Nguyễn Anh Tiến: Phân tích sử dụng kháng sinh điều trị VPCĐ tại BV Tây Bắc Nghệ An

Phân tích chuyên sâu về việc sử dụng kháng sinh trong điều trị Viêm Phổi Cộng Đồng (VPCĐ) tại tỉnh Nghệ An. Đánh giá hiệu quả, đề xuất giải pháp tối ưu hóa.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm phổi mắc phải cộng đồng và sử dụng kháng sinh

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPCĐ) là bệnh lý nhiễm trùng đường hô hấp dưới thường gặp, xảy ra ngoài bệnh viện hoặc trong vòng 48 giờ nhập viện. Bệnh do nhiều tác nhân gây ra, trong đó phế cầu khuẩn Streptococcus pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất. Tại Việt Nam, VPCĐ là nguyên nhân nhập viện phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi và người có bệnh nền. Việc sử dụng kháng sinh điều trị VPCĐ tuân theo nguyên tắc chọn kháng sinh theo kinh nghiệm dựa trên mức độ nặng, yếu tố nguy cơ và đặc điểm dịch tễ địa phương. Phác đồ điều trị thường bao gồm beta-lactam kết hợp macrolid hoặc fluoroquinolon hô hấp. Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An giai đoạn 2019 cho thấy việc đánh giá thực trạng kê đơn kháng sinh giúp phát hiện tồn tại và đề xuất cải thiện chất lượng điều trị.

1.1. Định nghĩa và yếu tố nguy cơ của VPCĐ

VPCĐ được định nghĩa là nhiễm trùng nhu mô phổi mắc phải ngoài cộng đồng, biểu hiện bằng sốt, ho, khó thở và thâm nhiễm phổi trên X-quang ngực. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch và nhập viện gần đây. Việc xác định yếu tố nguy cơ giúp bác sĩ dự đoán tác nhân gây bệnh và lựa chọn kháng sinh phù hợp. Thang điểm CURB-65 được sử dụng phổ biến để đánh giá mức độ nặng và hướng dẫn quyết định điều trị nội trú hay ngoại trú.

1.2. Nguyên tắc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm

Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm là khởi đầu kháng sinh trước khi có kết quả cấy vi khuẩn. Nguyên tắc lựa chọn dựa trên mức độ nặng đánh giá bằng CURB-65, yếu tố nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc và đặc điểm dịch tễ địa phương. VPCĐ nhẹ thường dùng amoxicillin hoặc macrolid đơn trị liệu. VPCĐ trung bình dùng beta-lactam kết hợp macrolid. VPCĐ nặng cần kháng sinh phổ rộng như amoxicillin/clavulanate phối hợp clarithromycin đường tĩnh mạch. Việc đánh giá đáp ứng sau 48-72 giờ là bước quan trọng để quyết định duy trì hoặc thay đổi phác đồ.

II. Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị VPCĐ tại Nghệ An

Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019, trên 131 bệnh nhân VPCĐ nhập viện. Kết quả cho thấy nhóm tuổi trung bình là 55,7 tuổi với tỷ lệ nam giới chiếm 58,8%. Các kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất là ceftriaxone, azithromycin và amoxicillin/clavulanate. Đáng chú ý, 86,3% bệnh nhân không phải thay đổi phác đồ kháng sinh ban đầu, cho thấy hiệu quả điều trị theo kinh nghiệm khá tốt. Tuy nhiên, 13,7% bệnh nhân phải thay đổi phác đồ, chủ yếu do triệu chứng không giảm sau 3-5 ngày điều trị. Việc sử dụng kháng sinh phối hợp chiếm tỷ lệ cao, phản ánh xu hướng điều trị VPCĐ trung bình và nặng tại bệnh viện khu vực.

2.1. Đặc điểm sử dụng kháng sinh và phác đồ điều trị

Phân tích dữ liệu cho thấy phác đồ kháng sinh đơn chiếm 71% trường hợp, trong đó cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng nhiều nhất. Phác đồ phối hợp chiếm 29%, thường kết hợp beta-lactam với macrolid. Thời gian sử dụng kháng sinh trung bình là 7-10 ngày đường tĩnh mạch, sau đó chuyển sang đường uống. Việc chuyển đổi từ đường tiêm sang uống được thực hiện khi bệnh nhân hết sốt, bạch cầu trở về bình thường và dung nạp được đường uống. Đây là nguyên tắc quan trọng giúp giảm thời gian nằm viện và chi phí điều trị.

2.2. Các tồn tại trong kê đơn kháng sinh điều trị VPCĐ

Nghiên cứu phát hiện một số tồn tại trong thực hành kê đơn. Thứ nhất, tỷ lệ sử dụng fluoroquinolon hô hấp cao hơn khuyến cáo cho VPCĐ nhẹ-trung bình. Thứ hai, một số trường hợp chưa tuân thủ nguyên tắc chuyển đổi đường tiêm sang đường uống kịp thời. Thứ ba, 13,7% bệnh nhân phải thay đổi phác đồ do đáp ứng kém, trong đó 77,8% do triệu chứng không giảm. Nguyên nhân có thể liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc hoặc chẩn đoán ban đầu chưa chính xác. Việc ghi chép lý do thay đổi phác đồ trong bệnh án cũng chưa đầy đủ.

III. Giải pháp tối ưu hóa sử dụng kháng sinh trong điều trị VPCĐ

Để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm kháng thuốc, nhiều giải pháp cần được triển khai tại bệnh viện khu vực. Trước hết, xây dựng phác đồ điều trị VPCĐ dựa trên bằng chứng địa phương, cập nhật kháng sinh đồ hàng năm. Thứ hai, áp dụng hệ thống đánh giá mức độ nặng CURB-65 nghiêm ngặt để phân tầng bệnh nhân và chọn kháng sinh phù hợp. Thứ ba, triển khai chương trình quản lý kháng sinh (Antibiotic Stewardship) với sự tham gia của đa chuyên khoa. Thứ tư, tăng cường vai trò dược lâm sàng trong giám sát kê đơn, can thiệp khi phát hiện sử dụng không hợp lý. Cuối cùng, đào tạo liên tục cho nhân viên y tế về hướng dẫn điều trị VPCĐ mới nhất và nguyên tắc sử dụng kháng sinh có trách nhiệm.

3.1. Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hóa tại bệnh viện

Phác đồ điều trị chuẩn hóa cần dựa trên hướng dẫn quốc gia và dữ liệu kháng sinh đồ tại địa phương. Bệnh viện Tây Bắc Nghệ An nên thành lập hội đồng thuốc và điều trị để xây dựng, cập nhật phác đồ hàng năm. Phác đồ cần phân rõ điều trị VPCĐ theo mức độ nhẹ, trung bình, nặng với kháng sinh cụ thể và liều lượng chi tiết. Đồng thời, xây dựng quy trình chuyển đổi đường tiêm sang đường uống với tiêu chí đánh giá rõ ràng. Việc áp dụng phác đồ chuẩn giúp giảm biến động kê đơn, tăng tính nhất quán và dễ dàng đánh giá tuân thủ.

3.2. Nâng cao vai trò dược lâm sàng trong giám sát kháng sinh

Dược lâm sàng đóng vai trò then chốt trong chương trình quản lý kháng sinh. Dược sĩ cần tham gia đánh giá tính hợp lý của kê đơn kháng sinh dựa trên chẩn đoán, mức độ nặng và đặc điểm bệnh nhân. Các can thiệp bao gồm đề xuất điều chỉnh liều theo chức năng thận, nhắc nhở chuyển đổi đường tiêm sang uống và cảnh báo tương tác thuốc. Nghiên cứu tại Nghệ An cho thấy việc giám sát kê đơn giúp phát hiện tỷ lệ sử dụng fluoroquinolon cao, từ đó điều chỉnh phác đồ phù hợp hơn. Đào tạo dược sĩ lâm sàng chuyên sâu về nhiễm trùng là đầu tư cần thiết.

IV. Kết luận và ứng dụng thực hành lâm sàng tại Nghệ An

Nghiên cứu phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị VPCĐ tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc Nghệ An cung cấp bằng chứng quan trọng về thực trạng kê đơn. Kết quả cho thấy phần lớn phác đồ điều trị đạt hiệu quả với 86,3% bệnh nhân không cần thay đổi kháng sinh. Tuy nhiên, một số tồn tại cần khắc phục như sử dụng fluoroquinolon chưa phù hợp, thời gian chuyển đổi đường tiêm sang uống chưa tối ưu và ghi chép bệnh án chưa đầy đủ. Các giải pháp đề xuất bao gồm chuẩn hóa phác đồ, triển khai quản lý kháng sinh và tăng cường vai trò dược lâm sàng. Những kết quả này có giá trị tham khảo cho các bệnh viện khu vực tương tự trong việc cải thiện chất lượng điều trị VPCĐ và giảm gánh nặng kháng thuốc.

4.1. Ý nghĩa của nghiên cứu đối với thực hành kê đơn

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tế về mô hình sử dụng kháng sinh tại bệnh viện khu vực Tây Bắc Nghệ An, giúp các nhà lâm sàng đánh giá lại thói quen kê đơn. Việc 86,3% bệnh nhân đáp ứng tốt với phác đồ ban đầu chứng tỏ nguyên tắc điều trị theo kinh nghiệm đang được áp dụng tương đối hiệu quả. Tuy nhiên, tỷ lệ 13,7% thay đổi phác đồ cho thấy cần cải thiện đánh giá ban đầu và theo dõi sát đáp ứng điều trị. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ghi chép đầy đủ lý do thay đổi phác đồ để phục vụ đánh giá chất lượng và nghiên cứu sau này.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị cho tương lai

Để tiếp tục cải thiện sử dụng kháng sinh, bệnh viện cần triển khai nghiên cứu kháng sinh đồ định kỳ nhằm cập nhật dữ liệu kháng thuốc tại địa phương. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm các trường hợp điều trị thất bại dựa trên tiêu chí lâm sàng và cận lâm sàng. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý kê đơn và giám sát sử dụng kháng sinh. Hợp tác với Trường Đại học Dược Hà Nội và các trung tâm nghiên cứu để đào tạo nguồn nhân lực dược lâm sàng. Cuối cùng, mở rộng nghiên cứu đa trung tâm tại các bệnh viện khu vực khác ở Nghệ An để có cái nhìn toàn diện hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Nguyễn anh tiến phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại bệnh viện đa khoa khu vực tây bắc tỉnh nghệ an luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) là một bệnh lý nhiễm khuẩn đƣờng hô hấp thƣờng gặp, có tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cao tại Việt Nam và trên thế giới. Sử dụng kháng sinh là biện pháp quan trọng nhất trong điều trị VPCĐ. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý có thể dẫn đến giảm hiệu quả điều trị, tốn chi phí của ngƣời bệnh và gia tăng khả năng kháng thuốc của vi khuẩn. Vì vậy, lựa chọn và sử dụng kháng sinh hợp lý có vai trò vô cùng quan trọng trong điều trị bệnh lý nhiễm khuẩn này.

Đặc biệt việc lựa chọn và sử dụng kháng sinh thƣờng căn cứ trên các hƣớng dẫn điều trị (HDĐT) ban hành. Việc xây dựng, ban hành và tuân thủ các hƣớng dẫn điều trị chuẩn đã đƣợc chứng minh giúp nâng cao tính hợp lý, an toàn trong thực hành lâm sàng nói chung và sử dụng thuốc nói riêng. Chính vì vậy, việc xây dựng, cập nhật sửa đổi HDĐT tại các nƣớc hoặc tại các cơ sở khám chữa bệnh luôn là một hoạt động cần đƣợc chú trọng. Các nội dung cập nhật và hƣớng dẫn điều trị thƣờng căn cứ vào các nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc, đặc điểm vi khuẩn và tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn.

Năm 2015 Bộ Y tế đã ban hành “Hƣớng dẫn sử dụng kháng sinh” [5] để căn cứ vào đó và đƣa ra quyết định lâm sàng với các bệnh lý nhiễm khuẩn, trong đó có bệnh lý VPCĐ với những khuyến cáo quan trọng về lựa chọn kháng sinh trong điều trị bệnh lý này. Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An là bệnh viện hạng 2 thuộc tuyến tỉnh, qui mô 450 giƣờng bệnh. Với điều kiện khí hậu và xã hội đặc thù, hàng năm bệnh viện tiếp nhận rất nhiều lƣợt bệnh nhân điều trị về các bệnh đƣờng hô hấp. Tỷ lệ bệnh nhân mắc VPCĐ điều trị tại bệnh viện ĐKKV Tây Bắc là tƣơng đối cao.

Tuy nhiên hiện tại bệnh viện chƣa thực hiện chƣơng trình quản lý sử dụng kháng sinh, chƣa có hƣớng dẫn điều trị viêm phổi cộng đồng, cơ sở vật chất trang thiết bị cho khoa vi sinh chƣa đầy đủ, chƣa có nghiên cứu nào về việc sử dụng kháng sinh 1 trong điều trị viêm phổi tại cộng đồng ở bệnh viện. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài. "Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An" với hai mục tiêu: 1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân và tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại bệnh viện ĐKKV Tây Bắc tỉnh Nghệ An.

Phân tích tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh và hiệu quả điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An. Từ đó làm rõ những vấn đề bất cập, tồn tại trong sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng làm cơ sở đề xuất những giải pháp nhằm tăng cƣờng sử dụng kháng sinh hợp lý tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An trong những năm tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM PHỔI MẮC PHẢI Ở CỘNG ĐỒNG 1. Định nghĩa Viêm phổi mắc phải cộng đồng (VPMPCĐ) là tình trạng nhiễm trùng của nhu mô phổi xảy ra ở cộng đồng, bên ngoài bệnh viện, bao gồm viêm phế nang, ống và túi phế nang, tiểu phế quản tận hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi.

Đặc điểm chung có hội chứng đông đặc phổi và bóng mờ đông đặc phế nang hoặc tổn thƣơng mô kẽ trên phim X quang phổi. Bệnh thƣờng do vi khuẩn, virus, nấm và một số tác nhân khác, nhƣng không do trực khuẩn lao. Dịch tễ VPMPCĐ là một căn bệnh phổ biến ảnh hƣởng đến khoảng 450 triệu ngƣời mỗi năm và xảy ra ở tất cả các nơi trên thế giới. Tại Nhật, tỉ lệ mắc VPCĐ của ngƣời trƣởng thành là 9,6/1000 ngƣời/năm [28].

Đây là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở các nhóm tuổi gây 4 triệu ca tử vong (7% tổng số tử vong trên thế giới) hàng năm. Trung bình, tỷ lệ mắc và tử vong ở ngƣời già cao hơn so với tỷ lệ mắc và tử vong ở ngƣời trƣởng thành [21]. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ em dƣới năm tuổi và ngƣời lớn > 75 tuổi, hay gặp ở nhóm phải nhập viện điều trị, tỉ lệ tử vong chung lên đến 28% mỗi năm [22]. Theo WHO (2015) viêm phổi là căn nguyên gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau đột quỵ và nhồi máu cơ tim.

Tỷ lệ mắc VPMPCĐ ở các nƣớc đang phát triển cao hơn gấp 5 lần so với các nƣớc phát triển. Ở Việt Nam, VPMPCĐ là một bệnh lý nhiễm khuẩn thƣờng gặp nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn trên thực hành lâm sàng, chiếm 12% các bệnh phổi. Tại khoa Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai từ theo thống kê từ 1996-2000: viêm phổi chiếm 9,57%, đứng hàng thứ tƣ sau các bệnh: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lao, ung thƣ phổi [7]. Năm 2014, tỷ lệ mắc viêm phổi ở nƣớc ta là 561/100.000 ngƣời dân, đứng hàng thứ hai sau tăng huyết áp, tỷ lệ tử vong do 3 viêm phổi là 1,32/100.000 ngƣời dân, đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong [6].1 Nguyên nhân gây VPCĐ Các nguyên nhân gây viêm phổi thƣờng gặp là: Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Staphylococcus aureus, Moraxella catarrhalis, Legionella pneumophila, Chlamydia pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae, trực khuẩn gram âm (Pseudomonas aeruginosae, E.

pneumoniae là tác nhân gây VPCĐ thƣờng gặp nhất [27] Các virus nhƣ virus cúm thông thƣờng và một số virus mới xuất hiện nhƣ virus cúm gia cầm, SARS – corona virus… cũng có thể gây nên viêm phổi nặng, lây lan nguy hiểm. Theo nghiên cứu của Takahashi và cộng sự, tại Việt Nam H. Pneumoniae và virut cúm A là tác nhân gây bệnh chính. [31] Bệnh thƣờng xảy ra về mùa đông hoặc khi tiếp xúc với lạnh.

Tuổi cao, nghiện rƣợu, suy giảm miễn dịch là các yếu tố nguy cơ viêm phổi. Chấn thƣơng sọ não, hôn mê, mắc các bệnh phải nằm điều trị lâu, nằm viện trƣớc đó, có dùng kháng sinh trƣớc đó, giãn phế quản là các yếu tố nguy cơ viêm phổi do các vi khuẩn Gram âm và P. Bệnh hô hấp mạn tính và hội chứng suy hô hấp cấp tính là yếu tố dự báo độc lập của một nhiễm trùng đa vi khuẩn [18]. Động kinh, suy giảm miễn dịch, suy tim, hút thuốc lá, nghiện rƣợu, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, cắt lách, bệnh hồng cầu hình liềm là các yếu tố nguy cơ viêm phổi do S.

Các trƣờng hợp biến dạng lồng ngực, gù, vẹo cột sống; bệnh tai mũi họng nhƣ viêm xoang, viêm amidan; tình trạng vệ sinh răng miệng kém, viêm lợi dễ bị nhiễm các vi khuẩn yếm khí. Viêm phổi do các virus (nhất là virus cúm) chiếm khoảng 10% các bệnh nhân (BN). Các BN viêm phổi virus nặng thƣờng bị bội nhiễm vi khuẩn. Tác nhân thƣờng gặp gây VPCĐ Mức độ nặng của bệnh Tác nhân gây bệnh Streptococcus pneumonia Mycoplasma pneumonia VPCĐ mức độ nhẹ Heamophilus influenza (điều trị ngoại trú) Chlamydophila pneumonia Các virus hô hấp Streptococcus pneumonia Mycoplasma pneumonia Heamophilus influenza Chlamydophila pneumonia VPCĐ mức độ trung bình Nhiễm trùng phối hợp (điều trị nội trú khoa hô hấp) Vi khuẩn Gram âm đường ruột Vi khuẩn kỵ khí (viêm phổi hít) Các virus hô hấp Legionella spp Streptococcus pneumonia Vi khuẩn Gram âm đường ruột VPCĐ mức độ nặng Staphylococcus aureus (điều trị nội trú khoa hồi sức tích Legionella spp cực) Mycoplasma pneumonia Các virus hô hấp Pseudomonas aeruginosae 1.

Tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây VPCĐ Trong các tác nhân gây VPCĐ, có khoảng 6% là các vi khuẩn đa kháng thuốc. Vi khuẩn đa kháng thuốc thƣờng gặp nhất là S. 5 Nghiên cứu gần đây của châu Âu cho thấy có đến 3,3 – 7,6% căn nguyên đa kháng phân lập đƣợc từ các ca VPCĐ, trong đó phổ biến nhất là MRSA. Vì khuyến cáo hiện nay điều trị VPCĐ theo kinh nghiệm là sử dụng nhóm betalactam cùng nhóm macrolid hoặc nhóm quinolon, nhƣng với MRSA thì không phù hợp nên các chẩn đoán vi sinh về căn nguyên gây bệnh là rất quan trọng cho việc chọn lựa kháng sinh phù hợp [19].aeruginosa không phải căn nguyên gây VPCĐ thƣờng gặp nhƣng ở những bệnh nhân VPCĐ phải điều trị tại các khoa hồi sức tích cực thì P.aeruginosa chiếm 1,8 – 8,3% và tỷ lệ gây tử vong là 50 – 100%.

Sử dụng kháng sinh từ trƣớc đƣợc cho là yếu tố nguy cơ đƣa đến VPCĐ do P.aeruginosa đa kháng thuốc.[18] Trong hai thập kỷ gần đây, S.pneumoniae có sự gia tăng đề kháng với một số nhóm kháng sinh nhƣ cephalosporin, macrolid và fluoroquinolon. Nguyên nhân là từ việc đƣa vắc xin phòng S.pneumoniae vào sử dụng, dẫn đến giảm các tuýp có vắc xin phòng bệnh nhƣng các tuýp trƣớc kia hiếm gặp lại trở nên phổ biến. Tỷ lệ kháng macrolid khoảng 20% – 40% nhƣng sự đề kháng này ít gây ảnh hƣởng đến kết quả điều trị vì macrolid đơn trị liệu thƣờng không đƣợc khuyến cáo. Trong nghiên cứu đa trung tâm SOAR cho thấy S.pneumoniae còn nhạy cảm cao (>70%) với penicillin tiêm.

Nguyên nhân gây VPCĐ ở Việt Nam Nghiên cứu tại ba bệnh viện gồm: bệnh viện Nhiệt đới trung ƣơng, bệnh viện đa khoa Đống Đa và bệnh viện Đức Giang, tiến hành trên 142 bệnh nhân VPCĐ cho thấy căn nguyên vi khuẩn thƣờng gặp nhất là M.[31] 6 Và nghiên cứu khác trên 154 bệnh nhân VPCĐ tại bệnh viện Khánh Hòa lại thấy các tác nhân thƣờng gặp là H. Còn các virus phát hiện đƣợc gồm có Influenza A virus, Influenza B virus, Rhinovirus, Adenovirus và RSV. Các nghiên cứu đƣợc thực hiện chủ yếu dựa trên bằng chứng nuôi cấy nên chỉ phát hiện đƣợc các tác nhân có thể nuôi cấy đƣợc. Có một nghiên cứu gần đây sử dụng kỹ thuật nuôi cấy và real-time PCR phát hiện tác nhân gây VPCĐ trên những bệnh nhân điều trị ngoại trú tại 4 bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả phân lập cho thấy nguyên nhân chủ yếu là H. Nhƣng thử nghiệm PCR lại phát hiện đƣợc S.pneumoniae có tỷ lệ cao nhất (71,3%), và có 21,7% là các tác nhân virus (Rhinovirus, Influenza virus, Parainfluenza virus). Đáng chú ý là những trƣờng hợp VPCĐ trong nghiên cứu này thấy một tỷ lệ rất lớn (76,4%) các trƣờng hợp nhiễm đa tác nhân. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đƣợc tiến hành tại các bệnh viện trung ƣơng hoặc tuyến tỉnh lớn và số lƣợng chủng thu thập đƣợc trong các nghiên cứu không đủ lớn để đại diện cho quần thể nguyên nhân gây VPCĐ.

Hơn nữa, các kết quả vi sinh cũng phụ thuộc nhiều vào phƣơng pháp làm kháng sinh đồ cũng nhƣ nhiều yếu tố khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ