Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất lượng dịch vụ y tế 1. Chất lượng dịch vụ Có khá nhiều định nghĩa và việc đo lường chất lượng dịch vụ phần lớn bắt nguồn từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá. Theo Parasura Man, Zeithaml & Berry (1985) trong mô hình Khoảng cách chất lượng dịch vụ: cảm nhận chất lượng dịch vụ là sự so sánh giữa mong đợi của khách hàng với việc thực hiện dịch vụ của nhà cung cấp, và đánh giá chất lượng dịch vụ không phải chỉ dựa vào kết quả thực hiện dịch vụ mà phải bao gồm cả quá trình thực hiện.
Năm 1992, tác giả Cronin và Taylor đã ngiên cứu các khái niệm, phương pháp đo lường chất lượng dịch vụ và mối quan hệ với sự hài lòng cũng như thiện chí mua hàng của khách hàng, từ đó đưa ra kết luận rằng yếu tố nhận thức là công cụ dự báo tốt hơn về chất lượng dịch vụ và đề xuất mô hình đánh giá dựa trên kết quả thực hiện. Việc đo lường chất lượng dịch vụ theo mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor được xem là một phương pháp thuận tiện và rõ ràng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên đo lường thông qua kết quả thể hiện của chất lượng dịch vụ. Theo đó, chất lượng dịch vụ được đánh giá chỉ thông qua nhận thức của khách hàng mà không có đánh giá về chất lượng dịch vụ trong sự kỳ vọng của khách hàng, không có trọng số cho từng thành phần chất lượng dịch vụ [25]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chất lượng dịch vụ y tế tác động đến sự hài lòng người bệnh (NB) và ngược lại sự hài lòng của NB có thể đánh giá được hiệu quả của dịch vụ do Bệnh viện (BV) và ngành y tế cung cấp.
Vì vậy, NB chính là đối tượng trực tiếp xác định việc đánh giá uy tín chất lượng phục vụ dịch vụ của cơ sở y tế, trong đó một phần quan trọng là đánh giá tinh thần, thái độ, trách nhiệm phục vụ của nhân viên y tế (NVYT).Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Dịch vụ khám chữa bệnh là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình. Thực tế, người bệnh ít khi 5 đánh giá chính xác chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất. Một người bệnh được phẫu thuật khó lòng biết được “chất lượng” của ca mổ như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mổ và vết mổ được nhìn thấy [4].
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm hai thành phần: chất lượng kỹ thuật (technical quality) và chất lượng chức năng (functional quality). Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh [4]. Chất lượng kỹ thuật: là “những giá trị vốn có trong dịch vụ”.
Chất lượng kỹ thuật trong dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (CSSK) theo ý nghĩa đó bao gồm: năng lực (trình độ chuyên môn), kết quả điều trị. Các nhân viên y tế (NVYT) có khuynh hướng xem xét chất lượng công tác CSSK theo khía cạnh này. Chất lượng chức năng: Chất lượng chức năng “hình thành trong hoạt động cung cấp dịch vụ”. Chất lượng chức năng trong dịch vụ CSSK bao gồm chất lượng tương tác với nhân viên y tế, điều kiện môi trường cơ sở y tế.Ở khía cạnh này, người bệnh (NB) có thể hiểu biết về chất lượng chức năng tốt hơn chất lượng kỹ thuật [4].
Sự hài lòng của người bệnh và tầm quan trọng của sự hài lòng với chất lượng dịch vụ y tế Có nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng của người bệnh, tuy nhiên có một số quản điểm được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu trên thế giới.Theo quan điểm của Linder-Pelz thì sự hài lòng của người bệnh là sự đánh giá tích cực của cá nhân đối với các khía cạnh khác nhau trong việc CSSK [26]. Linder – Pelz nhận thấy ngay cả trong những nghiên cứu không nhằm đánh giá sự hài lòng thì thái độ và nhận thức của người bệnh trong chăm sóc cũng có thể được sử dụng để đánh giá sự tìm kiếm và phản ứng đối với việc chăm sóc. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng 6 việc đánh giá sự CSSK sẽ không toàn diện, thấu đáo nếu không đề cập tới khía cạnh “không hài lòng” từ phía người bệnh. Theo Finkelstrein thì sự hài lòng của người bệnh là “đánh giá dựa trên những tình cảm của người bệnh đối với việc CSSK” [23].
Finkelstrein đã có những giải thích cho rằng sự hài lòng của người bệnh xuất phát từ quan điểm tự nhiên, trong đó nhấn mạnh nhiều đến cảm xúc hơn là khía cạnh hữu hình. Đánh giá các phản ứng liên quan đến cảm xúc (Emotional reactions) của người bệnh là một phương pháp để nhận biết được sự hài lòng của họ, phản ứng liên quan đến cảm xúc chính là phản ánh thái độ của người bệnh đối với dịch vụ y tế. Khái niệm này nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của người bệnh, mà điều này lại phụ thuộc nhiều vào tâm trạng của người bệnh tại thời điểm điều tra. Theo quan điểm của tác giả Burke thì “Sự hài lòng của người bệnh được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng dịch vụ y tế và đây như là một cách thức để đánh giá dịch vụ thông qua đo lường nhận thức của người bệnh” [20].
Khái niệm này đã được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là phù hợp bởi nó không chỉ mang tính khái quát mà còn thể hiện rõ ràng chức năng của sự hài lòng của người bệnh và đặc tính tự nhiên của khái niệm này Hay theo như Tengilimoglu và cộng sự, mức độ hài lòng của người bệnh là một chỉ số khá quan trọng khi tiến hành đánh giá về hiệu quả của mỗi bệnh viện trong hệ thống CSSK. Không thể cải thiện chất lượng dịch vụ nếu như không quan tâm đến những ý kiến hay phàn nàn, thắc mắc của người bệnh. Sự hài lòng của người bệnh không chỉ giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ y tế duy trì chất lượng dịch vụ mà còn làm cho người bệnh thấy rằng những ý kiến của họ được coi trọng. Bên cạnh đó, sự hài lòng của khách hàng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn dịch vụ và như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc cạnh tranh để có thêm khách hàng trên thị trường cung cấp dịch vụ y tế CSSK [ 31].
Lợi ích chủ yếu từ việc tiến hành các nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh là nó cho phép người bệnh được đánh giá về chính sách của cơ sở cung cấp dịch vụ và chất lượng dịch vụ mà họ nhận được. Thông tin về sự hài lòng của người bệnh có thể giúp các cơ sở y tế xác định những vấn để tiềm tàng để cải thiện như là giáo dục 7 sức khoẻ và theo dõi người bệnh, những vấn đề chất lượng trong chăm sóc, quy trình khám chữa bệnh. Carr – Hill cũng chỉ ra rằng biết được sự hài lòng của người bệnh không những chỉ để làm việc vì lợi ích của người bệnh mà còn để đáp ứng nhu cầu, mong muốn của họ[21]. Chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ là nhân tố tác động nhiề u nhấ t đế n sự hài lòng của khách hàng.
Tuy nhiên, nhiề u tác giả thường cho rằ ng chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ chính là mức độ thỏa mãn của khách hàng. Thực tế cho thấ y rằ ng chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ và sự hài lòng có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng vẫn có sự khác biệt nhấ t đinh. ̣ Chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ là khái niệm khách quan, mang tính lươ ̣ng giá và nhận thức. Trong khi sự hài lòng là kế t hơ ̣p của các thành phầ n chủ quan, dựa vào cảm giác và cảm xúc.
Có nghiên cứu cho thấ y chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ là nguyên nhân dẫn đế n sự hài lòng. Lý do là chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ liên quan đế n việc cung cấ p dich ̣ vu ̣, còn sự hài lòng chỉ đánh giá đươ ̣c sau khi đã sử du ̣ng dich ̣ vu ̣ đó. Nế u chấ t lươ ̣ng dich ̣ vu ̣ đươ ̣c cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầ u của khách hàng thì sẽ không đem la ̣i sự hài lòng cho ̣ vu ̣ đó. Vì thế , khi đã sử du ̣ng dich dich ̣ vu ̣, nế u khách hàng cảm nhận đươ ̣c dich ̣ vu ̣ có chấ t lươ ̣ng thì ho ̣ sẽ thấ y hài lòng về dich ̣ vu ̣ đó [11].
Đo lường sự hài lòng của người bệnh Có một số công cụ được sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người bệnh. Mô hình của Ward và cộng sự (2005) đánh giá chất lượng chức năng của dịch vụ thông qua đo lường sự hài lòng của khách hàng bao gồm 4 khía cạnh: Sự tiếp nhận: bệnh nhân được nhận các dịch vụ chấp nhận được về giá cả và đúng lúc, bao gồm lịch hẹn, thời gian chờ đợi, chi phí, thủ tục thanh toán bảo hiểm. Kết quả: sức khoẻ người bệnh được cải thiện rõ rệt, biểu hiện ở chỗ người bệnh khỏi bệnh sau khi ra viện và ý kiến của họ về hệ thống chuyển viện; Giao tiếp và tương tác: người bệnh liên tục được chăm sóc với thái độ tốt, biểu hiện ở chỗ các nhân viên, bác sĩ có thái độ hoà nhã, thân thiện với người bệnh, sẵn sàng giúp đỡ và cảm thông với người bệnh. Các khía cạnh ''Cảm thông” và ''Đảm bảo'' của mô hình trước được thể hiện trong mô hình này; 8 Những yếu tố hữu hình: người bệnh được điều trị với cơ sở hạ tầng trang thiết bị, con người theo nhu cầu của họ, biểu hiện ở các mặt: sự thuận tiện, sự sạch sẽ của CSVC, trang thiết bị, sự có sẵn của các dụng cụ y tế.
Công cụ thứ hai đánh giá sự hài lòng của người bệnh bằng cách sử dụng thang đo Likert. Thanh đo Likert là thang đo được sử dụng 1 cách phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng. Thang đo Likert được phát triển và giới thiệu bởi Rennis Likert vào năm 1932 [22].