đặt vấn đề phẫu thuật trừ trường hợp phải phẫu thuật. Bất động trong thời kỳ cấp tính: Đây là nguyên tắc quan trọng đầu tiên trong điều trị nội khoa. Bất động trên giường phải hoàn toàn liên tục, chính xác và kéo dài đủ thời gian. Bệnh nhân được nằm ngửa trên giường gồm 3 tấm ván cứng dày ít nhất 2 – 3cm, nối với nhau bởi các bản lề.
Thời gian điều trị từ 5 tới 7 ngày hoặc lâu hơn. Dùng thuốc: Thường dùng các thuốc chống viêm giảm đau không steroid đường uống được chỉ định trong thời kỳ cấp và trong đợt tái phát. Có thể kết hợp dùng các thuốc an thần giãn cơ nhẹ, các vitamin nhóm B liều cao và một số thuốc giảm đau thần kinh khác. Trong các trường hợp đau nặng, thuốc giảm đau chống viêm thông thường không có hiệu quả thì xem xét chỉ định điều trị bằng corticoid và các phương pháp phong bế thần kinh 24.2 Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng Các bài tập trên giường: Bắt đầu sớm, cẩn thận và thận trọng, tăng dần chủ yếu là các động tác nhằm mục đích duy trì sự mềm dẻo và tuần hoàn chung phòng ngừa sự teo cơ 25.
Kéo giãn cột sống thắt lưng: Đây là phương pháp điều tri bệnh sinh TVĐĐ và thoái hóa đĩa đệm. Do nó làm giảm áp lực tải trọng một cách mạnh mẽ tạo điều kiện chuyển dịch hướng tâm cho nhân nhày đĩa đệm, tăng cường xâm nhập các chất chuyển hóa vào trong nhân đĩa đệm. Ngoài ra còn mốt số phương pháp vật lý trị liệu khác như: Điện xung, điện phân dẫn thuốc, siêu âm điều trị, đặp farafin, điều trị bằng điện từ trường… kết hợp để giảm đau chống viêm, giãn cơ 26. Can thiệp 8 Phương pháp điều trị phẫu thuật: Mục đích là lấy bỏ nhân nhầy thoát vị chèn ép vào tủy hoặc rễ thần kinh.
Chỉ định tuyệt đối trong các trường hợp TVĐĐ có hội chứng đuôi ngựa hoặc hội chứng chèn ép rễ thần kinh một hoặc hai bên gây liệt và đau nhiều. Chỉ định tương đối: sau điều trị nội 3 tháng không hiệu quả với các biểu hiện đau rễ hoặc TVĐĐ mạn tính tái phát kèm đau rễ 21,22,27. Đau thần kinh tọa theo y học cổ truyền 1. Bệnh danh Đau thần kinh tọa do TVĐĐ được mô tả trong chứng tý của YHCT.
Trong các y văn cổ như Hoàng đế nội kinh tố vấn đã mô tả với nhiều bệnh danh khác nhau: Yêu cước thống, tọa cốt phong, tọa điếm phong. Tý có nghĩa là bế tắc, chứng tý theo YHCT là một chứng bệnh với biểu hiện đau do khí huyết lưu chuyển trong kinh mạch bị tắc trở gây nên 28,29,30. Ngoại nhân Do tà khí bên ngoài cơ thể thừa lúc tấu lý sơ hở xâm nhập kinh túc thái bàng quang và kinh túc thái dương đởm gây nên bệnh. Phong tà: Phong là gió, chủ về mùa xuân, có tính chất di chuyển, xuất hiện đột ngột.
Vì thế mà “yêu thống, yêu cước thống” cũng xuất hiện đột ngột, diễn biến nhanh và đau lan truyền theo đường đi của kinh túc thái dương bàng quang và kinh túc thiếu dương đởm (tương ứng với đau vùng đau cột sống thắt lưng và đau lan theo đường đi 2 rễ L5 – S1 của dây tọa). Hàn tà: Chủ về mùa đông, có tính chất ngưng trệ, gây co rút cân cơ, ngoài ra gây cảm giác đau buốt như xuyên, ố hàn (sợ lạnh). Thấp tà: Chủ về cuối mùa hạ, thường có xu hướng phát triển từ dưới lên. Trong TVĐĐ ít có biểu hiện của thấp, song cũng có một số triệu chứng như cảm giác tê bì, nặng nề, rêu lưỡi nhờn dính, chất lưỡi bệu.
Bệnh thường do ba tà khí phối hợp với nhau mà ra 29,30. Nội Thương Do chính khí hư yếu, rối loạn chức năng các tạng phủ nhất là tạng can và tạng thận. Chức năng của hai tạng can và thận bị rối loạn sẽ làm ảnh hưởng hai phủ đởm và bàng quang, làm ảnh hưởng tới sự chu lưu của khí huyết của kinh túc thái dương bàng quang, túc thiếu dương đởm, túc quyết âm can và túc thiếu âm thận. Bệnh lâu ngày chính khí càng hư yếu không đủ sức chống đỡ lại sự tấn công của tà khí, kết quả là tà khí càng làm tổn thương chính khí nhiều hơn 28,29.
Bất nội ngoại nhân Do bê vác vật nặng sai tư thế, do bị sang chấn làm huyết ứ, khí trệ, dẫn tới bế tắc kinh khí của các kinh bàng quang, đởm… gây nên đau và hạn chế vận động 28,29. Các thể lâm sàng Theo YHCT yêu cước thống được phân loại thành 4 thể: thể phong hàn, thể can thận hư, thể huyết ứ và thể thấp nhiệt 31. Thể phong hàn Triệu chứng lâm sàng thường gặp là đau sau khi nhiễm lạnh, đau từ thắt lưng hoặc từ mông lan xuống chân, đi lại khó khăn, đau tăng khi lạnh, chườn ấm dễ chịu, thường có điểm đau khu trú, chưa teo cơ, sợ gió, sợ lạnh, tay chân lạnh, chân bên bị bệnh lạnh hơn chân lành, tiểu tiện trong, đại tiện bình thường, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoặc mạch phù khẩn. Phép điều trị là “Khu phong tán hàn trừ thấp, thông kinh hoạt lạc”.
Phương thuốc hay dùng là “Can khương thương truật linh phụ thang” hoặc “Đại tần giao thang”. Khi châm cứu thì ôn điện châm: Nếu đau theo kinh bàng quang (đau kiểu rễ S1): Giáp tích L4 – L5, L5 – S1, Thận du, Đại trường du, Dương quan, Thượng liêu, Trật biên, Thừa phù, Ân môn, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn; Nếu đau theo đường kinh Đởm (đau kiểu rễ L5): Giáp tích L4 – L5, L5 – S1, Thận du, Đại trường du, Thượng liêu, Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Giải 10 khê; Nếu đau cả hai kinh Bàng quang và kinh Đởm thì châm các huyệt ở cả hai kinh. Xoa bóp, bấm huyệt dùng các thủ thuật lăn, day, vờn, bóp, bấm huyệt, vận động hai bên cột sống từ D12 đến mông 28,29,30,31. Thể can thận hư Kết hợp phong hàn thấp Triệu chứng lâm sàng các triệu chứng hay gặp là: Đau vùng thắt lưng lan xuống chân theo đường đi của dây thần kinh hông to.
Đau có cảm giác tê bì, nặng nề, teo cơ, bệnh kéo dài, dễ tái phát. Thường kèm theo triệu chứng ăn ngủ kém, ngủ ít, tiểu tiện trong, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng dầy và nhớt, mạch nhu hoãn hoặc trầm nhược. Phép điều trị là “Khu phong tán hàn trừ thấp, hoạt huyết, bổ can thận”, nếu teo cơ thêm các vị bổ khí huyết. Phương dược hay sử dụng bài “Độc hoạt tang ký sinh thang gia giảm”.
Châm cứu các huyệt như thể trên. Xoa bóp, bấm huyệt: dùng các thủ thuật lăn, day, vờn, bóp, bấm huyệt, vận động hai bên cột sống từ D12 đến mông 28,29,30,31. Thể thấp nhiệt Triệu chứng lâm sàng: Đau cảm giác nóng rát, đau nhức như kim châm. Chân đau nóng hơn so với bên lành, chất lưỡi vàng mỏng hoặc dày, mạch sác.
Pháp điều trị là “Thanh nhiệt trừ thấp, hành khí hoạt huyết”. Phương dược hay dùng “Ý dĩ nhân thang” hợp “Nhị trần tán gia giảm”. Điện châm các huyệt như trên31. Thể khí trệ huyết ứ Triệu chứng lâm sàng thường gặp là: Đau dữ dội một điểm, đột ngột lan xuống chân, chất lưỡi đỏ tím, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng hoặc vàng, mạch sáp.
Pháp điều trị là “Hành khí hoạt huyết khứ ứ, thông kinh hoạt lạc”. Phương dược hay dùng “Tứ vật đào hồng”. Châm cứu các huyệt như trên, thêm Huyết hải 31. Tổng quan về phương pháp tác động cột sống và điện châm 11 1.
Phương pháp tác động cột sống 1. Khái niệm Tác động cột sống Việt Nam là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mà dùng phần mềm của đầu ngón tay tác động lên cột sống một lực thích hợp, có thể là nhẹ nhất như gãi ở trên đầu gai sau đốt sống hoặc là lực mạnh nhất là lực của cả cánh tay tác động lên cột sống vùng thắt lưng hoặc vùng xương cùng theo hướng trục và hướng tâm cột sống giúp cho cột sống tự điều chỉnh, tự lập lại cân bằng để khỏi bệnh 14. Lịch sử phát triển Xuất phát từ kinh nghiệm dân gian tại quê hương ở xã Hoàng Xá huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ, dùng bàn tay vuốt dọc cột sống để chữa những triệu chứng đau cơ năng, lương y Nguyễn Tham Tán đã phát hiện và nghiên cứu phương pháp Tác động cột sống để chữa bệnh từ năm 1947. Từ những năm 1970 của thế kỷ trước, lương y Nguyễn Tham Tán được Bộ y Tế biên chế vào làm việc tại khoa Đông y bệnh viện Bạch Mai và từ năm 1981 cho đến trước lúc mất, lương y Nguyễn Tham Tán là giảng viên giảng dạy phương pháp Tác động cột sống tại Trường y học dân tộc Tuệ Tĩnh trung ương 14.
Cơ sở khoa học Cơ sở lý luận của phương pháp dựa trên cơ sở giải phẫu học cơ thể người, sinh lý học và sinh lý bệnh học cơ thể người. Cơ chế điều trị dựa trên cơ chế phản xạ thần kinh. Trên cơ thể người, hệ thần kinh trung ương gồm có Não và Tủy sống. Não nằm trong hộp sọ và tủy sống nằm trong ống sống.
Não bộ điều khiển toàn bộ hoạt động sống của cơ thể thông qua những đường dẫn truyền ở trong tủy sống. Tủy sống có các tiết đoạn thần kinh tủy sống tương ứng với các đốt sống. Mỗi một tiết đoạn thần kinh tủy sống chi phối một số cơ quan nội tạng trong cơ thể. 12 Vì vậy tủy sống vừa là trung tâm dẫn truyền các xung thần kinh (li tâm và hướng tâm) và còn là những trung tâm điều khiển một số phản xạ của cơ thể.
Khi trong cơ thể có bệnh hay những triệu chứng bệnh thì trên những đốt sống tương ứng sẽ xuất hiện những phản xạ bệnh lý. Xác định được những điểm phản xạ bệnh lý này, ta tác động một lực thích hợp với những thủ thuật thích hợp, hướng và chiều thích hợp để xóa dần phản xạ bệnh lý đó đi, lập lại cân bằng cho cơ thể để khỏi bệnh 14. Tác động cột sống là tác động vào hệ thống thần kinh, nhằm điều hoạt động của hệ thần kinh thực vật hay thần kinh động vật tùy theo ý định của thầy thuốc trong phòng và chữa bệnh. Những đặc điểm của phương pháp tác động cột sống Phương pháp Tác động cột sống Việt Nam là một phương pháp chữa bệnh hoàn chỉnh, có đầy đủ những nội dung và yêu cầu của phương pháp khám bệnh và phương pháp chữa bệnh, trong đó vừa khám vừa chữa bệnh, vừa tiên lượng bệnh cùng một lúc.