Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I: Phân tích sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trong điều trị bệnh cơ xương khớp tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa

Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trong điều trị bệnh cơ xương khớp tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa. Nghiên cứu chuyên ngành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thuốc giảm đau chống viêm trong bệnh cơ xương khớp

Bệnh cơ xương khớp là nhóm bệnh phổ biến ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Các bệnh thường gặp bao gồm thoái hóa khớp gối, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, viêm quanh khớp vai, đau thần kinh tọa và hội chứng cổ - vai - cánh tay. Thuốc giảm đau chống viêm đóng vai trò trung tâm trong điều trị. Hai nhóm thuốc chính được sử dụng là thuốc chống viêm không steroid (NSAID) và thuốc chống viêm glucocorticoid (GC). NSAID giúp giảm đau và viêm hiệu quả ở mức độ trung bình. GC có tác dụng chống viêm mạnh hơn nhưng đi kèm nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng. Việc lựa chọn thuốc phù hợp phụ thuộc vào mức độ bệnh, tình trạng sức khỏe và nguy cơ biến chứng của từng bệnh nhân. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa năm 2020 đã phân tích thực trạng sử dụng thuốc này trên 100 bệnh nhân.

1.1. Các nhóm thuốc giảm đau chống viêm thường dùng

NSAID là nhóm thuốc được kê đơn rộng rãi nhất trong điều trị bệnh cơ xương khớp. Các hoạt chất phổ biến bao gồm diclofenac, meloxicam, celecoxib và piroxicam. Thuốc hoạt động bằng cách ức chế enzyme cyclooxygenase (COX), giảm tổng hợp prostaglandin gây viêm và đau. Glucocorticoid gồm methylprednisolon, prednisolon có tác dụng chống viêm mạnh hơn. GC được chỉ định trong các đợt viêm cấp tính nặng. Mỗi nhóm thuốc có ưu nhược điểm riêng cần cân nhắc kỹ lưỡng.

1.2. Dịch tễ học bệnh cơ xương khớp tại Việt Nam

II. Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm thực tế

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2020 tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa. Mẫu nghiên cứu gồm 100 bệnh nhân được điều trị nội trú. Kết quả cho thấy methylprednisolon đường uống được sử dụng trung bình 13 ngày. Thời gian dùng đường tiêm ngắn hơn, trung bình 4,5 ngày. 100% bệnh nhân dùng GC đường uống đều uống vào buổi sáng. Đây là quy ước quan trọng giúp giảm tác dụng phụ lên trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận. NSAID chiếm tỷ lệ kê đơn cao nhất trong nhóm thuốc giảm đau chống viêm. Tuy nhiên, việc sử dụng kết hợp NSAID với GC làm tăng nguy cơ loét tiêu hóa gần 4 lần. Các biến cố bất lợi trên hệ tiêu hóa, tim mạch và cơ xương cần được theo dõi chặt chẽ.

2.1. Đánh giá thời gian và liều dùng thuốc glucocorticoid

2.2. Đánh giá nguy cơ biến chứng trên bệnh nhân sử dụng thuốc

III. Giải pháp tối ưu hóa sử dụng thuốc giảm đau chống viêm an toàn

Tối ưu hóa sử dụng thuốc giảm đau chống viêm đòi hỏi tiếp cận đa chiều. Nguyên tắc đầu tiên là dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất. Đối với GC, nên uống vào buổi sáng để bắt chước nhịp sinh lý cortisol. Cần đánh giá nguy cơ loãng xương trước và trong khi dùng GC kéo dài. Bổ sung canxi và vitamin D là biện pháp dự phòng cơ bản. Sử dụng NSAID chọn lọc COX-2 giảm nguy cơ tác dụng phụ trên tiêu hóa. Tuy nhiên, cần cân nhắc nguy cơ tim mạch. Kết hợp thuốc với vật lý trị liệu mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn. Giáo dục bệnh nhân về tác dụng phụ và cách nhận biết triệu chứng báo động rất quan trọng. Theo dõi định kỳ chức năng gan, thận, huyết áp giúp phát hiện sớm biến cố bất lợi.

3.1. Nguyên tắc kê đơn an toàn cho bác sĩ lâm sàng

3.2. Vai trò của dược sĩ lâm sàng trong theo dõi điều trị

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong lâm sàng

Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa. Methylprednisolon và các NSAID là hai nhóm thuốc chủ đạo. Thời gian sử dụng GC đường uống trung bình 13 ngày là hợp lý. Việc uống GC vào buổi sáng được tuân thủ tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ đánh giá nguy cơ loãng xương còn hạn chế. Cần tăng cường giám sát tác dụng phụ, đặc biệt trên hệ tiêu hóa và tim mạch. Ứng dụng kết hợp thuốc với vật lý trị liệu cho kết quả khả quan. Nghiên cứu đề xuất xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hóa. Đào tạo liên tục cho nhân viên y tế về kê đơn hợp lý là cần thiết. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng tại các bệnh viện phục hồi chức năng tuyến tỉnh tương tự.

4.1. Hướng phát triển và đề xuất nghiên cứu tiếp theo

4.2. Ứng dụng kết quả vào thực hành lâm sàng hàng ngày

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Lê thị na phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trong điều trị các bệnh cơ xƣơng khớp tại bệnh viện phục hồi chức năng thanh hóa luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nếu bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong thì đối với nguyên nhân gây ra sự tàn phế, khó có căn bệnh nào có thể vượt qua được các bệnh lý về cơ, xương, khớp. Căn bệnh này dần trở nên phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây và trở thành mối lo ngại của nhiều người. Theo các chuyên gia y tế, tuổi thọ con người càng được nâng cao thì tỷ lệ các bệnh xương khớp ngày càng phổ biến. Tại Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn "già hóa" từ năm 2011 với số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm 7% tổng dân số.

Hiện nay, số người cao tuổi (trên 65 tuổi) là 7,4 triệu người, chiếm 7,7% tổng dân số. Đến năm 2050, con số này sẽ tăng lên mức 22,3 triệu người, chiếm 20,4% tổng dân số. Bệnh lý xương khớp tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng nếu không được xử lý sớm và đúng cách sẽ trở thành mạn tính, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống [12]. Điều trị các bệnh lý cơ xương khớp thông thường phối hợp nhiều các biện pháp khác nhau, trong đó việc dùng thuốc giảm đau chống viêm để điều trị cho bệnh nhân là khá phổ biến, đặc biệt nhóm thuốc giảm đau chống viêm steroid và non-steroid được sử dụng rộng rãi ngay trong các cơ sở y tế và ngoài cộng đồng.

Tuy nhiên, ngay cả trong các cơ sở y tế việc lựa chọn thuốc, dạng dùng, đường dùng, thời gian dùng của các thuốc này không phải khi nào cũng hợp lý. Chính vì vậy, đi kèm với hiệu quả điều trị sẽ có rất nhiều tác dụng không mong muốn và việc lạm dụng nó sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hại cho sức khỏe [16], [18]. Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa là bệnh viên chuyên khoa tuyến tỉnh hạng 2, khám và điều trị cho các bệnh nhân chuyên ngành phục hồi chức năng, trong đó các bệnh thường gặp về cơ xương khớp chiếm một tỷ lệ khá cao trong bệnh viện. Chính vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng điều trị và hạn chế tối đa các tác dụng không mong muốn của thuốc, mang lại lợi ích thiết thực cho người bệnh.

Với vai trò là dược sỹ lâm sàng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị các bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện phục hồi chức năng Thanh Hóa” với các mục tiêu sau: 1 1. Khảo sát đặc điểm bệnh nhân điều trị bệnh cơ, xương, khớp tại bệnh viện phục hồi chức năng Thanh Hóa. Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị bệnh cơ, xương, khớp tại Bệnh viện phục hồi chức năng Thanh Hóa. Tổng quan về bệnh cơ xƣơng khớp 1.

Khái niệm bệnh cơ xương khớp - Bệnh cơ xương khớp là những bệnh lý gây rối loạn chức năng sinh lý của cơ xương khớp. Với các triệu chứng chính là hiện tượng đau nhức, hạn chế vận động [20], [19]. - Một số nguyên nhân đau xương khớp mạn tính thường gặp: Các bệnh có diễn biến mạn tính, có kèm đợt cấp tính: gút, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống. Các bệnh có diễn biến mạn tính: gút, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, thoái hóa khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn, hoại tử vô khuẩn đầu trên xương đùi, đau xơ cơ (fibromyalgie), đau xương khớp do trầm cảm [1], [2].

- Các phương pháp điều trị bệnh cơ xương khớp gồm: Các biện pháp không dùng thuốc, biện pháp dùng thuốc và điều trị ngoại khoa [6], [7]. + Biện pháp không dùng thuốc Một số phương pháp như: vật lý trị liệu (điện trị liệu, nhiệt trị liệu, ánh sáng trị liệu,…), châm cứu, phục hồi chức năng [6] + Biện pháp không dùng thuốc hay điều trị nội khoa: Thuốc hóa dược: thuốc điều trị triệu chứng các thuốc kháng viêm không steroid, corticosteroids, thuốc giãn cơ, thuốc giảm đau thần kinh và một số thuốc điều trị cơ bản khác [6], [7]. Thuốc YHCT: chế phẩm y học cổ truyền + Điều trị ngoại khoa [6], [7]. - Một số bệnh cơ xương khớp thường gặp tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Thanh Hóa + Đau thần kinh tọa + Hội chứng cổ - vai- cánh tay 3 + Thoái hóa cột sống thắt lưng + Thoái hóa khớp gối + Viêm quanh khớp vai + Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 1.

Đau thần kinh tọa - Định nghĩa: đau thần kinh tọa còn gọi là đau thần kinh hông to, biểu hiện bởi cảm giác đau dọc theo đường đi của thần kinh tọa: đau tại cột sống thắt lưng lan tới mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mắt cá ngoài và tận ở các ngón chân. Tùy theo vị trí tổn thương mà hướng lan của đau có khác nhau. Thường gặp đau thần kinh tọa một bên, ở lứa tuổi lao động (30 - 50 tuổi). Trước kia tỷ lệ nam cao hơn nữ, song các nghiên cứu năm 2011 cho thấy tỷ lệ nữ cao hơn nam.

- Nguyên nhân: Nguyên nhân thường gặp nhất là do thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, thoái hóa cột sống thắt lưng, hẹp ống sống thắt lưng. Các nhóm nguyên nhân thoái hóa này có thể kết hợp với nhau. Tỷ lệ đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại cộng đồng miền Bắc Việt Nam là 0,64% (2010) [6], [7]. - Phương pháp điều trị dùng thuốc: + Nhóm giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp thuốc giảm đau trung ương nhẹ như codein hoặc tramadol.

+ Thuốc chống viêm không steroid: dùng một trong các NSAID không chọn lọc hoặc có ức chế chọn lọc COX - 2 như ibubrofen, naproxen, piroxicam, meloxicam, celecoxib. Để giảm nguy cơ tiêu hóa (đặc biệt khi sử dụng các NSAID không chọn lọc) nên xem xét sử dụng phối hợp với một thuốc bảo vệ dạ dày thuốc nhóm ức chế bơm proton (PPI). + Thuốc giãn cơ: tolperison hoặc eperison. + Thuốc giảm đau thần kinh: gapapentin, pregabalin… + Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin + Tiêm glucocorticoid ngoài màng cứng [6].

+ Thuốc y học cổ truyền 4 1. Hội chứng cổ - vai- cánh tay - Định nghĩa: hội chứng cổ vai cánh tay còn gọi là hội chứng vai cánh tay (scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (cervical radiculopathy), là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [6]. - Nguyên nhân: Nguyên nhân thường gặp nhất (70-80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, hậu quả là gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp.

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20-25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ [6]. - Phương pháp điều trị bằng thuốc: + Nhóm giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp opiad nhẹ như codein hoặc tramadol. + Thuốc kháng viêm không steroid: diclofenac, piroxicam, meloxicam, celecoxib, etoricoxib. + Thuốc giãn cơ: epirison, tolperison, hoặc mephenesin, hoặc diazepam + Các vitamin nhóm B (B1, B6, B12), mecobalamin.

+ Corticosteroid đường uống: prednisolone, methylprednisolone. + Thuốc y học cổ truyền 1. Thoái hóa cột sống thắt lưng - Định nghĩa: Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch.

[6] 5 - Nguyên nhân: Thoái hóa cột sống là hậu quả của nhiều yếu tố: tuổi cao; nữ; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động … Do tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp, phần xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa cột sống. - Phương pháp điều trị dùng thuốc: + Thuốc giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO: paracetamol, paracetamol kết hợp với codein hoặc kết hợp với tramadol, opiat và dẫn xuất của opiat. + Thuốc chống viêm không steroid: diclofenac, meloxicam, piroxicam, celecoxib thuốc chống viêm bôi ngoài da: diclofenac gel, profenid gel + Thuốc giãn cơ: eperison, tolperisone (viên 50mg, 150mg): 2-6 viên/ngày. + Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm: piascledine 300mg, chondroitin sulphat.

+ Tiêm corticoid tại chỗ: tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison acetat, hoặc methyl prednisolon acetate + Thuốc y học cổ truyền 1. Thoái hóa khớp gối - Định nghĩa: thoái hoá khớp gối là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và huỷ hoại của sụn và xương dưới sụn. Sự mất cân bằng này có thể được bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hoá và chấn thương, biểu hiện cuối cùng của thoái hóa khớp là các thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hoá, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn. - Dịch tễ: Bệnh thường gặp ở nữ giới, chiếm 80% các trường hợp thoái hóa khớp gối.

Thường gặp ở người sau 60 tuổi, tuy nhiên thoái hoá khớp thứ phát gặp ở 6 nhiều lứa tuổi [6]. - Phương pháp điều trị dùng thuốc: + Nhóm giảm đau: paracetamol hoặc kết hợp opiat nhẹ như codein hoặc tramadol [6]. + Thuốc kháng viêm không steroid: etoricoxib, celecoxib, meloxicam; thuốc chống viêm không steroid khác: diclofenac, piroxicam. + Corticosteroid: không có chỉ định cho đường toàn thân [6] + Thuốc giãn cơ: tolperison.

+ Thuốc y học cổ truyền 1. Viêm quanh khớp vai - Định nghĩa: Viêm quanh khớp vai (Periarthritis humeroscapularis) là thuật ngữ dùng chung cho các bệnh lý viêm các cấu trúc phần mềm quanh khớp vai: gân, túi thanh dịch, bao khớp; không bao gồm các bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp và màng hoạt dịch như viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp… - Theo Welfling (1981) có bốn thể lâm sàng của viêm quanh khớp vai: + Đau vai đơn thuần thường do bệnh lý gân. + Đau vai cấp do lắng đọng vi tinh thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ