Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về cao khô Cần tây (Apium graveolens L. Đặc điểm thực vật học dược liệu Cần tây Tên khoa học Apium graveolens L. Thuộc họ Hoa tán Apiaceae (Umbeliferae).
Mô tả cây Cây thảo, thân mọc thẳng đứng, cao tới 1,50 mét, nhẵn, có nhiều rãnh dọc, chia nhiều cành, mọc đứng. Lá ở gốc có cuống, hình thuôn hay ba cạnh, hơi có dạng năm cạnh, xẻ ba hay chia ba thùy cho tới phía giữa phiến, các thùy ba cạnh, dạng mắt chim, tù có khía lượn tai bèo. Lá giữa và lá ngọn không cuống, chia ba hoặc xẻ ba hoặc không chia thùy. Cụm hoa gồm nhiều tán, các tán ở đầu cành có cuống dài hơn các tán bên.
Không có tổng bao. Hoa nhỏ màu trắng nhạt. Cán quả chia đôi, mang hai quả hình cầu, dạng trứng, nhẵn, có cạnh lồi chạy dọc, không nổi rõ lắm [6]. Phân bố, thu hái và chế biến Là loại cây di nhập vào nước ta từ rất sớm, hiện được trồng phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt những vùng có khí hậu mát mẻ.
Thu hái Cần tây hầu như phát triển quanh năm nhưng vụ đông xuân cho sản lượng cao và chất lượng tốt nhất. Chế biến: dược liệu Cần tây được cắt nhỏ thành từng khúc khoảng 4-8 centimet, phơi hoặc sấy khô. Bên cạnh đó, Cần tây dạng bột là một chế phẩm phổ biến trên thị trường. Ngoài ra, nước ép Cần tây tươi là thức uống thải độc được ưa chuộng hiện nay.1: Cây Cần tây (Apium graveolens L.) (Nguồn: Otto Wilhelm Thomé) Thành phần hóa học: Toàn cây Cần tây có tinh dầu, quả Cần tây chứa 90,5% là nước; 1,95% hợp chất nitơ; 0,07% chất béo; 1,15% xenluloza và 1,31% tro.
Khi chưng cất cho 2 đến 3% tinh dầu không màu, rất lỏng, mùi thơm của Cần tây. Thành phần hóa học chủ yếu của tinh dầu là những carbua terpen: D.limonen, silinen, một serquiterpen stiben, giaicola, những lacton: sedanolit C12H18O3 và anhydrit sedanoic. Tinh dầu của rễ Cần tây có tác dụng kháng nấm và kháng khuẩn trên tụ cầu vàng Albus, Shiglla dysenteriae, Salmonella typhi, Streptococcus faecalis, liên cầu Pyogenes và Salanacearum 5 [36]. Đặc biệt, hydro-alcoholic trong Cần tây bước đầu được xác định là có tác dụng hạ lipid máu và điều hòa đường huyết [17], [37], [39].
Hạt Cần tây là một nguyên liệu tiềm năng cho sản xuất chất diệt côn trùng, thay thế hóa chất tổng hợp đang được sử dụng [11], [40]. Công dụng: Cần tây có tác dụng hạ huyết áp [6], [32], phòng ngừa bệnh tim mạch [35], có tác dụng trong điều trị gút [5], [34], tác dụng giảm béo [30], [42] và nhiều tác dụng dược lý khác đã được chứng minh[31], [33]. Trên các nghiên cứu thực nghiệm, Cần tây cho thấy tác dụng giảm glucose máu ở chuột tiểu đường [29], [44], chống viêm [20]. Rễ và lá Cần tây có đặc tính chống oxy hóa mạnh theo cơ chế loại bỏ gốc -OH và –DPPH, làm giảm mức độ nghiêm trọng của quá trình peroxy hóa [41], [45].
Hợp chất alcol perillyl trong hạt Cần tây làm chậm phát triển các khối u của tuyến tụy, gan và vú [29], [35]. Dịch chiết lá và rễ của Cần tây có ảnh hưởng đến các thông số sinh hóa như nồng độ glutathione, hoạt động của các men như catalase, xanthine oxidase, glutathione peroxidase [18], [26]. Cao khô theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V Định nghĩa: Cao thuốc là chế phẩm được chế bằng cách cô hoặc sấy đến thể chất quy định các dịch chiết thu được từ dược liệu thực vật hay động vật với các dung môi thích hợp [2]. Cao khô là khối hoặc bột khô, đồng nhất nhưng rất dễ hút ẩm.
Cao khô không được có độ ẩm lớn hơn 5%. Phương pháp điều chế cao khô: thường có 2 giai đoạn. Giai đoạn I: Chiết xuất dược liệu bằng các dung môi thích hợp. Tùy theo bản chất của dược liệu, dung môi, tiêu chuẩn chất lượng của thành phẩm cũng như điều kiện, quy mô sản xuất và trang thiết bị, có thể sử dụng các phương pháp chiết xuất khác nhau [2].
Giai đoạn II: Dịch chiết được cô đặc đến khi dung môi dùng để chiết xuất còn lại không quá 20% được cao đặc. Để điều chế cao khô, tiếp tục sấy 6 khô để độ ẩm còn lại không quá 5% [2]. Yêu cầu chất lượng cao khô: Đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luận riêng trong Phụ lục 10.14 Dược điển Việt Nam V [2]. Bảo quản cao khô: Cao khô được đựng trong bao bì kín, để nơi khô, mát, tránh ánh sáng, nhiệt độ ít thay đổi.
Tổng quan về chuột nhắt trắng Trong hai thập kỷ qua, chuột thí nghiệm đã luôn là mô hình ưa thích trong nghiên cứu y sinh. Mặc dù chuột có kích thước nhỏ nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình chuột để nghiên cứu nhiều quá trình sinh lý học. Năm 2002 Venter và cộng sự đã hoàn thành giải trình tự bộ gen của chuột nhắt và công bố một số bản đồ di truyền và vật lý của bộ gen này. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù có những khác biệt rõ ràng về thể chất, nhưng các gen của người và chuột giống nhau khoảng 99% với khoảng 30.000 gen của người có bản sao trên bộ gen của chuột nhắt [21].
Từ đó, các nhà khoa học có thể nghiên cứu mô hình bệnh tật của người trên chuột nhắt bằng cách gây mô hình tương ứng hoặc nghiên cứu một gen cụ thể hay các gen liên quan đến một kiểu hình bệnh trong mô hình chuột giờ đây có thể xác định một gen tương ứng của con người tạo ra một thực thể bệnh tương tự. Đặc điểm sinh lý chuột nhắt trắng Dòng chuột nhắt trắng thuần chủng (Swiss albino) có bộ lông ngắn, màu trắng, mắt đỏ, tai to vừa phải và đuôi có ít lông. Chiều dài cơ thể trưởng thành (từ mũi đến gốc đuôi) là 7,5 - 10cm và chiều dài đuôi khoảng 5 - 10cm. Bên cạnh sự giống nhau về bộ gen, đặc điểm sinh lý chuột nhắt trắng cũng tương đồng với con người về mặt cấu trúc và chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể như hệ thống tim mạch ngoại trừ kích thước tim, nhịp tim và các biến thể nhỏ trong giải phẫu, còn lại hệ thống tim mạch ở người và chuột nhắt rất giống nhau, trái tim của chuột có kích thước tương đương với một cục tẩy 7 bút chì, nặng khoảng 100–200 mg và đập 500–800 lần/phút, trong khi trái tim con người nặng khoảng 250–300 g và đập trung bình 60–100 lần/phút (Wessels và Sedmera 2003), vì thân chuột song song với mặt đất, tim chuột không nằm trên cơ hoành giống như trái tim con người do đó tim chuột có nhiều chỗ hơn để di chuyển trong khoang màng ngoài tim [21]; hệ tiêu hóa có cấu trúc ống tiêu hóa tương tự con người bao gồm vùng miệng có hệ thống răng, vùng hầu họng, tuyến nước bọt, thực quản, dạ dày, tuyến tụy, các tuyến ngoại tiết khác, gan, mật, ruột; chức năng sinh lý tiêu hóa ở chuột cũng tương tự như con [21].
Bên cạnh những đặc điểm chung của loài, chuột nhắt trắng đực còn có hành vi xã hội đặc trưng là tính lãnh đạo trong đàn, hiện tượng đánh dấu lãnh thổ và tranh giành nguồn thức ăn. Cấu trúc cơ thể chuột nhắt theo từng phần được thể hiện qua hình 1.2 sau đây: Hình 1.2: Cấu trúc cơ thể chuột nhắt trắng theo từng phần (Nguồn: The Mouse in Biomedical Research) a) Cấu trúc cơ thể chuột nhắt trắng b) Cấu tạo bộ phận sinh dục chuột cái c) Cấu tạo bộ phận sinh dục chuột đực 8 Hình 1.3: Tim chuột (Nguồn: The Mouse in Biomedical Research) a) nhìn từ bên trái, phân nhánh của động mạch chủ b) nhìn từ bên phải, phân nhánh của tĩnh mạch chủ bên phải 1. Phương pháp đánh giá độc tính cấp 1. Một số khái niệm Độc tính của thuốc: độc tính (toxicity) của thuốc là tính chất được biểu hiện bằng tác dụng không mong muốn, có hại cho cơ thể.
Độc tính của thuốc có thể nhẹ như thay đổi hành vi, thay đổi vận động, buồn nôn, mẫn ngứa, có thể rất nặng, thậm chí gây chết. Độc tính cấp của thuốc: độc tính cấp (acute toxicity) của thuốc là độc tính xảy ra sau khi dùng thuốc một lần hoặc vài ba lần trong ngày. Nghiên cứu độc tính cấp của thuốc trên động vật thí nghiệm là xác định liều chết trung bình (mean lethal dose) hay liều làm chết 50% số động vật thí nghiệm trong những điều kiện nhất định, được ký hiệu là LD50 (lethal 9 dose 50%) và độc tính cấp không gây chết nhưng ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể, ảnh hưởng lên trạng thái vận động, khả năng tiêu thụ thức ăn, tình trạng chất thải của động vật thí nghiệm [7]. Nguyên tắc xác định độc tính cấp Nguyên tắc thí nghiệm: Động vật thí nghiệm được chia thành nhiều lô tương tự nhau về giới tính, khối lượng.
Mỗi lô dùng một liều (tính theo cân nặng). Các lô khác nhau dùng liều chất nghiên cứu khác nhau. Đánh giá theo nguyên tắc “tất cả hoặc không" (chết hoặc sống). Ghi nhận tỉ lệ tử vong của các nhóm trong thời gian theo dõi nhất định (24-72 giờ).
Dùng các phương pháp tính toán để xác định LD50 của thuốc thử. Các trường hợp không xác định được LD50 : Một thuốc dự đoán liều điều trị có tác dụng là 30 mg một ngày cho một người lớn nặng 50 kg. Như vậy, liều dùng có tác dụng ở người là 0,6 mg/kg. Cho chuột nhắt trắng uống một liều gấp 500 lần liều đó, tức là 300 mg/kg cân nặng, chuột vẫn không chết có thể kết luận là thuốc có độ an toàn cao [4].
Yêu cầu về động vật thí nghiệm: tốt nhất thử nghiệm trên cả loài gặm nhấm và không gặm nhấm. Tuy nhiên độc tính cấp thường thử nghiệm trên chuột nhắt trắng hoặc chuột cống trắng. Thường dùng cả hai giới đực và cái, tốt nhất dùng 50% đực, 50% cái. Động vật thí nghiệm phải được nuôi trong điều kiện môi trường thí nghiệm, yên tĩnh, thoáng khí, nhiệt độ từ 20–30°C, độ ẩm phù hợp, không gian đảm bảo chu kì sáng tối là 12:12 giờ.
Có thể nuôi nhốt theo từng lô tương ứng với các mức liều thử đối với các loài động vật nhỏ như chuột nhắt trắng. Chế độ ăn uống bình thường đủ năng lượng, dinh dưỡng và phải đảm bảo đồng đều giữa các lô. Dùng những con trưởng thành hoặc sắp trưởng thành; không dùng những con quá non, quá già hoặc đang mang thai, không dùng những con có bệnh. Số lượng động vật thí nghiệm ở 10 mỗi nhóm nên bằng nhau, khoảng 06-20 con/nhóm đối với loài gặm nhấm như chuột nhắt trắng.
Số nhóm động vật thí nghiệm ít nhất là 04 nhóm trong đó có một nhóm dùng nhiều LD0 và một nhóm dùng liều LD100.