Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về viêm phổi cộng đồng 1. Định nghĩa viêm phổi cộng đồng Viêm phổi cộng đồng là tình trạng nhiễm trùng của nhu mô phổi bao gồm viêm phế nang, ống và túi phế nang, tiểu phế quản tận hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi [9]. Viêm phổi cộng đồng là viêm phổi mắc phải xảy ra ở cộng đồng, bên ngoài bệnh viện hoặc 48 giờ đầu tiên nằm viện [4].
Dịch tễ học viêm phổi cộng đồng Viêm phổi cộng đồng là bệnh nhiễm trùng hô hấp dưới rất phổ biến, hay gặp nhiều nhất vào những tháng mùa đông và trong những mùa dịch cúm. Viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) là một trong những nguyên nhân gây nhập viện và tử vong hàng đầu thế giới. Theo UNICEF công bố vào tháng 11/2016, VPCĐ là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Trên thế giới cứ 6 trẻ dưới 5 tuổi chết thì một trẻ chết vì VPCĐ.
Mỗi ngày có 1500 trẻ em chết vì VPCĐ, mỗi giờ lại có 100, 30 giây lại có 1 trẻ chết vì VPCĐ. Tử vong do viêm phổi cộng đồng ở trẻ dưới 5 tuổi nhiều hơn tử vong do HIV/AIDS, sốt rét và sởi cộng lại. 90% trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp [46], [60]. Năm 2018, ước tính có khoảng 5 triệu ca viêm phổi cộng đồng mỗi năm tại Hoa Kỳ với tỷ lệ mắc mới ước tính 12/1000 người, có thể tăng đến 12–18/1000 người trên đối tượng trẻ em dưới 4 tuổi và 20/1000 đối với người trên 60 tuổi [47].
Ở Việt Nam, viêm phổi cộng đồng là một bệnh lý nhiễm khuẩn thường gặp nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn trên thực hành lâm sàng, chiếm 12% các bệnh phổi và gây tử vong ở các nhóm tuổi với 4 triệu ca tử vong (7% tổng số tử vong trên thế giới) hàng năm. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ em và người lớn 4 >75 tuổi. Tỷ lệ mắc VPCĐ ở các nước đang phát triển cao gấp 5 lần so với các nước phát triển [9]. Tỷ lệ tử vong chung khoảng 3% trên bệnh nhân điều trị ngoại trú, 10% ở khoa điều trị thông thường và có thể tăng tới trên 30% trên bệnh nhân nhập khoa Hồi sức tích cực và Chống độc [43].
Tác nhân gây viêm phổi cộng đồng Theo thống kê của WHO, vi khuẩn Streptococcus pneumoniae là nguyên nhân thường gặp nhất trên thế giới. Đây là nguyên nhân gây khoảng 1/3 trường hợp viêm phổi trên trẻ <2 tuổi. Vi khuẩn Haemophilus influenzae là tác nhân gây viêm phổi cộng đồng ở người già và những bệnh nhân có bệnh lý nền ở phổi, và các vi khuẩn gây VPCĐ khác như M. pneumoniae, Legionella, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Enterobacter, Serratia spp., và Acinetobacter spp., Streptococcus nhóm A, vi khuẩn kị khí, Neisseria meningitides, Francisella tularensis (tularemia), C.
Bên cạnh đó, VPCĐ cũng có thể do tác nhân virus như Influenza A virus, Influenza B virus, RSV, Adenovirus và các Coronavirus. Nhiễm virus đường hô hấp làm tăng nguy cơ viêm phổi cộng đồng do vi khuẩn hoặc có thể kết hợp VPCĐ do virus và vi khuẩn (khoảng 20-30%) [64]. Virus là nguyên nhân trong 30-67% trường hợp VPCĐ ở đối tượng dưới 1 tuổi hơn so với nhóm >2 tuổi. Một nhóm tác nhân ít gặp hơn nhưng cũng là một trong các tác nhân gây viêm phổi cộng đồng là các ký sinh trùng như Pneumocytis carnii, Toxoplasma, Histoplasma,…[55].
Đường xâm nhập của những tác nhân gây viêm phổi cộng đồng phần lớn qua hô hấp như viêm mũi, viêm họng, viêm amidan,… 1. Điều trị viêm phổi cộng đồng 1. Nguyên tắc điều trị viêm phổi cộng đồng - Xử trí tuỳ theo mức độ nặng. 5 - Điều trị triệu chứng.
- Điều trị nguyên nhân: lựa chọn kháng sinh theo căn nguyên gây bệnh, nhưng ban đầu thường theo kinh nghiệm lâm sàng, yếu tố dịch tễ, mức độ nặng của bệnh, tuổi người bệnh, các bệnh kèm theo, tác dụng phụ của thuốc. - Thời gian dùng kháng sinh: từ 7 đến 10 ngày nếu do các tác nhân gây viêm phổi cộng đồng điển hình, 14 ngày nếu do các tác nhân không điển hình, trực khuẩn mủ xanh [5], [52]. Phác đồ điều trị viêm phổi cộng đồng Theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng của Bộ Y tế năm 2015 như sau [5]: Điều trị viêm phổi cộng đồng trung bình: CURB65 = 2 điểm Kháng sinh: amoxicilin-acid clavulanic 1g x 3 lần/ngày (uống) + macrolid (erythromycin 2g/ngày, hoặc clarithromycin 500mg x 2 lần/ngày). Nếu không uống được: amoxicillin-acid clavulanic: 1g x 3 lần/ngày (tiêm tĩnh mạch) kết hợp 1 nhóm thuốc macrolid dùng theo đường tĩnh mạch (lindamycin 500mg x 2 lần/ngày hoặc azithromycin 500mg/ngày), hoặc levofloxacin 750mg/ngày hoặc moxifloxacin 400mg/ngày.
Đảm bảo cân bằng nước-điện giải và thăng bằng kiềm-toan. Dùng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ >38,50C. Điều trị viêm phổi cộng đồng nặng: CURB65 = 3-5 điểm Kháng sinh: amoxicilin-clavulanat: 1g x 3 lần/ngày (tiêm tĩnh mạch) kết hợp với clarythromycin 500mg (uống 2 lần/ngày) hoặc levofloxacin 750mg/ngày. Hoặc cefuroxim 1g x 3 lần/ngày hoặc cefotaxim 1g x 3 lần/ngày kết hợp levofloxacin 750mg/ngày.
Xem xét thay đổi kháng sinh tùy theo diễn tiến lâm sàng và kháng sinh đồ nếu có. 6 Thở oxy, thông khí nhân tạo nếu cần, đảm bảo huyết động, điều trị các biến chứng nếu có [5], [48]. *Phác đồ điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em [4] - Ở trẻ sơ sinh và dưới 2 tháng tuổi: + Viêm phổi cộng đồng nặng: ampicilin 100mg/kg/ngày kết hợp với gentamycin 5mg/kg/ngày (tiêm bắp) dùng một lần trong ngày. Điều trị đủ từ 5 đến 7 ngày.
+ Trong trường hợp viêm phổi cộng đồng rất nặng: cefotaxim 100mg/kg/ngày (tiêm tĩnh mạch) chia 3 lần trong ngày. - Viêm phổi cộng đồng ở trẻ 2–5 tháng: + Viêm phổi cộng đồng nặng: ampicilin 100mg/kg/lần. + Viêm phổi cộng đồng rất nặng: benzyl penicillin 50mg/kg/ngày (tiêm tĩnh mạch) dùng 4 lần phối hợp với gentamycin 5mg/kg/ngày tiêm bắp dùng một lần/ngày. - Viêm phổi cộng đồng ở trẻ trên 5 tuổi: benzyl penicillin 50mg/kg/ngày (tiêm tĩnh mạch) ngày 4–6 lần.
Hoặc cephalothin: 50mg/kg/ngày (tiêm bắp) chia làm 3–4 lần. Hoặc cefuroxim: 50mg/kg/ngày (tiêm bắp) chia làm 3 lần [4]. Sử dụng kháng sinh điều trị nội trú bệnh viêm phổi cộng đồng Kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng *Cơ sở để lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng Tình hình sử dụng kháng sinh hợp lý hiện nay Theo báo cáo của Bộ Y tế-Việt Nam phối hợp với Dự án Hợp tác toàn cầu về kháng kháng sinh GARP-Việt Nam và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại 15 bệnh viện Việt Nam 2008-2009, cho thấy với sự gia tăng sử dụng các kháng sinh thế hệ mới như các kháng sinh nhóm cephalosporin hoặc kháng sinh dòng thế hệ 2 như carbapenem trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn nặng, việc sử dụng các kháng sinh thế hệ cũ như phenicol, penicillin 7 nhạy cảm với men beta-lactam, lincosamid dần bị thay thế trong điều trị. Theo báo cáo này cho rằng chúng ta nên xây dựng các tài liệu hướng dẫn cập nhật về kháng sinh dựa trên thực trạng kháng kháng sinh tại từng bệnh viện và chia sẻ rộng rãi nguồn tài liệu này cho các bác sĩ kê đơn, các nhà vi sinh, dược sĩ và cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn.
Từ kết quả của nghiên cứu cho thấy, cần có một chương trình giám sát quốc gia về mức độ sử dụng kháng sinh thực tế và tỷ lệ kháng kháng sinh của một số tác nhân vi khuẩn gây bệnh phổ biến trong cùng giai đoạn nhằm xây dựng bằng chứng cho hành động về kháng kháng sinh ở Việt Nam. Chương trình quản lý sử dụng kháng sinh (antimicrobial stewardship program) cũng cần được tiến hành ở các bệnh viện [21]. Theo báo cáo của Hiệp hội Lồng ngực Anh, kháng sinh hợp lý theo khuyến cáo tăng từ 54% (2009-2010) đến 58% (2018-2019) ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng [4]. Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ hợp lý khá thấp, theo nghiên cứu của Phạm Anh Tuân, chỉ có 4/196 trường hợp bệnh nhân được lựa chọn phác đồ điều trị ban đầu phù hợp với khuyến cáo [38].
Nhìn chung, liệu pháp kháng sinh theo khuyến cáo đã được cải thiện so với thời gian trước đó nhưng tỷ lệ này thấp. Việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong điều trị VPCĐ là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh (AMR) có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân VPCĐ nhiễm các vi khuẩn đa kháng cũng như làm tăng chi phí chăm sóc và kéo dài thời gian điều trị [11], [23]. Một nghiên cứu được thực hiện tại một bệnh viện hạng II đã báo cáo việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý, đặc biệt là cefotaxim [35]. Thông thường hầu hết bệnh nhân cần phải được điều trị bằng kháng sinh trong khi chưa xác định được tác nhân gây bệnh.
Vì vậy, các hướng dẫn điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng lựa chọn kháng sinh tại cơ sở y tế. Kháng sinh levofloxacin, moxifloxacin có ưu điểm bao phủ được cả vi khuẩn điển hình lẫn không điển 8 hình, vi khuẩn gram âm và gram dương. Do đó, phác đồ FQ đơn độc hoặc phối hợp với β-lactam cũng có thể được sử dụng nhưng cần cân nhắc đến nguy cơ biến cố bất lợi nghiêm trọng liên quan đến sử dụng các kháng sinh này [48]. Lựa chọn kháng sinh điều trị Cơ sở lựa chọn kháng sinh trong điều trị VPCĐ lý tưởng nhất là dựa vào kết quả nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh thích hợp.
Tuy nhiên, thực tế thời gian chờ kết quả xét nghiệm mới quyết định điều trị là không kịp, có những trường hợp VPCĐ nặng cần điều trị cấp cứu ngay. Vì vậy việc lựa chọn kháng sinh điều trị VPCĐ chủ yếu dựa vào đặc điểm lâm sàng, lứa tuổi, tình trạng miễn dịch, mức độ nặng nhẹ của bệnh cũng như tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh thường gặp để quyết định sử dụng phác đồ điều trị thích hợp [4], [5], [6], [19]. Do đó, việc lựa chọn kháng sinh điều trị VPCĐ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng. Các nguyên tắc chính nhằm sử dụng kháng sinh hợp lý: - Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn.
- Phải chọn đúng kháng sinh và đường cho thuốc thích hợp. - Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gian quy định. - Phải biết những nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh. Về nguyên tắc, VPCĐ do vi khuẩn bắt buộc phải dùng kháng sinh điều trị.
Với VPCĐ do virus đơn thuần, kháng sinh không có tác dụng. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó phân biệt viêm phổi cộng đồng do vi khuẩn hay virus hoặc có sự kết hợp vi khuẩn với virus kể cả dựa vào lâm sàng, cận lâm sàng (X- quang hay xét nghiệm khác).