. Kết quả là thuốc nhuộm bám chắc và tạo màu ổn định trên sản phẩm.

II. Phân tích các loại lực liên kết chính giữa thuốc nhuộm và vật liệu

Lực liên kết giữa thuốc nhuộm và vật liệu được phân thành nhiều loại dựa trên bản chất tương tác. Liên kết ion xảy ra giữa nhóm mang màu tích điện âm của thuốc nhuộm và tâm tích điện dương trên vật liệu. Năng lượng liên kết ion lớn, tốc độ bắt màu nhanh. Liên kết đồng hóa trị xuất hiện ở thuốc nhuộm hoạt tính với xơ xenlulo và len. Phản ứng thế ái nhân tạo liên kết hóa học vĩnh viễn giữa thuốc nhuộm và vật liệu. Liên kết hiđrô phát sinh giữa các nhóm định chức hiđrô, amin, amit và cacboxyl. Năng lượng mỗi liên kết hiđrô không lớn nhưng tổng năng lượng của cả phân tử rất đáng kể. Lực Van der Waals là lực yếu nhất nhưng luôn hiện diện giữa mọi phân tử. Liên kết này đặc biệt quan trọng với thuốc nhuộm phân tán trên xơ tổng hợp. Lực kị nước cũng góp phần cố định thuốc nhuộm trên vật liệu không thấm nước.

2.1. Liên kết ion và liên kết đồng hóa trị trong nhuộm

Liên kết ion thực hiện giữa gốc mang màu tích điện âm của thuốc nhuộm axit, trực tiếp với nhóm NH3⁺ trên vật liệu trong môi trường axit. Len, tơ tằm, polyamid có nhóm amin tự do chuyển thành muối và phân ly làm vật liệu tích điện dương. Liên kết đồng hóa trị xuất hiện ở thuốc nhuộm hoạt tính nhờ nguyên tử cacbon hoạt động. Phản ứng thế ái nhân hoặc kết hợp ái nhân tạo liên kết hóa học bền vững. Độ bền màu với xử lý ướt đạt mức cao nhất trong các loại liên kết.

2.2. Liên kết hiđrô và lực Van der Waals trong nhuộm

Liên kết hiđrô phát sinh giữa nhóm định chức của xơ và thuốc nhuộm ở khoảng cách cần thiết. Các nhóm hiđrô, amin, amit, cacboxyl tương tác tạo liên kết yếu nhưng số lượng lớn. Tổng năng lượng liên kết hiđrô của cả phân tử thuốc nhuộm với vật liệu rất đáng kể. Lực Van der Waals luôn tồn tại giữa mọi phân tử thuốc nhuộm và vật liệu. Đây là lực yếu nhất trong các loại liên kết nhưng đóng vai trò bổ trợ quan trọng, đặc biệt trong nhuộm xơ tổng hợp bằng thuốc nhuộm phân tán.

III. Các loại thuốc nhuộm tổng hợp và đặc điểm liên kết đặc trưng

Thuốc nhuộm tổng hợp được phân loại dựa trên cấu tạo hóa học và phương pháp nhuộm. Thuốc nhuộm axit chứa nhóm sunfonat, dùng cho len, tơ tằm và polyamid trong môi trường axit. Liên kết ion là lực chủ đạo giữa thuốc nhuộm axit và vật liệu. Thuốc nhuộm trực tiếp có ái lực tự nhiên với xơ xenlulo nhờ liên kết hiđrô và lực Van der Waals. Thuốc nhuộm hoạt tính chứa nguyên tử cacbon hoạt động, tạo liên kết đồng hóa trị với nhóm hiđrô và amin trên sợi. Thuốc nhuộm phân tán không tan trong nước, được nghiền mịn để nhuộm xơ polyester ở nhiệt độ cao. Thuốc nhuộm hoàn nguyên cần khử thành dạng leuco hòa tan trước khi nhuộm, thường dùng cho cotton và vải bông. Thuốc nhuộm lưu huỳnh có giá thành thấp, phù hợp nhuộm hàng tối màu trên nền xenlulo. Mỗi loại có nguyên tắc liên kết riêng biệt với vật liệu tương ứng.

3.1. Thuốc nhuộm axit trực tiếp và hoạt tính

Thuốc nhuộm axit phân ly thành ion âm Ar-SO3⁻ trong nước, liên kết ion với nhóm NH3⁺ trên len và tơ tằm. Môi trường axit giúp vật liệu tích điện dương, tăng khả năng bắt màu. Thuốc nhuộm trực tiếp có ái lực với xenlulo nhờ liên kết hiđrô và lực Van der Waals. Nhuộm trong môi trường kiềm nhẹ với muối trợ nhuộm. Thuốc nhuộm hoạt tính phản ứng hóa học với nhóm OH và NH2 trên sợi. Liên kết đồng hóa trị cho độ bền màu vượt trội với xử lý ướt và ánh sáng.

3.2. Thuốc nhuộm phân tán hoàn nguyên và lưu huỳnh

Thuốc nhuộm phân tán ở dạng không hòa tan, khuếch tán vào xơ polyester ở nhiệt độ cao trên 100°C. Lực Van der Waals và lực kị nước là liên kết chủ đạo. Thuốc nhuộm hoàn nguyên cần khử bằng NaOH và tác nhân khử để tạo dạng leuco hòa tan. Sau khi nhuộm, thuốc được oxy hóa hoàn nguyên trên sợi tạo màu bền. Thuốc nhuộm lưu huỳnh có giá rẻ, dùng cho cellulose nhưng độ bền màu hạn chế hơn so với các loại khác.

IV. Ứng dụng nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm trong công nghệ nhuộm hiện đại

Việc áp dụng nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm giúp tối ưu hóa quy trình nhuộm công nghiệp. Kiểm soát pH là yếu tố then chốt trong nhuộm len bằng thuốc nhuộm axit. Môi trường axit giúp nhóm amin trên sợi tích điện dương, tăng cường liên kết ion. Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ khuếch tán và khả năng liên kết thuốc nhuộm với vật liệu. Với thuốc nhuộm hoạt tính, cần môi trường kiềm để kích hoạt phản ứng đồng hóa trị. Thời gian nhuộm phải đủ để thuốc xâm nhập đều vào các khoang trống của sợi. Chất trợ nhuộm giúp điều chỉnh tốc độ bắt màu, tránh hiện tượng nhuộm không đều. Độ bền màu phụ thuộc vào loại liên kết chủ đạo. Liên kết đồng hóa trị cho độ bền cao nhất, tiếp theo là liên kết ion. Ứng dụng thực tế bao gồm nhuộm vải thời trang, dệt may công nghiệp và xử lý da thuộc. Xu hướng hiện nay hướng đến thuốc nhuộm thân thiện môi trường và quy trình nhuộm tiết kiệm nước.

4.1. Tối ưu hóa điều kiện nhuộm theo loại lực liên kết

Mỗi loại lực liên kết đòi hỏi điều kiện nhuộm riêng biệt để đạt hiệu quả tối đa. Liên kết ion cần pH thấp để vật liệu tích điện dương, thường dùng axit axetic hoặc axit formic. Liên kết đồng hóa trị cần pH cao với Na2CO3 hoặc NaOH để kích hoạt phản ứng. Liên kết hiđrô và Van der Waals ít phụ thuộc vào pH hơn. Kiểm soát tốc độ tăng nhiệt giúp thuốc phân bố đều trên sợi. Sử dụng chất hãm màu điều chỉnh tốc độ bắt màu, tránh nhuộm không đều.

4.2. Xu hướng phát triển thuốc nhuộm bền vững và thân thiện môi trường

Ngành dệt nhuộm hiện đại ứng dụng nguyên tắc tổng hợp thuốc nhuộm để phát triển sản phẩm thân thiện môi trường. Thuốc nhuộm hoạt tính được ưa chuộng nhờ độ bền màu cao và khả năng liên kết đồng hóa trị. Công nghệ nhuộm không nước và nhuộm siêu临界 CO2 giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước. Chất tăng trắng quang học cải thiện độ trắng cho hàng dệt dựa vào tác dụng quang học. Nghiên cứu mới tập trung vào thuốc nhuộm sinh học chiết xuất từ nguồn thực vật tái tạo. Xu hướng này đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành công nghiệp dệt may.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

các khoang trống bên trong giữa các chùm đại phân tử của vật liệu. Quá trình này cũng không đơn thuần chỉ là các lực liên kết hoá lý (lực liên kết phân tử và lực hấp phụ) mà có trường hợp còn là quá trình hoá học, thuốc nhuộm thực hiện liên kết ion hay liên kết hoá trị với vật liệu. Tuỳ thuộc vào mỗi lớp thuốc nhuộm, mỗi loại vật liệu mà liên kết nào sẽ trội hơn sẽ là chủ đạo, nhưng thường thì thuốc nhuộm được gắn hay được giữ trên vật liệu bằng nhiều lực liên kết cùng thực hiện đồng thời. Trong công nghệ nhuộm, in hoa quá trình tạo điều kiện cho thuốc nhuộm liên kết với vật liệu gọi là gắn màu, hãm màu, cố định, định hình v.

tuỳ theo mỗi trường hợp cụ thể. Dưới đây là các lực liên kết của thuốc nhuộm với vật liệu thường gặp. Liên kết ion Liên kết này được thực hiện giữa các gốc mang màu tích điện âm của thuốc nhuộm (axit, trực tiếp) và các tâm tích điện dương của vật liệu. Những vật liệu trong điều kiện nhuộm (môi trường axit) có khả năng tích điện dương là: len, tơ tằm, xơ polyamit, da, lông thú; chúng cấu tạo từ các mạch polypeptit, chứa nhiều nhóm amin tự do, trong môi trường axit các nhóm này chuyển thành muối và phân ly làm cho vật liệu tích điện dương, có thể minh hoạ như sau: HOOC−P−NH2 + HCl HOOC−P−NH3Cl + HOOC−P−NH3Cl HOOC−P−NH3 + Cl− ở đây P là ký hiệu mạch polypeptit.

Mặt khác trong nước phân tử thuốc nhuộm cũng phân ly và ion mang màu tích điện âm như sau: Ar−SO3Na Ar−SO3− + Na+ Ar - gốc thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm trực tiếp. Trong quá trình nhuộm, khi tiếp cận với vật liệu, ion âm của thuốc nhuộm sẽ bị thu hút về các tâm tích điện dương này và thực hiện liên kết ion hay còn gọi là liên kết muối như sau: − + − HOOC−P−NH3 + O3S−Ar HOOC−P−NH3 O3S−Ar Nhờ có năng lượng lớn nên thuốc nhuộm liên kết với vật liệu khá mạnh, tốc độ bắt màu nhanh, phải điều chỉnh tốc độ nhuộm bằng cách điều chỉnh trị số pH của dung dịch nhuộm. Liên kết đồng hoá trị Liên kết này được thực hiện chủ yếu ở thuốc nhuộm hoạt tính với các loại vật liệu có chứa các nhóm hyđroxyl và nhóm amin (xơ xenlulo, len, tơ tằm, xơ polyamit, da và lông thú). Do thuốc nhuộm hoạt tính chứa các nguyên tử cacbon hoạt động nên trong điều kiện nhuộm chúng có thể tham gia phản ứng hoá học với vật liệu theo cơ chế thế ái nhân hoặc kết hợp ái nhân tạo nên mối liên kết đồng hoá trị giữa thuốc nhuộm và vật liệu.

Nhờ có liên kết đồng hoá trị nên màu của vật liệu nhuộm bằng thuốc nhuộm hoạt tính có độ bền cao với nhiều chỉ tiêu, trước hết là với xử lý ướt. Liên kết hyđro Liên kết hyđro được thực hiện giữa các nhóm định chức của xơ và thuốc nhuộm 97 như: nhóm hyđroxyl, nhóm amin, nhóm amit và nhóm cacboxyl. Khi phân tử thuốc nhuộm tiếp cận với vật liệu ở khoảng cách cần thiết thì lực liên kết hyđro sẽ phát sinh do tương tác của các nhóm định chức với nhau. Năng lượng của một mối liên kết hyđro không lớn nhưng tổng năng lượng của nhiều liên kết hyđro của cả phân tử thuốc nhuộm với vật liệu thì đáng kể.

Liên kết hyđro có vai trò quan trọng trong một số trường hợp để cố định thuốc nhuộm trên vật liệu. Thí dụ, thuốc nhuộm trực tiếp gắn màu vào xơ xenlulo và tơ tằm chủ yếu bằng lực liên kết hyđro. Liên kết Van der Waals Liên kết Van der Waals được thực hiện ở hầu hết các lớp thuốc nhuộm khi tương tác với vật liệu. Tuỳ theo loại thuốc nhuộm (có cực hay không có cực) và loại vật liệu (ưa nước hay kỵ nước) và tuỳ theo mức độ tiếp cận giữa phân tử thuốc nhuộm và vật liệu mà lực liên kết phân tử sẽ là chính hay chỉ có ý nghĩa nhất định.

Thí dụ, thuốc nhuộm hoàn nguyên và azo không tan, ngoài yếu tố nằm trên vật liệu ở dạng không tan, chúng được giữ lại trên xơ xenlulo chủ yếu bằng lực Van der Waals và liên kết hy đro. Liên kết Van der Waals được coi là tổ hợp của các lực hút: lưỡng cực, phân cực cảm ứng và lực phân tán London. Lực tương tác kỵ nước Lực này phát sinh giữa các gốc hyđrocacbon của thuốc nhuộm và vật liệu không có cực khi tiếp cận với nhau, do chúng không đẩy nhau, dễ hoà đồng vào nhau, bám dính vào nhau. Có thể coi trường hợp nhuộm các xơ tổng hợp ky nước bằng thuốc nhuộm phân tán là thí dụ điển hình.

Thuốc nhuộm phân tán không tan trong nước được sản xuất ở dạng bột mịn phân tán cao, ở điều kiện nhuộm hoặc là nhiệt độ cao áp suất cao hoặc là gia nhiệt khô, thuốc nhuộm sẽ tan vào các xơ kỵ nước và nhiệt dẻo này. Xơ tổng hợp được xem là dung dịch rắn của thuốc nhuộm phân tán. Nhờ có liên kết này mà thuốc nhuộm có độ bền màu cao với giặt. CÁC LOẠI THUỐC NHUỘM CỤ THỂ 4.

Thuốc nhuộm trực tiếp 4. Đặc điểm về cấu tạo Thuốc nhuộm trực tiếp hay còn gọi là thuốc nhuộm tự bắt màu (supstantip) là những hợp chất màu hoà tan trong nước, có khả năng tự bắt màu vào một số vật liệu như: các xơ xenlulo, giấy, tơ tằm, da và xơ polyamit một cách trực tiếp nhờ các lực hấp phụ trong môi trường trung tính hoặc kiềm. Hầu hết thuốc nhuộm trực tiếp thuộc về nhóm azo, số ít hơn là dẫn xuất của đioxazin và phtaloxianin, tất cả được sản xuất dưới dạng muối natri của axit sunfonic hay cacboxylic hữu cơ, một vài trường hợp được sản xuất dưới dạng muối amoni và kali, nên được viết dưới dạng tổng quát là Ar−SO3Na (Ar là gốc hữu cơ mang màu của thuốc nhuộm). Khi hoà vào nước thuốc nhuộm phân ly như sau: Ar−SO3Na Ar−SO3− + Na+.

ion Ar−SO3− là ion mang màu, tích điện âm. Khả năng tự bắt màu của thuốc nhuộm trực tiếp phụ thuộc vào ba yếu tố dưới đây: 1- Phân tử thuốc nhuộm phải chứa một hệ thống mối liên kết nối đôi cách không dưới 8 kể từ đầu nhóm trợ màu này đến đầu nhóm trợ màu kia, như vậy phân tử thuốc 98 nhuộm sẽ luôn ở trạng thái chưa bão hoà hoá trị và có khả năng thực hiện các liên kết Van der Waals và liên kết hyđro với vật liệu; 2- Phân tử thuốc nhuộm phải thẳng, vì xơ xenlulo nói riêng và những vật liệu mà thuốc nhuộm có khả năng bắt màu đều có cấu tạo phân tử mạch thẳng, có như vậy phân tử thuốc nhuộm mới dễ tiếp cận với vật liệu và thực hiện các liên kết; 3- Phân tử thuốc nhuộm phải có cấu tạo phẳng, các nhân thơm hoặc các nhóm chức của thuốc nhuộm phải nằm trên cùng một mặt phẳng để nó có thể tiếp cận cao nhất với mặt phẳng của phân tử vật liệu cũng là yếu tố quan trọng cho việc phát sinh và duy trì các lực liên kết của nó với vật liệu. Ngoài ba yếu tố kể trên phân tử thuốc nhuộm trực tiếp còn phải chứa một số nhóm chức nhất định, chủ yếu là nhóm hydroxyl và nhóm amin (−OH, −NH2), những nhóm này vùa làm nhiệm vụ trợ màu vừa tạo cho thuốc nhuộm thực hiện liên kết hyđro với vật liệu. Theo cấu tạo hoá học thuốc nhuộm trực tiếp được chia thành các nhóm sau đây: - Thuốc nhuộm trực tiếp azo, trong phân tử chứa một hoặc nhiều nhóm azo (−N=N−), nhóm này chiếm đại bộ phận các thuốc nhuộm trực tiếp và xếp thành bốn loại: loại thông thường, loại có độ bền màu cao, loại chứa hoặc có khả năng kết hợp với ion kim loại thành phức không tan và loại có khả năng điazo hoá sau khi nhuộm; - Thuốc nhuộm trực tiếp là dẫn xuất của đioxazin; - Thuốc nhuộm trực tiếp là dẫn xuất của phtaloxianin.

Ngoài ra trong phân tử thuốc nhuộm còn chứa vòng triazin vừa đóng vai trò phần tử ngăn cách vừa chứa các nguyên tử bão hoà hoá trị nên càng làm tăng khả năng bắt màu của nó vào vật liệu. Trong phân tử thuốc nhuộm còn chứa gốc của axit xalixilic nên nó có thể tạo phức với các ion kim loại nặng để tăng thêm độ bền màu. Thuốc nhuộm trực tiếp điazo có nhóm amin bậc nhất ở vị trí para hay meta so với nhóm azo có thể điazo hoá và kết hợp với thành phần azo mới (thường là β-naphtol) để tăng độ bền màu. Để dễ nhận biết khi sử dụng, trong tên gọi của loại thuốc nhuộm này có chữ điazo.

Các mặt hàng thương phẩm của thuốc nhuộm trực tiếp. Dựa vào các chỉ tiêu về độ bền màu và phương pháp sử dụng thuốc nhuộm trực tiếp được chia làm bốn nhóm: 1- Gồm những màu có độ bền với ánh sáng dưới cấp 4 (theo thang 8 cấp), còn độ bền với xử lý ướt dưới cấp 3 (theo thang 5 cấp); 2- Gồm những thuốc nhuộm trực tiếp có độ bền ánh sáng trên cấp 4, bền với xử lý ướt ở mức trung bình, sau khi cầm màu độ bền sẽ tăng lên; 3- Gồm những thuốc nhuộm cần xử lý cầm màu với muối đồng nên trong tên gọi có chữ “cupro”, độ bền màu với giặt đạt trên cấp 3, còn với ánh sáng không dưới cấp 5. 4- Gồm những thuốc nhuộm có thể điazo hoá trên vải và kết hợp tiếp với một thành phần azo nữa để tăng độ bền màu với giặt lên đến cấp 4. Tên thương phẩm của các thuốc nhuộm trực tiếp của các hãng nổi tiếng thế giới có thể xem ở tài liệu tham khảo.1 Nước Hãng Tên nhóm thuốc nhuộm sản xuất sản xuất 1 2 3 4 Anh ICI Chlorazol Durazol, fixazol Durazol cupro Chlorazol Ba Lan Chemicolor Direct Helion − Diazo Đức Bayer Benzo ánh Sirius bền Benzo cuprol Benzamin − Sirius supra Bbenzo cuper Benzo para Hochst − Remastral − Dianil BASF − Lurantin − − Wolfen Columbia Solamin Cupracon Naphtogen − Solamin - fau Zambenzi Mỹ Du-Pont Pontamine Pontamine fast Pontamine Pontamine Cuper diazo − Resotix − − Sec và Slovackia Chemapol Direct Saturn Ribantin Azogen Thuỵ Sĩ Ciba − Chlorantine Copratin Diazo Polytex, Rigan Neooupran Rosantren − Cupranon Ciba-geigy Diphenyl Solophenyl Cuprophenyl Diazophenyl Sandoz Chloramin Pirazol Cuprofix Diazophenyl − Solar Reofix Diazoamin Tính chất mỹ thuật của thuốc nhuộm trực tiếp Để tiện cho việc sử dụng, các hãng chế tạo thuốc nhuộm đều có tài liệu chỉ dẫn về tính chất sản phẩm của mình, tuy nhiên giữa các lô hàng khác nhau và sản phẩm của các hãng khác nhau vẫn có sai lệch, khi dùng cần thử nghiệm lại nhằm bảo đảm kết quả nhuộm trùng lặp.

Khi chuẩn bị dung dịch nhuộm với những thuốc nhuộm trực tiếp khó tan cần phải thêm natri cacbonat vào máng để tạo môi trường kiềm yếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ