CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm về sức khỏe Năm 1948, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hoặc thương tật” [8]. Khái niệm về bệnh Bệnh là tình trạng bất thường ảnh hưởng đến cơ thể của một sinh vật, thường được hiểu là một tình trạng liên quan với các triệu chứng và dấu hiệu cụ thể.
Nó có thể được gây ra bởi các yếu tố bên ngoài, như bệnh truyền nhiễm, hoặc có thể được gây ra bởi rối loạn chức năng bên trong, như các bệnh tự miễn dịch. Nghĩa rộng hơn, bệnh bao gồm các thương tích, khuyết tật, rối loạn, hội chứng, nhiễm trùng, triệu chứng cô lập, hành vi lệch lạc, và các biến thể không điển hình của cấu trúc và chức năng [9]. Khái niệm về trại giam Theo Nghị định 113/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28 tháng 10 năm 2008 về quy chế trại giam: “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân” [10]. Khái niệm phạm nhân Điều 1 Quy chế trại giam ban hành kèm theo Nghị định số 60-CP ngày 16 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ và sau này là Nghị định 113/2008/NĐ- CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ đã nêu rõ: “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân.
Người đang chấp hành hình phạt tù gọi là phạm nhân” [10], [11]. Phạm nhân phải là người phạm tội, nhưng người phạm tội chưa hẳn là phạm nhân. Những người phạm tội bị Tòa án xử phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, thậm chí 4 bị kết án tù nhưng cho hưởng án treo, không phải vào trại giam chấp hành án, thì không coi là phạm nhân. Điều 8 Nghị định 113/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về quy chế trại giam đã quy định ngay sau khi vào trại giam, y tế của trại giam phải khám sức khỏe cho phạm nhân, xác định tình trạng sức khỏe, bệnh của họ để lập hồ sơ sức khỏe phục vụ cho việc giam giữ, lao động, học tập và phòng chữa bệnh.
Nghị định này cũng quy định trong thời gian ở trại giam, phạm nhân được khám sức khoẻ định kỳ ít nhất một năm một lần. Giám thị trại giam dựa vào kết luận phân loại sức khoẻ để quy định chế độ lao động, học tập đối với từng phạm nhân cho phù hợp [10]. Thông tư số 58/2011/TT-BCA của Bộ Công an ngày 9 tháng 8 năm 2011 về quy định đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm quy định phạm nhân không được phép sử dụng tiền mặt trong trại giam, và phải sử dụng phiếu ăn thay tiền mặt và sử dụng đồ vật cho phép mang vào buồng giam theo đúng quy định của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng [12]. Tình hình bệnh lý của phạm nhân tại các trại giam 1.
Tình hình bệnh lý của phạm nhân tại các trại giam trên thế giới 1. Các bệnh mạn tính Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về bệnh của phạm nhân trong các trại giam. Các bệnh mạn tính thường gặp ở phạm nhân là các bệnh liên quan đến rối loạn tâm thần khá cao dao động từ 10,8-64% [13], [14], rối loạn mỡ máu 34,8% [15], tăng huyết áp 3-30,8% [13], [15], [16], [17], hen suyễn từ 4,6 -16% [13], [15], [16], [17], bệnh rối loạn cơ xương khớp, viêm khớp dao động từ 5,1- 6% [13], [16], ung thư chỉ chiếm 1% [16]. 5 Một nghiên cứu thuần tập trên các phạm nhân ung thư tại Mỹ đã chỉ ra rằng các bệnh ung thư phổ biến nhất ở phạm nhân nam là ung thư phổi (24,5%), bệnh u lympho không Hodgkin (8%) và ung thư khoang miệng và họng (7%), trong khi đó phổ biến nhất ở phạm nhân nữ là ung thư cổ tử cung (32%), ung thư vú (22%) và ung thư phổi (11%) với tỷ lệ mắc các loại ung thư này cao gấp từ 2-4 lần tỷ lệ mắc ung thư trên nhóm chứng cộng đồng được lựa chọn và có ý nghĩa thống kê [18].
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ bệnh lý của phạm nhân cao hơn rất nhiều so với cộng đồng dân cư nói chung. Nghiên cứu của Binswanger I. và cộng sự (2009) và Wilper A. và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng các phạm nhân có tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, nhồi máu cơ tim, hen suyễn và ung thư (cổ tử cung) cao hơn so với những người không bị giam cầm ở các độ tuổi và giới tính tương tự [19], [20].
Nghiên cứu thuần tập với 170.215 phạm nhân của các tác giả Jacques B. và cộng sự năm 2000 [13] tại nhà tù bang Texas - Mỹ, cho thấy có 10,8% phạm nhân có các vấn đề tâm thần kinh, 9,8% phạm nhân bị tăng huyết áp, 5,2% bị hen suyễn, 5,1% mắc các bệnh xương khớp và 2,6% phạm nhân bị tiểu đường. Kết quả nghiên cứu cắt ngang năm 2006 của Doris J. và cộng sự [14] trên 1.700 phạm nhân tại các nhà tù tại Mỹ, cho thấy có 45 - 64% phạm nhân có các vấn đề về tâm thần kinh.
Một nghiên cứu cắt ngang năm 2009 do Viện Y tế và Phúc lợi Úc tiến hành trên 549 phạm nhân mới vào trại giam cho thấy 16% phạm nhân bị hen suyễn, 6% mắc các bệnh xương khớp, 3% phạm nhân bị tăng huyết áp, 3- 5,2% phạm nhân bị tiểu đường và 1% phạm nhân bị ung thư [16]. Nghiên cứu hồi cứu số liệu từ 234.031 hồ sơ y tế của các phạm nhân do tác giả Amy J. và cộng sự tiến hành năm 2010 tại Texas cho kết quả: 18,8% phạm nhân bị tăng huyết áp, 5,4% phạm nhân bị hen suyễn và 4,2% phạm nhân bị tiểu đường [17]. Các tỷ lệ này trong nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 6 2014 của Vera-Remartínez E.
và cộng sự tại Tây Ban Nha, lần lượt là 17,8%; 4,6% và 5,3%. Ngoài ra, nghiên cứu này còn cho thấy 34,8% phạm nhân bị rối loạn mỡ máu [15]. Các bệnh truyền nhiễm Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy phạm nhân trong các trại giam có tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm cao hơn so với tỷ lệ mắc các bệnh này trên cộng đồng dân số nói chung [21]. Kết quả các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bệnh truyền nhiễm thường gặp ở các phạm nhân là bệnh lao, viêm gan B (VGB), viêm gan C (VGC), HIV/AIDS, giang mai,.
* HIV/AIDS HIV là loại vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV có thể lây truyền qua quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn, qua đường máu hoặc truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ và cho con bú. AIDS là giai đoạn tiếp theo của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn đến tử vong. Theo ước tính của WHO và chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS, trên thế giới trong năm 2016 có 1,8 triệu ca nhiễm mới HIV và tính đến cuối năm 2015 có khoảng 36,7 triệu người sống chung với HIV [23].
Tỷ lệ phạm nhân nhiễm HIV tại các trại giam trên thế giới Thiết kế Địa Cỡ mẫu Tỷ lệ STT Tác giả/năm nghiên cứu điểm (Phạm nhân) nhiễm HIV Grace E. và Nghiên cứu 1.269 1,8% cộng sự, 2004 [24] cắt ngang Andrew A. và Nghiên cứu 2.366 5,9% cộng sự, 2008 [25] cắt ngang 7 Thiết kế Địa Cỡ mẫu Tỷ lệ STT Tác giả/năm nghiên cứu điểm (Phạm nhân) nhiễm HIV Wilper A. và Nghiên cứu 3.117 0,9-1,7% cộng sự, 2009 [20] hồi cứu số liệu Gough E.
và cộng Nghiên cứu 4. Belize 623 4,0% sự, 2009 [26] cắt ngang Abdul M. và Nghiên cứu 5. Pakistan 365 2,0% cộng sự, 2010 [27] cắt ngang Viitanen P.
và cộng Nghiên cứu Phần 6. 388 0,7-1% sự, 2011 [28] cắt ngang Lan Semaille C. và Nghiên cứu 7.876 2% cộng sự, 2013 [29] cắt ngang Sergio B. và Nghiên cứu 8.
Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu khác trên thế giới với tỷ lệ nhiễm HIV được ghi nhận trên phạm nhân dao động trong khoảng 0,7-5,9% (Bảng 1. Nghiên cứu của Wilper A. và cộng sự (2009) cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở phạm nhân cao hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng nói chung [20]. * Bệnh lao Theo ước tính của WHO, lao là nguyên nhân chính cho khoảng 1,3 triệu người tử vong mỗi năm, chưa tính đến 300.000 trường hợp tử vong do lao ở người nhiễm HIV Năm 2017, khoảng 1,7 tỷ người (chiếm 23% dân số thế 8 giới) ước tính mắc lao tiềm tàng và có khả năng tiến triển thành lao trong tương lai [32].
Nhiều người trước khi vào tù đã có nguy cơ nhiễm lao hoặc mắc lao rất cao, do điều kiện sống trong tù, sự giam cầm đặt tù nhân vào nguy cơ cao nhiễm và phát triển thành bệnh lao. Trong trại giam không chỉ phổ biến bệnh lao mà còn phổ biến bệnh lao kháng thuốc do điều trị không đạt tiêu chuẩn [2], [3], [33].2 tổng hợp các tỷ lệ mắc lao tại các trại giam được ghi nhận trong các nghiên cứu trên thế giới và tỷ lệ cao nhất được ghi nhận là 20,1% trong nghiên cứu của tác giả Jacques B. và cộng sự (2000) [13]. Tỷ lệ mắc lao trong các nghiên cứu còn lại không cao, chủ yếu dao động trong khoảng 2-8% [27], [34], [35], [36].
Tỷ lệ mắc lao tại các trại giam trên thế giới Thiết kế Địa Cỡ mẫu Tỷ lệ mắc STT Tác giả/năm nghiên cứu điểm (Phạm nhân) lao phổi Jacques B. và Nghiên cứu 1.215 20,1% cộng sự, 2000 [13] thuần tập Abdul M. và Nghiên cứu 2. Pakistan 365 2,2% cộng sự, 2010 [27] cắt ngang Zelalem A.
và Nghiên cứu 3. Ethiopia 384 8,59% cộng sự, 2015 [34] cắt ngang Ali S. và cộng sự, Nghiên cứu 4.495 4,9% 2015 [35] cắt ngang Valenca M. và Nghiên cứu 5.
Brazil 764 4,7% cộng sự, 2015 [36] cắt ngang * Nhiễm vi rút HBV, HCV và mắc bệnh viêm gan B, C Bệnh VGB và bệnh VGC là các bệnh nhiễm trùng do HBV/HCV tấn công gan và có thể gây viêm gan cấp tính và mạn tính. Việc lây truyền vi rút HBV/HCV là do tiếp xúc với máu hoặc các chất dịch khác của cơ thể người 9 bị nhiễm bệnh. HBV/HCV không lây qua sữa mẹ, thức ăn hoặc nước hoặc qua tiếp xúc thông thường như ôm, hôn và dùng chung thức ăn hoặc đồ uống với người bị bệnh [37], [38], [39], [40].