Đặt vấn đề Hiện nay phương pháp hóa học được dùng phổ biến để thu nhận chất xơ bằng cách sử dụng các hóa chất đậm đặc, tức là xử lí nguyên liệu trong những điều kiện “khắc nghiệt” (môi trường axit mạnh, bazơ mạnh, nhiệt độ cao và thời gian kéo dài), thường dẫn tới làm giảm chất lượng chất xơ (Caprita R. Các hư hỏng của sản phẩm chất xơ thường gặp khi thu nhận theo phương pháp hóa học là: Biến dạng cấu trúc phân tử, giảm độ hút nước của cellulose. Bên cạnh đó việc bảo quản và sử dụng các hóa chất có độ đậm đặc cao mà đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp của công nhân gây nhiều quan ngại trong vấn đề bảo đảm an toàn và sức khỏe cho người lao động. Các hướng sử dụng chất xơ trong thực phẩm những năm gần đây không ngừng được mở rộng dẫn tới cần tìm kiếm và thử nghiệm các phương pháp mới là sử dụng enzyme để thu nhận các polymer sinh học này.
Một vấn đề có tính thời sự còn tồn tại là nghiên cứu phương pháp xử lý các chất hữu cơ tạo điều kiện thu hồi toàn bộ các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học, bên cạnh việc hướng tới phát triển bền vững trên cơ sở giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong nguyên liệu vỏ quả bưởi, chất xơ liên kết rất chặt chẽ với tinh bột, protein (pha rắn). Việc thu nhận chất xơ từ nguồn nguyên liệu này xây dựng trên căn bản là đưa protein và tinh bột về trạng thái lỏng (pha lỏng), và từ đó loại bỏ chúng ra khỏi chất xơ. Mặt khác thành phần vỏ bưởi chứa chất hữu cơ chiếm 90,2% chất khô, trong đó có tinh bột chiếm 21,5%, protein chiếm 3,95%.
Nếu không sử dụng nguồn vỏ bưởi hiệu quả sẽ gây lãng phí và ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này tập trung vào điều kiện thủy phân tinh bột và protein với mục đích thu nhận chất xơ từ vỏ bưởi.2 Mục đích nghiên cứu - Xây dựng quy trình thu nhận chất xơ từ vỏ trái bưởi quy mô phòng thí nghiệm. - Tối ưu hóa quá trình thủy phân tinh bột và protein để tìm các điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình thu nhận chất xơ đạt hiệu quả cao.3 Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu này được tiến hành ở quy mô phòng thí nghiệm. - Đối tượng nghiên cứu là vỏ trái bưởi.
- Enzyme Termamyl và Alcalase sử dụng cho nghiên cứu là sản phẩm của công ty Novozymes A/S (Bagsvaerd, Denmark).4 Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung vào các nội dung sau: - Tổng quan tài liệu về nguyên liệu vỏ bưởi và enzyme sử dụng. - Phân tích một số thành phần hóa học của vỏ bưởi. - Thiết lập quy trình công nghệ thu nhận chất xơ từ vỏ bưởi. [8] - Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng chất xơ thu nhận được trong quá trình thủy phân.
- Tối ưu hóa quá trình thủy phân. - Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ sấy đến thời gian sấy và màu sắc sản phẩm. - Đánh giá hiệu quả thu nhận xơ và khả năng hút nước của xơ vỏ bưởi.1 Ý nghĩa khoa học - Xác định được một số thành phần hóa học của vỏ bưởi. - Xác định được điều kiện để thủy phân vỏ bưởi bằng enzyme với quy mô phòng thí nghiệm.2 Ý nghĩa thực tiễn - Tận dụng phế liệu của ngành nông nghiệp để thu nhận nguồn chất xơ.
- Góp phần vào việc cung cấp chế phẩm bột xơ từ vỏ trái bưởi. [9] 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về chất xơ 2.1 Khái quát về chất xơ Chất xơ thực phẩm là hỗn hợp các polysaccharide thực vật như là cellulose, pectin, chất keo, hemicellulose, chất nhầy và lignin. Chất xơ có nhiều trong trái cây, ngũ cốc, các loại rau, củ, quả, đậu. Mỗi loại rau quả chứa loại và lượng chất xơ khác nhau, nếu loại nào càng nhiều bã và càng già thì chứa càng nhiều chất xơ.
Vì thế chất xơ hiện diện trong vỏ và thành tế bào của thực vật, chất xơ hoặc rất cứng và có dạng sợi (xơ không tan) hoặc nhầy có dạng keo (xơ tan được). Khi tan trong nước, chất xơ biến thành dạng giống như keo. Trong tế bào thực vật, chất xơ được chia thành hai loại là chất xơ không hòa tan và chất xơ hòa tan. - Chất xơ hòa tan trong nước: Bao gồm pectin, các chất keo và chất nhầy.
Nguồn cung cấp chất xơ hòa tan trong nước tốt nhất là các loại trái cây, các loại rau xanh, vỏ quả họ cam chanh, bã táo và quả dâu tây, cám kiều mạch, đại mạch, cám gạo, vỏ hạt, các loại đậu sấy khô, sữa đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành v. Chất xơ hòa tan trong nước khi đi qua ruột sẽ tạo ra thể đông làm chậm quá trình hấp thu một số chất dinh dưỡng vào máu; làm tăng độ xốp, mềm của bã thải tiêu hóa. Sợi hòa tan có xu hướng làm chậm sự di chuyển của thực phẩm qua hệ thống - Chất xơ không hòa tan trong nước: Bao gồm cellulose, hemicellulose và lignin, chúng là thành phần chính cấu tạo nên thành tế bào thực vật. Nguồn cung cấp chất xơ tốt nhất là cám gạo, cám lúa mì, cám ngô, vỏ quả, các loại hạt, các quả có hạch và vỏ trái cây, các thực phẩm nguyên hạt, các loại đậu đỗ sấy khô, cải bắp, củ cải, cà rốt, vỏ táo tây v.
Chất xơ không hòa tan trong nước có đặc tính thẩm thấu nước trong ruột, trương lên tạo điều kiện cho chất thải dễ thoát ra ngoài. Ngoài ra nó có thể được trao đổi chất trơ và cung cấp trương nở (bulking) hoặc tiền sinh, chuyển hóa lên men trong ruột già. Sợi trương nở hấp thụ nước khi chúng di chuyển qua hệ tiêu hóa, làm dịu việc đại tiện. Xơ không hòa tan lên men nhẹ thúc đẩy đi tiêu liên tục.
Sợi không hòa tan có xu hướng đẩy nhanh sự di chuyển của thực phẩm qua hệ thống.2 Đặc điểm một số loại chất xơ phổ biến 2.1 Pectin Pectin là polysaccharide phức tạp có chứa ít nhất 65% acid galacturonic được liên kết với nhau bằng liên kết α-1,4-glycoside, trong đó một số gốc –COOH được methoxyl hóa –CH3O. Pectin là hợp chất không tan trong nước, khi được thủy phân bởi axit hoặc enzyme pectin trở thành dạng hòa tan trong nước.1: Hàm lượng pectin trong nguyên liệu tươi Nguyên liệu % Pectin( trọng lượng tươi) Táo 1 -1.4 Vỏ quýt 30 Pectin không cung cấp năng lượng nhưng có nhiều giá trị trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm. - Trong công nghệ thực phẩm, pectin được dùng để chế bánh kẹo cao cấp nhờ tính chất dễ tan trong nước. Trong môi trường axit, pectin tạo thể keo, được dùng như một tác nhân đông đặc, tác nhân làm tăng độ nhớt của dung dịch.
- Trong công nghệ dược phẩm, pectin được dùng chế thuốc uống, thuốc tiêm (bắp, dưới da) để cầm máu trước và sau phẫu thuật răng hàm mặt, tai mũi họng, phụ khoa. Chữa chảy máu đường tiêu hóa, tiết niệu. Dung dịch pectin 5% còn được sử dụng như thuốc sát trùng H2O2 (nước oxy già) trong phẫu thuật răng hàm mặt, tai mũi họng (không gây xót lại cầm máu tốt) hay thấm bông nhét vào chỗ nhổ răng để cầm máu. Trên thị trường hiện có biệt dược Hacmophobin (Ðức) và Arhemapectin (Pháp).
- Bên cạnh đó, pectin còn có vai trò trong việc điều trị giảm cân ở người béo phì do kéo dài thời gian tiêu hóa thức ăn trong ruột, có tác dụng hấp thu dưỡng chất trong thức ăn nhờ đó tạo cảm giác no bụng kéo dài, giảm năng lượng ăn vào. Một chế độ ăn uống hằng ngày giàu pectin (táo, bưởi, cam …) rất có lợi cho sức khỏe tim mạch, giảm nhẹ tình trạng tăng cao lipit máu, đường máu, giảm bớt được liều lượng của các thuốc dùng hằng ngày của bệnh nhân đái tháo đường, cao huyết áp hoặc cholesterol/lipit máu cao.2 Cellulose Cellulose là cacbonhydrat cơ thể không có khả năng tiêu hóa, được tìm thấy ở lớp vỏ ngoài của các loại rau và trái cây. Là thành phần chính tạo nên lớp màng tế bào thực vật, giúp cho các mô thực vật có độ bền cơ học và tính đàn hồi. Chúng có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa bệnh trĩ, viêm ruột kết, chứng táo bón và loại bỏ các cơ chất gây ung thư cho ruột kết.
Cellulose hiện diện trong táo, các loại cải củ, các quả có hạch ở Brazil, cải xanh, carot, các loại rau họ đậu và ngũ cốc nguyên hạt. Cellulose là hợp chất tự nhiên khá bền, phần vô định hình không tan trong nước, bị trương lên do hấp thụ nước, phần kết tinh có cấu trúc trật tự cao hơn, bền vững với tác động vật lí, hoá học. Trong tế bào thực vật thì cellulose liên kết chặt chẽ với hemicellulose, lignin, pectin. Dưới tác dụng của axít vô cơ loãng ở nhiệt độ và áp suất cao thì cellulose sẽ biến thành β-glucose.
[11] Việc bổ sung cellulose vào khẩu phần ăn sẽ gây cảm giác chóng no, hơn nữa nó chứa ít chất béo, trong dạ dầy chất xơ thường có dạng gel vì vậy làm chậm quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng của hệ tiêu hóa nên cũng gây cảm giác no lâu nhờ đó giảm nhu cầu ăn của người bệnh.3 Nguồn gốc chất xơ Chất xơ cực kì quan trọng đối với cơ thể. Nó không bị tiêu hóa trong dạ dày và ra được tới ruột. Ở đó, nó cung cấp thức ăn cho vi khuẩn trong ruột tạo ra hàng loạt lợi ích cho sức khoẻ. Tuy nhiên, hầu hết mọi người chỉ ăn khoảng một nửa số đó, tương đương 15-17 gram chất xơ mỗi ngày.
Mặt khác việc tăng lượng chất xơ lại tương đối đơn giản; một số thực phẩm có nhiều chất xơ cũng rất ngon và dễ dàng đưa vào chế độ ăn uống.2: Nguồn gốc một số loại chất xơ Dinh dưỡng Phụ gia thực Nguyên liệu phẩm Các chất xơ không tan trong nước β-glucans (một vài trong số đó là hòa tan trong nước) Cellulose E 460 các loại ngũ cốc, quả, rau (trong tất cả các thực vật nói chung) Chitin — trong nấm, bộ khung ngoài của côn trùng và động vật giáp xác Hemicellulose các loại ngũ cốc, các loại cám, gỗ, các loại đậu Hexose — lúa mì, lúa mạch Pentose — lúa mạch, yến mạch Lignin — các loại hạt của quả, rau (các sợi của garden bean), các loại ngũ cốc. Xanthan E 415 sản phẩm với Xanthomonas-vi khuẩn từ các chất nền đường (trong hộp kính thí nghiệm) Các chất xơ tan trong nước Fructans thay thế hoặc bổ sung trong một số thực vật tỉ lệ tinh bột như lưu trữ carbohydrate Inulin — trong các thực vật khác nhau, vd: cúc vu, chicory, vv.