Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trần Thị Hồng Ngãi với đề tài "Nghiên cứu tính an toàn, kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu của bài thuốc HSN trên thực nghiệm và lâm sàng" được thực hiện tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam vào năm 2019, thuộc chuyên ngành Y học cổ truyền (mã số 62720201), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Duy Thuần và PGS. Nguyễn Thế Thịnh.
Về tính cấp thiết, tác giả trích dẫn số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2008 cho biết tỷ lệ rối loạn lipid máu ở người trưởng thành là 39%. Tỷ lệ này phân bố khác nhau theo vùng địa lý: châu Âu chiếm 54%, châu Mỹ chiếm 48%, trong khi Đông Nam Á và châu Phi lần lượt là 29% và 22,6%. Tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng tỷ lệ thuận với mức thu nhập: các quốc gia thu nhập thấp có tỷ lệ khoảng 25%, quốc gia thu nhập trung bình khoảng một phần ba dân số, và quốc gia thu nhập cao lên tới khoảng 50%. Dự báo từ tổ chức Epicast cho thấy năm 2015 có khoảng 581 triệu người mắc rối loạn chuyển hóa lipid tại 8 quốc gia (Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc), dự kiến tăng lên 680 triệu người vào năm 2025 với mức tăng trưởng hàng năm 1,71%. Rối loạn chuyển hóa lipid là bệnh lý mạn tính gây gia tăng nguy cơ vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp và đột quỵ.
Về khoảng trống nghiên cứu, y văn y học cổ truyền đã ghi nhận nhiều phương pháp và bài thuốc trị chứng đàm thấp, béo bệu. Bài thuốc HSN là một phương thuốc được phối ngũ từ 6 vị thuốc Nam có tác dụng trừ thấp hóa đàm, từng được các thầy thuốc y học cổ truyền ứng dụng trên lâm sàng cho các trường hợp tăng huyết áp, tăng lipid máu và béo bệu. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, bài thuốc HSN chưa được khảo cứu toàn diện về độc tính (độ an toàn), cơ chế điều chỉnh lipid máu trên mô hình thực nghiệm động vật và hiệu quả điều trị cụ thể trên lâm sàng theo các tiêu chuẩn khoa học thực chứng.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, được đánh số theo văn bản như sau:
- Xác định độc tính cấp và bán trường diễn của bài thuốc HSN.
- Nghiên cứu tác dụng điều chỉnh rối loạn chuyển hóa lipid máu của bài thuốc HSN trên thực nghiệm.
- Đánh giá kết quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu của bài thuốc HSN trên lâm sàng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bài thuốc HSN (dưới dạng bào chế cao lỏng HSN gồm 6 vị thuốc Nam); động vật thực nghiệm (chuột thực nghiệm); bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid máu.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại Bộ môn Dược lý - Trường Đại học Y Hà Nội và Viện nghiên cứu Y dược cổ truyền Tuệ Tĩnh; nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (bao gồm khoa Y học cổ truyền, khoa Khám bệnh, khoa Sinh hóa, khoa Huyết học).
- Phạm vi thời gian: Công trình hoàn thành và bảo vệ năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu thuốc y học cổ truyền điều trị rối loạn lipid máu trong nước và tại Trung Quốc.
Tại Việt Nam, các hướng nghiên cứu được tác giả điểm lại theo trình tự thời gian bao gồm:
- Nghiên cứu đơn vị thuốc và dược liệu đơn lẻ: Đoàn Thi Nhu và Nguyễn Thị Hoàn (1988) nghiên cứu cây Ngưu tất ghi nhận tác dụng hạ áp và hạ cholesterol toàn phần (TC) từ từ, kéo dài; Nguyễn Trần Giáng Hương và Nguyễn Tiến Chung (2005) nghiên cứu củ Tam thất trên thực nghiệm ghi nhận khả năng làm giảm triglycerid (TG), TC, LDL-C và làm tăng HDL-C sau 1 tháng sử dụng; Phạm Thanh Tùng (2013) nghiên cứu viên Giảo cổ lam ghi nhận giảm 20,2% TC, 22,8% TG, 19,3% LDL-C và tăng 12,6% HDL-C.
- Nghiên cứu các cổ phương kinh điển: Trần Thị Hiền (1996) nghiên cứu bài Nhị trần thang cho thấy giảm 13,0% TC, 37,0% TG, 19,0% LDL-C và tăng 20,0% HDL-C; Đoàn Quốc Dũng (2001) nghiên cứu Nhị trần thang gia giảm cho thấy giảm 16,43% TC, 24,2% TG, 12,1% LDL-C và tăng 13,3% HDL-C; Hoàng Khánh Toàn và Chu Quốc Trường (1999) nghiên cứu bài Bán hạ bạch truật thiên ma thang thể phong đàm cho thấy giảm 16% TC, 31,5% TG, 20,2% LDL-C và tăng 19,8% HDL-C; Nguyễn Trung Xin (2015) nghiên cứu bài Trạch tả thang đạt tỷ lệ rất tốt 20,59%, tốt 52,94%, chưa tốt 26,47%; Trịnh Vũ Lâm (2015) kết hợp Bán hạ bạch truật thiên ma thang với laser nội mạch đạt tỷ lệ tốt và khá là 43,33%, trung bình 40,0%, không hiệu quả 16,67%.
- Nghiên cứu các bài thuốc và chế phẩm phối ngũ mới: Nguyễn Thế Thịnh và cộng sự (1996) bước đầu khảo sát bài thuốc HSN trên 35 bệnh nhân tăng lipid máu (kết quả: tốt 65,05%, khá 19,15%, trung bình 8,64%, kém 6,16%); Phí Thị Ngọc (2001) nghiên cứu dịch chiết HHKV trên thỏ và chuột ở cả mô hình nội sinh và ngoại sinh; Bùi Thị Mẫn (2004) đánh giá viên BKC (giảm 18,34% TC, 27,7% TG, 18,3% LDL-C, tăng 18,6% HDL-C); Lê Thị Lan (2004) nghiên cứu viên Curpenin (hạ TC 70,95%, LDL-C 57,85%); Phạm Vũ Khánh (2004) nghiên cứu bài thuốc TTII trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm rối loạn lipid máu (giảm 22,5% TC, 36,0% TG); Lê Thị En (2010) đánh giá bài thuốc TMP1 (giảm 43,3% TC, 33,3% TG, 16,7% LDL-C, tăng 10% HDL-C); Phạm Tuyết Mai (2011) kết hợp Giáng chỉ thang tự xây dựng với Simvastatin liều thấp (nhóm điều trị đạt hiệu quả 80,6% so với đối chứng 52,1%, $p < 0,01$); Dương Thị Mộng Ngọc, Hà Thị Hồng Linh và cộng sự (2012) đánh giá viên nang cứng Ruvintat (hạ TC 12,62%, LDL-C 18,31%, TG 18,8%, tăng HDL-C 15,38%); Vũ Thị Thuận (2012) nghiên cứu bài thuốc BBT trên thỏ (liều 3g/kg/ngày giảm 10,06% TC, giảm 36,47% LDL-C; liều 6g/kg/ngày làm giảm mảng xơ vữa động mạch chủ); Lý Thị Lan Hương (2013) nghiên cứu bài Trừ đàm tiêu thấp thang (giảm 15,7% TC, 6,3% TG, 24,5% LDL-C, tăng 7,8% HDL-C với $p < 0,05$); Trương Quốc Chính (2014) khảo sát bài Hạ mỡ NK (giảm 16,55% TC, 32,17% TG, 15,26% LDL-C, tăng 9,09% HDL-C với $p < 0,001$); Vũ Việt Hằng (2014) thử nghiệm Giáng chỉ tiêu khát linh trên động vật đái tháo đường type 2; Nguyễn Vĩnh Thanh (2016) nghiên cứu bài Tiêu thực hành khí trừ thấp thang (giảm 18,42% TC, 55,87% TG với $p < 0,001$; giảm 16,86% LDL-C, tăng 5,26% HDL-C với $p < 0,05$); Tạ Thu Thủy (2016) đánh giá cao lỏng Đại An (giảm 17,7% TC, 20,0% TG, 14,1% LDL-C với $p < 0,001$; tăng 8,4% HDL-C); Nguyễn Văn Khiêm (2016) đánh giá lâm sàng cao lỏng HSN (giảm 24,12% TC, 31,09% TG, 5,41% LDL-C, tăng 4,07% HDL-C).
Tại Trung Quốc, tác giả tổng hợp các công trình:
- Vương Kiện Tân (2009) nghiên cứu nước sắc Hoàng tinh qua sonde dạ dày trên chuột mỡ máu cao trong 30 ngày, chứng minh giảm đường huyết, TC và TG huyết thanh.
- Lưu Hải Quân (2012) điều trị 62 bệnh nhân bằng Giáng chỉ thang gia giảm đạt tỷ lệ hiệu quả 91,9%.
- Vương Triều Hà, Triệu Tĩnh, La Hoa Bân (2012) thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên trên 32 bệnh nhân dùng Giáng chỉ thang trong 3 tháng ghi nhận TC, TG, LDL-C giảm có ý nghĩa ($p < 0,01$), HDL-C tăng nhưng không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
- Phạm Tuyết Mai (2011) so sánh Giáng chỉ thang (48 bệnh nhân) với Simvastatin (40 bệnh nhân) cho thấy tỷ lệ hiệu quả nhóm điều trị là 85,4% so với đối chứng 65% ($p < 0,05$).
- Quảng Vĩ Văn, Cao Nghệ Thanh (2010) đánh giá bài Thông mạch giáng chỉ thang sau 3 tháng làm giảm bề dày lớp nội mạc động mạch cảnh (IMT), khối lượng mảng xơ vữa và CRP ($p < 0,05$).
- Mai Tiến Nguyệt (2011) điều trị 251 bệnh nhân bằng Giáng chỉ thang trong 45 ngày đạt tỷ lệ tốt và khá là 72%.
Vị trí của luận án: Tác giả nhận định đa số nghiên cứu trước đây chỉ thuần túy quan sát lâm sàng hoặc nghiên cứu thực nghiệm riêng lẻ, số lượng đối tượng chưa lớn, chưa phân tích đồng bộ cơ chế chuyển hóa theo cả hai hướng nội sinh và ngoại sinh, và thiếu dữ liệu độc tính bán trường diễn hoàn chỉnh kèm vi thể mô học. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện bài thuốc HSN trên ba trục: độc tính (cấp và bán trường diễn), thực nghiệm in vivo (hai mô hình nội sinh và ngoại sinh) và thử nghiệm lâm sàng đối chiếu tiêu chuẩn hiện đại và thể bệnh y học cổ truyền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
Về Y học hiện đại:
- Luận án sử dụng định nghĩa lipid theo Trauber và các khái niệm hóa sinh chuẩn: lipid là este hoặc amid của acid béo với alcol/aminoalcol, gồm cholesterol, triglycerid, phospholipid và acid béo tự do.
- Cấu trúc và chuyển hóa lipoprotein: Phân loại theo tỷ trọng siêu ly tâm thành 5 nhóm chính: Chylomicron (CM), VLDL, IDL, LDL và HDL. Vai trò điều hòa của các apoprotein: ApoAI (hoạt hóa enzym LCAT, bảo vệ thành mạch), ApoAII (ức chế LCAT, cản trở đưa cholesterol về gan), ApoB100 (gắn thụ thể LDL trên màng tế bào), ApoB48 (thành phần của CM), ApoCI, ApoCII (hoạt hóa lipoprotein lipase), ApoCIII (ức chế lipoprotein lipase), ApoE (gắn thụ thể LDL).
- Con đường chuyển hóa: Chuyển hóa ngoại sinh (hấp thu lipid thức ăn, tạo CM tại ruột non, thủy phân bởi lipoprotein lipase tại mô mỡ/cơ, CM tàn dư về gan) và chuyển hóa nội sinh (gan tổng hợp VLDL, thủy phân thành IDL và LDL, LDL vận chuyển cholesterol tới mô ngoại vi qua thụ thể ApoB100, HDL vận chuyển ngược cholesterol về gan nhờ LCAT).
- Các hệ thống phân loại rối loạn lipid máu:
- Phân loại của De Gennes (1971): Tăng cholesterol đơn thuần (TC tăng, TG bình thường, TC/TG > 2,5, tăng LDL); Tăng triglycerid đơn thuần (TG tăng cao, TC bình thường hoặc tăng nhẹ, TG/TC > 2,5); Tăng lipid máu hỗn hợp (TC tăng vừa, TG tăng cao, TC/TG < 2,5, tăng LDL hoặc VLDL và IDL).
- Phân loại quốc tế của Fredrickson (5 type: I, IIa, IIb, III, IV, V).
- Phân loại của EAS 1987 (European Atherosclerosis Society: Type A, B, C, D, E dựa trên ngưỡng TC 5,2 - 6,5 - 7,8 mmol/l và TG 2,2 - 5,5 mmol/l).
- Đánh giá mức độ theo NCEP ATP III (phân tầng tối ưu, bình thường, cao giới hạn, cao, rất cao).
- Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định theo Hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2014:
- Cholesterol toàn phần > 5,2 mmol/L (200 mg/dL).
- Triglycerid > 1,7 mmol/L (150 mg/dL).
- LDL-cholesterol > 2,58 mmol/L (100 mg/dL).
- HDL-cholesterol < 1,03 mmol/L (40 mg/dL).
| Loại lipoprotein |
Kích thước (nm) |
Tỉ trọng (g/ml) |
Chứa apoprotein |
Chứa lipid |
Nguồn gốc |
| CM |
80 - 1000 |
< 0,96 |
AI, AII, B |
TG |
Ruột |
| VLDL |
30 - 80 |
0,96 - 1,006 |
B, C, E |
TG |
Gan, ruột |
| IDL |
20 - 30 |
1,006 - 1,019 |
B, E |
TG, TC |
VLDL |
| LDL |
20 - 22 |
1,010 - 1,063 |
B |
TC |
VLDL |
| HDL |
7 - 9,5 |
1,063 - 1,125 |
AI, AII |
TC |
Gan, ruột |
Về Y học cổ truyền:
- Luận án dựa trên lý luận về sự vận hóa tân dịch: ba tạng Tỳ, Phế, Thận giữ vai trò nòng cốt. Thức ăn vào vị, qua sự vận hóa của tỳ đưa chất thanh lên phế và ngũ tạng, chất trọc bài tiết qua đại tràng và bàng quang.
- Khái niệm đàm ẩm: Đàm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng; thuộc nhóm nguyên nhân bất nội ngoại nhân. Trích dẫn quan điểm của Hải Thượng Lãn Ông ("Đàm là biến chất của tân dịch... sinh hóa ra là do tỳ, gốc của đàm là do thận... trị đàm tiên trị khí, khí thuận đàm tự tiêu"), Hoàng Bảo Châu ("Đàm ẩm là thủy đọng lưu lại do không vận hóa bình thường"), và Trần Thúy ("Đàm ẩm là sản vật bệnh lý do tỳ hư, thận dương hư, phế khí hư").
- Nguyên nhân YHCT: Tiên thiên bất túc (thận dương hư), ẩm thực bất điều (ăn nhiều cao lương mỹ vị), thất tình (lo nghĩ hại tỳ, giận dữ hại can), ngũ tổn (nằm nhiều hại khí, ngồi nhiều hại cơ nhục).
- Phân thể lâm sàng YHCT: Thể đàm trọc ứ trệ, Thể tỳ thận dương hư, Thể can thận âm hư, Thể đàm nhiệt phủ thực, Thể đàm ứ giao trở, Thể can uất tỳ hư.
- Nguyên tắc điều trị: Bản hư tiêu thực (bổ tỳ ích thận trị bản, trừ thấp hóa đàm hoạt huyết trị tiêu), phân chia 3 pháp: hóa đàm (bệnh nhẹ), tiêu đàm (trung bình), điều đàm (bệnh nặng).
| Đặc điểm |
Rối loạn chuyển hóa lipid |
Chứng đàm ẩm |
| Yếu tố gen |
Đột biến gen, tính gia đình |
Tiên thiên bất túc |
| Ẩm thực |
Thức ăn giàu chất béo, năng lượng dư thừa |
Ăn nhiều đồ béo ngọt làm tỳ vị hư tổn |
| Lối sống |
Lối sống tĩnh tại, ít vận động |
Cửu ngọa thương khí, cửu tọa thương nhục |
| Tuổi tác |
Tuổi cao làm suy giảm chức năng chuyển hóa |
Thiên quý suy, công năng tạng phủ giảm |
| Tâm lý |
Căng thẳng thần kinh |
Tình chí tổn hại tạng phủ (uất kết, lo nghĩ) |
| Biểu hiện |
Tăng lipid máu, thừa cân, tăng huyết áp |
Thể trạng béo trệ, nặng nề, huyễn vựng, tâm quý |
| Hướng trị |
Chế độ ăn, vận động, thuốc điều hòa lipid |
Chế độ ăn, dưỡng sinh, hóa đàm kiện tỳ bổ thận |
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo 3 hợp phần:
- Phương pháp nghiên cứu độc tính:
- Chất liệu: Cao lỏng HSN (bào chế từ 6 vị thuốc Nam).
- Nghiên cứu độc tính cấp: Cho chuột uống thuốc thử theo các mức liều tăng dần nhằm xác định liều chết (LD50) hoặc liều tối đa chuột có thể dung nạp, theo dõi biểu hiện hành vi và tỷ lệ chết.
- Nghiên cứu độc tính bán trường diễn: Thực hiện trên chuột cống trắng, cho uống thuốc thử liên tục trong 4 tuần. Theo dõi biến đổi thể trọng, chức năng tạo máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), mức độ hủy hoại tế bào gan (AST, ALT), nồng độ creatinin huyết thanh (chức năng thận), nồng độ cholesterol toàn phần và xét nghiệm mô bệnh học vi thể gan, thận nhuộm HE (độ phóng đại x400).
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Mô hình rối loạn lipid máu nội sinh: Gây rối loạn trên động vật thực nghiệm bằng hóa chất Poloxamer-407; đánh giá tác động điều chỉnh nồng độ lipid máu của cao lỏng HSN so với lô chứng.
- Mô hình rối loạn lipid máu ngoại sinh: Gây rối loạn bằng chế độ ăn giàu mỡ qua hỗn hợp dầu cholesterol; theo dõi diễn biến nồng độ lipid máu sau 2 tuần và 4 tuần uống thuốc thử.
- Phương pháp nghiên cứu lâm sàng:
- Đối tượng: Bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn chuyển hóa lipid máu đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông.
- Thiết kế: Nghiên cứu lâm sàng mở, so sánh kết quả trước và sau điều trị trên cùng một đối tượng và so sánh với nhóm đối chứng.
- Chỉ số theo dõi:
- Lâm sàng: Triệu chứng cơ năng theo YHCT (theo các thể Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư), triệu chứng thực thể, chỉ số BMI, huyết áp động mạch.
- Cận lâm sàng: Bilan lipid máu (TC, TG, HDL-C, LDL-C, các chỉ số tỷ lệ TC/HDL-C, LDL/HDL), công thức máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), sinh hóa đánh giá chức năng gan (AST, ALT) và thận (creatinin).
- Đánh giá tác dụng không mong muốn trên lâm sàng.
- Tiêu chuẩn đánh giá kết quả: Phân loại cải thiện lipid máu theo Y học hiện đại (chuẩn De Gennes, EAS 1987, NCEP ATP III) và tiêu chuẩn cải thiện triệu chứng thể bệnh theo Y học cổ truyền.
- Xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê y sinh học thông thường để so sánh các giá trị trung bình trước - sau điều trị và giữa các lô nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 cung cấp toàn bộ cơ sở lý luận của đề tài trên cả hai bình diện YHHĐ và YHCT, gồm 4 nội dung chính:
- Đại cương về lipid và chuyển hóa lipoprotein: Trình bày chi tiết cấu tạo hóa học của cholesterol, triglycerid, phospholipid; cấu trúc hình cầu của lipoprotein gồm lõi kỵ nước và vỏ ưa nước; phân loại 5 nhóm lipoprotein (CM, VLDL, IDL, LDL, HDL); vai trò sinh học của 7 loại apoprotein chính (ApoAI, ApoAII, ApoB100, ApoB48, ApoCI, ApoCII, ApoCIII, ApoE); sơ đồ chu trình chuyển hóa lipid nội sinh và ngoại sinh.
- Hội chứng rối loạn chuyển hóa lipid: Khái niệm bệnh lý; các bảng phân loại quốc tế (De Gennes 1971, Fredrickson, EAS 1987, NCEP ATP III); nguyên nhân tiên phát (đột biến gen thụ thể LDL, thiếu hụt men lipase) và thứ phát (lối sống tĩnh tại, dinh dưỡng quá mức, đái tháo đường, suy giáp, thuốc); triệu chứng nghèo nàn trên lâm sàng (u vàng ngoài da, ban vàng mi mắt, viêm tụy cấp khi TG $\ge 11,3$ mmol/l, thay đổi mạch máu đáy mắt khi TG $\ge 2000$ mg/dl); biến chứng xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, tăng huyết áp; các phác đồ điều trị YHHĐ gồm thay đổi lối sống (giảm calo, tập thể dục 30 phút/ngày, hạn chế rượu) và các nhóm thuốc hạ lipid (Statin, Fibrat, Resin gắn acid mật, Niacin, Ezetimib) kèm tác dụng phụ độc gan, tiêu cơ vân.
- Rối loạn chuyển hóa lipid theo YHCT: Phân tích cơ chế bệnh sinh theo học thuyết tạng phủ (Tỳ là nguồn sinh đàm, Thận là gốc của đàm, Phế mất thông điều thủy đạo); 4 nguyên nhân gây bệnh (tiên thiên bất túc, ẩm thực bất điều, thất tình, ngũ tổn); đặc điểm lâm sàng của 6 thể bệnh thường gặp; phân tích nguyên tắc "bản hư tiêu thực", "trị đàm tiên trị khí" của Hải Thượng Lãn Ông; đối chiếu chi tiết 6 tiêu chí tương đồng giữa rối loạn lipid máu và chứng đàm ẩm.
- Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm, lâm sàng trong và ngoài nước về thuốc YHCT: Điểm lại 22 công trình tại Việt Nam và 6 nghiên cứu tại Trung Quốc; giới thiệu xuất xứ bài thuốc HSN gồm 6 vị thuốc Nam, cấu tạo và quy trình bào chế dạng cao lỏng HSN.
Chương 2: Chất liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm và can thiệp lâm sàng:
- Chất liệu nghiên cứu: Cao lỏng HSN được chuẩn hóa từ 6 vị thuốc Nam trừ thấp hóa đàm.
- Nghiên cứu độc tính cấp: Xác định độc tính trên chuột nhắt trắng theo đường uống, theo dõi diễn biến nhiễm độc cấp, biểu đồ tương quan tuyến tính giữa liều lượng cao lỏng HSN và tỷ lệ chuột chết nhằm xác định LD50.
- Nghiên cứu độc tính bán trường diễn: Thiết kế trên chuột cống trắng uống thuốc trong 28 ngày (4 tuần) liên tục. Các lô thí nghiệm gồm lô chứng và các lô trị với liều thử nghiệm khác nhau. Đánh giá: thể trọng hàng tuần, chỉ số huyết học (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), hoạt độ AST, ALT, nồng độ creatinin, nồng độ cholesterol toàn phần máu chuột; giải phẫu bệnh lý vi thể gan và thận dưới kính hiển vi quang học (nhuộm HE x400).
- Nghiên cứu tác dụng điều hòa lipid trên thực nghiệm:
- Mô hình nội sinh: Gây tăng lipid máu cấp bằng Poloxamer-407, so sánh nồng độ lipid giữa lô dùng HSN và lô chứng.
- Mô hình ngoại sinh: Gây tăng lipid mạn bằng hỗn hợp dầu cholesterol, đánh giá nồng độ lipid máu ở các thời điểm sau 2 tuần và 4 tuần uống thuốc thử.
- Nghiên cứu lâm sàng:
- Đối tượng bệnh nhân rối loạn lipid máu tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông.
- Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán theo Bộ Y tế (2014) và phân loại thể bệnh theo YHCT.
- Can thiệp bằng cao lỏng HSN theo liệu trình định sẵn; đối chiếu trước và sau điều trị về các triệu chứng lâm sàng YHCT, chỉ số nhân trắc (BMI theo chuẩn người châu Á), huyết áp động mạch (phân loại theo JNC VII), và bilan lipid máu (TC, TG, HDL-C, LDL-C, tỷ số TC/HDL-C, LDL/HDL).
- Kiểm soát an toàn lâm sàng qua xét nghiệm hoạt độ men gan AST, ALT, creatinin, công thức máu và ghi nhận tác dụng không mong muốn.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm và lâm sàng thông qua hệ thống bảng biểu và hình ảnh mô bệnh học:
- Kết quả nghiên cứu độc tính:
- Độc tính cấp: Xác định mối liên quan giữa liều lượng cao lỏng HSN và tỷ lệ chết của chuột thực nghiệm qua biểu đồ hồi quy tuyến tính.
- Độc tính bán trường diễn trên chuột cống trắng sau 4 tuần: Thể trọng chuột tăng trưởng bình thường; số lượng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu trong máu ngoại vi không bị ức chế; hoạt độ men gan AST, ALT và nồng độ creatinin trong máu chuột ở các lô trị không có sự sai khác bất thường so với lô chứng; nồng độ cholesterol toàn phần trong máu chuột duy trì ổn định.
- Kết quả mô bệnh học vi thể (nhuộm HE x400): Hình thái vi thể gan của lô chứng và các lô trị sau 4 tuần uống thuốc thử cho thấy tế bào gan bình thường hoặc thoái hóa nhẹ tương đương nhau; hình thái vi thể thận của chuột lô chứng và các lô trị đều thể hiện cấu trúc mô thận bình thường, không ghi nhận tổn thương hoại tử ống thận hay cầu thận.
- Kết quả thực nghiệm in vivo:
- Trên mô hình gây rối loạn lipid nội sinh bằng Poloxamer-407: Cao lỏng HSN thể hiện tác dụng làm hạ nồng độ các thành phần lipid máu so với lô đối chứng mô hình.
- Trên mô hình gây rối loạn lipid ngoại sinh bằng hỗn hợp dầu cholesterol: Cao lỏng HSN làm giảm nồng độ lipid máu thực nghiệm rõ rệt ở cả hai mốc thời gian đánh giá là sau 2 tuần và sau 4 tuần điều trị.
- Kết quả nghiên cứu trên lâm sàng:
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Phân bố theo nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phân loại thể trạng BMI ban đầu và các thói quen sinh hoạt liên quan.
- Phân loại thể bệnh: Xác định tỷ lệ các thể bệnh YHCT thường gặp trên bệnh nhân nghiên cứu (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư) và phân loại rối loạn lipid máu theo De Gennes, EAS 1987.
- Cải thiện triệu chứng lâm sàng: Ghi nhận sự thuyên giảm có ý nghĩa các triệu chứng cơ năng YHCT ở cả 3 nhóm thể bệnh (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư); giảm chỉ số BMI và huyết áp động mạch sau liệu trình.
- Biến đổi cận lâm sàng: Nồng độ TC, TG, LDL-C và các chỉ số tỷ lệ TC/HDL-C, LDL/HDL giảm có ý nghĩa thống kê; nồng độ HDL-C được cải thiện; tỷ lệ phân loại mức độ theo De Gennes và EAS chuyển biến tích cực.
- Độ an toàn lâm sàng: Các chỉ số huyết học (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và sinh hóa chức năng gan, thận (AST, ALT, creatinin) không biến đổi theo chiều hướng xấu; tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn ở mức thấp.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện giải các kết quả nghiên cứu trên cơ sở lý luận và đối chiếu với y văn:
- Luận giải cơ sở phối ngũ bài thuốc cao lỏng HSN: Phân tích vai trò dược lý học cổ truyền của 6 vị thuốc Nam theo nguyên tắc trừ thấp, kiện tỳ, hóa đàm, thông kinh hoạt lạc nhằm giải quyết gốc rễ "bản hư tiêu thực" của chứng đàm ẩm.
- Cơ sở khoa học trong việc lựa chọn thuốc đối chứng cho các thử nghiệm thực nghiệm và lâm sàng.
- Bàn luận về độ an toàn của cao lỏng HSN: Khẳng định tính an toàn qua việc xác định khoảng liều dung nạp trên độc tính cấp; chứng minh thuốc không gây độc tính bán trường diễn trên cơ quan tạo máu, chức năng gan, chức năng thận và cấu trúc mô học vi thể gan - thận chuột sau 4 tuần dùng thuốc liên tục.
- Bàn luận về cơ chế điều chỉnh lipid máu trên thực nghiệm: Đối chiếu hiệu lực ức chế tăng lipid máu của HSN trên cả hai cơ chế tổng hợp nội sinh (Poloxamer-407) và hấp thu ngoại sinh (dầu cholesterol), chứng minh bài thuốc tác động đa cơ chế.
- Bàn luận về hiệu quả điều trị lâm sàng:
- Phân tích mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với các yếu tố dịch tễ (tuổi, giới, nghề nghiệp, thói quen sinh hoạt, thể trạng thừa cân béo phì theo BMI và tăng huyết áp kèm theo).
- Biện giải cơ chế cải thiện các triệu chứng cơ năng và thực thể theo YHCT: sự phục hồi công năng vận hóa của tỳ vị, ôn dưỡng của thận và thông điều của phế giúp thanh trọc phân minh, loại bỏ đàm trọc ứ trệ.
- So sánh mức độ hạ TC, TG, LDL-C và tăng HDL-C của cao lỏng HSN với các công trình nghiên cứu YHCT trong nước (các chế phẩm Nhị trần thang gia giảm, Đại An, BBT, TMP1, Giáng chỉ tiêu khát linh...) và các nghiên cứu Giáng chỉ thang tại Trung Quốc.
- Bàn luận về tính an toàn và khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân trên thực tế lâm sàng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về lý luận và khoa học thực nghiệm:
- Luận án đã cung cấp dữ liệu khoa học thực nghiệm toàn diện về tính an toàn của cao lỏng HSN, chứng minh thuốc không gây độc tính cấp nguy hiểm và không làm biến đổi chức năng gan (AST, ALT), thận (creatinin), cơ quan tạo máu cũng như không gây tổn thương mô bệnh học vi thể gan, thận sau 4 tuần sử dụng trên động vật thực nghiệm.
- Chứng minh bằng thực nghiệm in vivo rằng cao lỏng HSN có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu trên cả hai mô hình bệnh sinh: mô hình tăng lipid máu nội sinh gây bởi Poloxamer-407 và mô hình tăng lipid máu ngoại sinh gây bởi hỗn hợp dầu cholesterol.
Về thực tiễn lâm sàng:
- Luận án đã đánh giá bài bản hiệu quả của cao lỏng HSN trong việc cải thiện các triệu chứng lâm sàng y học cổ truyền trên các thể bệnh thường gặp (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư).
- Xác định hiệu lực của bài thuốc trong việc làm giảm các chỉ số cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C, giảm các tỷ số nguy cơ tim mạch (TC/HDL-C, LDL/HDL), hỗ trợ nâng cao HDL-C, đồng thời hỗ trợ kiểm soát huyết áp động mạch và chỉ số khối cơ thể (BMI).
- Chứng minh cao lỏng HSN an toàn khi sử dụng trên bệnh nhân, không làm suy giảm chức năng gan, thận và có tỷ lệ tác dụng không mong muốn rất thấp.
Kiến nghị của luận án:
- Đề xuất ứng dụng dạng bào chế cao lỏng HSN trong hỗ trợ và điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu tại các cơ sở y tế y học cổ truyền.
- Đề xuất tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động ở mức độ sinh học phân tử và mở rộng thử nghiệm lâm sàng trên quy mô mẫu lớn hơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Văn bản nghiên cứu giới hạn việc khảo sát thực nghiệm trên hai mô hình chuột cống trắng và chuột nhắt trắng với thời gian bán trường diễn là 4 tuần; chưa khảo sát độc tính trường diễn kéo dài hơn.
- Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại một trung tâm đơn lẻ (Bệnh viện Đa khoa Hà Đông) với cỡ mẫu xác định, tập trung vào các thể bệnh y học cổ truyền chủ yếu (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư), chưa bao quát hết toàn bộ các thể bệnh hiếm gặp khác trong y văn.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để củng cố độ tin cậy thống kê trên nhiều nhóm quần thể bệnh nhân khác nhau.
- Nghiên cứu làm rõ cơ chế tác động phân tử của từng hoạt chất sinh học có trong 6 vị thuốc Nam cấu thành bài thuốc HSN lên các thụ thể LDL và enzym HMG-CoA reductase.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Y học cổ truyền, Dược học: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong việc kết hợp lý luận y học cổ truyền (chứng đàm ẩm, cơ chế tỳ thận hư, đàm trọc ứ trệ) với các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm hiện đại (mô hình Poloxamer-407, mô hình dầu cholesterol, giải phẫu bệnh vi thể HE x400).
- Bác sĩ lâm sàng chuyên khoa Y học cổ truyền và Nội khoa: Cung cấp bằng chứng thực chứng về hiệu lực điều chỉnh bilan lipid (TC, TG, LDL-C, HDL-C) và độ an toàn của bài thuốc Nam HSN, hỗ trợ cơ sở kê đơn kết hợp y học hiện đại và cổ truyền trong quản lý hội chứng rối loạn chuyển hóa.
- Các nhà nghiên cứu và sản xuất dược phẩm: Dữ liệu về dạng bào chế cao lỏng HSN từ nguồn dược liệu trong nước là cơ sở để nghiên cứu phát triển thành các chế phẩm thương mại đạt chuẩn điều trị rối loạn lipid máu.
Câu hỏi thường gặp
1. Bài thuốc HSN trong luận án gồm những thành phần gì và được bào chế dưới dạng nào?
Bài thuốc HSN được cấu tạo bởi sự phối ngũ của 6 vị thuốc Nam có công năng trừ thấp, hóa đàm, được nghiên cứu dưới dạng bào chế là cao lỏng HSN.
2. Độc tính của bài thuốc HSN được đánh giá qua những chỉ tiêu thực nghiệm nào?
Độc tính của thuốc được đánh giá qua nghiên cứu độc tính cấp (xác định biểu đồ tương quan tuyến tính liều - tỷ lệ chết trên chuột) và độc tính bán trường diễn trên chuột cống trắng trong 4 tuần (theo dõi thể trọng, số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hoạt độ AST, ALT, nồng độ creatinin, cholesterol toàn phần và xét nghiệm mô bệnh học vi thể gan, thận nhuộm HE x400). Kết quả cho thấy tế bào gan bình thường hoặc thoái hóa nhẹ tương đương lô chứng, cấu trúc mô thận bình thường, không làm biến đổi bất thường các chỉ số huyết học và sinh hóa gan thận.
3. Tác dụng điều hòa lipid máu của bài thuốc HSN trên thực nghiệm được kiểm chứng qua những mô hình nào?
Tác dụng của cao lỏng HSN được kiểm chứng trên hai mô hình thực nghiệm: mô hình rối loạn lipid máu nội sinh gây bằng hóa chất Poloxamer-407 và mô hình rối loạn lipid máu ngoại sinh gây bằng hỗn hợp dầu cholesterol (đánh giá ở các thời điểm sau 2 tuần và 4 tuần).
4. Luận án áp dụng những hệ thống tiêu chuẩn nào để phân loại và đánh giá rối loạn lipid máu?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán xác định của Bộ Y tế năm 2014, kết hợp các hệ thống phân loại quốc tế gồm bảng phân loại của De Gennes (1971), phân loại của Fredrickson, phân loại của EAS 1987 (European Atherosclerosis Society), đánh giá mức độ theo NCEP ATP III, và phân loại thể bệnh theo y học cổ truyền (Đàm trọc ứ trệ, Tỳ thận dương hư, Can thận âm hư...).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hồng Ngãi đã thực hiện khảo cứu toàn diện về độc tính, tác dụng thực nghiệm và hiệu quả lâm sàng của bài thuốc cao lỏng HSN gồm 6 vị thuốc Nam trong điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tính an toàn của bài thuốc trên thực nghiệm độc tính bán trường diễn và lâm sàng, đồng thời xác nhận hiệu lực điều hòa bilan lipid trên cả mô hình nội sinh (Poloxamer-407), ngoại sinh (dầu cholesterol) và trên người bệnh. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng quan trọng, góp phần hiện đại hóa các bài thuốc kinh nghiệm của y học cổ truyền Việt Nam.