Chương 1 TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ TẬT KHÚC XẠ 1. Một số khái niệm Thị lực: là khả năng của mắt phân biệt rõ các chi tiết của vật. Hay nói cách khác, thị lực là khả năng của mắt phân biệt được hai điểm ở gần nhau [113].
Phân loại mức độ thị lực của tổ chức Y tế Thế giới Thị lực > 7/10: Bình thường Thị lực > 3/10 -7/10: Giảm Thị lực đếm ngón tay (ĐNT) 3m -3/10: Giảm nhiều Thị lực < ĐNT 3m: Mù Mắt chính thị: là mắt có cấu tạo hài hòa giữa chiều dài trục trước sau và công suất hội tụ của mắt. Khi mắt ở trạng thái không điều tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ hội tụ ở võng mạc. Bình thường, để mắt có thể nhìn thấy rõ vật, các tia sáng phải bị bẻ gãy hay gọi là “bị khuất triết” khi đi qua các môi trường quang học trong suốt của mắt như giác mạc và thể thủy tinh để hội tụ đúng trên võng mạc. Mắt như vậy gọi là mắt chính thị (có độ khúc xạ bình thường).
Mắt chính thị có chiều dài trục nhãn cầu từ 22,5 - 23mm, tương ứng với độ hội tụ của mắt khoảng 62 diop (D). Trên mắt chính thị, tiêu điểm sau trùng với võng mạc. Các tia sáng song song xuyên qua mắt sẽ hội tụ trên võng mạc. Viễn điểm xa ở vô cực [66], [64].
Mắt chính thị Mắt không chính thị: là sự khiếm khuyết giữa chiều dài trục trước sau và công suất hội tụ của mắt. Mắt không chính thị là thuật ngữ chung dùng để chỉ mắt có tật khúc xạ khi mắt đó không điều tiết. Tật khúc xạ là từ chung chỉ các tật cận thị, viễn thị và loạn thị của mắt. Khúc xạ biến đổi phức tạp, nó xác định bởi sự cân bằng giữa công suất khúc xạ của giác mạc, thủy tinh thể và chiều dài trục nhãn cầu.
Trên thực tế, trong các loại tật khúc xạ, tật cận thị chiếm tỉ lệ cao trong cộng đồng đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh, nhưng nó có thể phát triển mạnh ở cuối tuổi thiếu niên và đầu giai đoạn trưởng thành, sự tiến triển có thể tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời. Trục nhãn cầu là nhân tố biến đổi nhất trong quá trình tiến triển, có những mối tương quan mạnh về cận thị với những mắt có trục nhãn cầu dài với những mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn [111]. Ở những mắt có tật khúc xạ, các tia sáng không hội tụ trên võng mạc mà hội tụ ở trước hoặc sau võng mạc. Tật khúc xạ có nghĩa là các môi trường quang học (giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính) của mắt khúc xạ ánh sáng không đúng, do đó hình ảnh của vật mà ta nhìn thấy bị mờ.
Để phát hiện tật khúc xạ một cách sơ bộ khi thấy mắt nhìn kém, người ta dùng một phương pháp đơn giản là thử thị lực với kính lỗ, nếu qua kính lỗ mà thị lực của mắt tăng lên, thì có nghĩa mắt đó có tật khúc xạ. Thử kính lỗ sẽ làm giảm vòng mờ gây nên bởi tật khúc xạ [64], [66]. 5 Tật khúc xạ: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có 3 loại tật khúc xạ tương ứng với vị trí hội tụ ảnh của vật trên võng mạc. Nếu hội tụ trước võng mạc gọi là cận thị, ở phía sau gọi là viễn thị, nếu hình ảnh của vật không phải là một điểm mà là một đoạn thẳng có thể ở trước ở sau hoặc nửa trước nửa sau gọi là loạn thị [115].
Phân loại về mức độ tật khúc xạ [35], [21] Phân loại Nhẹ Trung bình Nặng Cận thị Dưới 3,00 độ cận 3,00 - <6,00 độ cận Trên 6,00 độ cận Viễn thị ≤ 3,00 độ viễn > 3,00 - 6,00 độ viễn > 6,00 độ viễn Loạn thị 1,00 - 3,00 độ loạn > 3,00 - 6,00 độ loạn > 6,00 độ loạn (1,00 độ cận = -1,00 D; 1,00 độ viễn = +1,00D) Trong quân đội, để đáp ứng về chuyên môn nghiệp vụ, cần phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe mà trong đó có các tiêu chuẩn về mắt. Theo Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT-BYT-BQP của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng về hướng dẫn việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, ngày 17 tháng 10 năm 2011, tiêu chuẩn phân loại sức khỏe theo tật khúc xạ như sau: Bảng 1. Tiêu chuẩn phân loại sức khỏe theo tật khúc xạ theo Thông tư liên tịch số 36/2011/TTLT-BYT-BQP của Bộ Y tế và Bộ Quốc phòng STT Bệnh tật Điểm 1 Thị lực: Thị lực mắt phải Tổng thị lực 2 mắt 10/10 19/10 1 10/10 18/10 2 9/10 17/10 3 8/10 16/10 4 6,7/10 13/10 -15/10 5 1, 2, 3, 4, 5/10 6/10 -12/10 6 2 Cận thị: 6 STT Bệnh tật Điểm - Cận thị dưới -1,5 D 2 - Cận thị từ - 1,5 D đến dưới - 3 D 3 - Cận thị từ - 3 D đến dưới - 4 D 4 - Cận thị từ - 4 D đến dưới - 5 D 5 - Cận thị từ - 5 D trở lên 6 Dựa vào thị lực - Cận thị đã phẫu thuật trên 1 năm kết quả tốt không kính tăng lên 1 điểm 3 Thoái hoá hắc võng mạc do cận thị nặng (-3D trở lên) 6 4 Viễn thị: - Viễn thị dưới + 1,5 D 3 - Viễn thị từ + 1,5 D đến dưới + 3 D 4 - Viễn thị từ + 3 D đến dưới + 4 D 5 - Viễn thị từ + 4 D đến dưới + 5 D 6 - Viễn thị đã phẫu thuật trên 1 năm kết quả tốt 4 5 Các loại loạn thị 6 Ngoài đáp ứng các tiêu chuẩn sức khỏe khác trong thông tư này, nếu ít nhất một chỉ tiêu theo bảng điểm trên đây bị điểm 3 thì phân loại sức khỏe đạt loại 3 (tình trạng sức khỏe khá), bị điểm 4 thì phân loại sức khỏe đạt loại 4 (sức khỏe trung bình); bị điểm 5 thì phân loại sức khỏe đạt loại 5 (sức khỏe kém) và điểm ≥ 6 (sức khỏe rất kém) sẽ không được gọi nhập ngũ. Cận thị: là mắt có trục trước sau dài hơn bình thường hoặc có lực khuất triết quá mạnh, do đó các tia sáng sau khi bị khuất triết sẽ hội tụ ở trước võng mạc, bất kể khi mắt có điều tiết hay không.
Mắt cận thị có thể nhìn rõ các vật ở gần nhưng lại không nhìn rõ các vật ở xa [64], [66], [105]. Sơ đồ quang học mắt cận thị Mắt cận thị thường có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ lớn. Ở mắt cận thị không điều tiết, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa được hội tụ ở phía trước võng mạc [2], [111]. Cận thị có thể là do di truyền hoặc mắc phải do mắt phải làm việc ở khoảng cách gần quá nhiều.
Cận thị di truyền thường phát hiện ở trẻ em từ 8 đến 12 tuổi. Từ 10 đến 20 tuổi, khi cơ thể phát triển, thì mắt cũng dài ra và cận thị cũng tiến triển nhanh, từ 20- 40 tuổi, độ cận thị ít [87], [97]. Khi nhìn gần, mắt phải điều tiết để nhìn vật cho rõ. Khi đó, thể thủy tinh của mắt căng phồng lên để đưa ảnh của vật hội tụ trên võng mạc.
Khi nhìn xa, mắt giảm điều tiết, thể thủy tinh lại xẹp xuống. Bình thường, khoảng cách thích hợp khi làm việc gần từ mắt đến sách, vở hoặc máy vi tính là 33- 40 cm. Nếu mắt phải làm việc ở khoảng cách gần liên tục nhiều giờ trong ngày, nhiều ngày liền trong tháng, đặc biệt là trong điều kiện thiếu ánh sáng thì thể thủy tinh của mắt luôn luôn ở trong tình trạng điều tiết, bị căng phồng gây nên tình trạng mệt mỏi, căng cứng điều tiết. Nếu mắt không được nghỉ ngơi, đến một lúc nào đó thể thủy tinh không còn chức năng co dãn, lực điều tiết của con mắt luôn duy trì ở mức quá mạnh, lúc đó mắt đã trở thành cận thị.
Đó chính là tật cận thị mắc phải hay ta thường gọi là cận thị học đường. Cận thị không chỉ gây khó khăn cho việc học tập, làm việc mà khi bị cận thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính (mắt nhìn thấy nhiều vật lơ lửng như ruồi bay trước mắt) hoặc bong võng mạc gây mù. Do vậy, người bị cận thị cần đi kiểm tra thị lực và khám mắt định kỳ để theo dõi các tổn thương ở võng mạc mắt cận thị. Nếu đã bị bong 8 võng mạc, cần điều trị càng sớm càng tốt bằng phẫu thuật ở các trung tâm nhãn khoa.
Để khắc phục tật cận thị, dùng kính cầu phân kỳ. - Phân loại cận thị + Theo lâm sàng, nguyên nhân Cận thị học đường: là loại cận thị mắc phải trong lứa tuổi đi học, độ cận thị ≤ - 6D, là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt làm cho ảnh của vật được hội tụ ở phía trước của võng mạc, nhưng chiều dài trục nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt chỉ tăng ít và không kèm theo những tổn thương bệnh lý khác. Ở mắt cận thị học đường, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa sau khi bị khuất triết sẽ được hội tụ ở phía trước võng mạc bất kể mắt có điều tiết hay không. Trên thực tế, sự điều tiết ở mắt cận thị học đường sẽ làm cho mắt bị mờ hơn.
Cận thị học đường thường gặp do trục trước sau nhãn cầu quá dài hoặc các thành phần khúc xạ quá mạnh. Cận thị bệnh lý: là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của mắt vượt quá giới hạn bình thường. Có thể gặp các loại cận thị bệnh lý như cận thị có kèm theo những thoái hoá ở đĩa thị và hắc võng mạc và cận thị bệnh lý do biến dạng giác mạc và thể thủy tinh (giác mạc hình chóp, thể thủy tinh hình cầu trong các hội chứng bẩm sinh). + Theo cơ chế bệnh sinh Cận thị khúc xạ: Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh qui định) trong khi chiều dài trục nhãn cầu bình thường.
Loại này hay gặp trong cận thị học đường. Khi mắt phải nhìn gần với cường độ lớn và trong một thời gian dài, thể thủy tinh phồng lên làm tăng độ hội tụ của mắt, lúc này muốn nhìn rõ phải đưa vật lại gần mắt. Những vật ở xa mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị.