MỞ ĐẦU 1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 1) Cùng với không gian làm trục hoành, thời gian làm trục tung trên tọa độ trong đời sống của con ngƣời mọi ngôn ngữ đều có các phạm trù không gian, thời gian và những phƣơng tiện biểu hiện tƣơng ứng. Đó có thể là phƣơng tiện từ vựng hoặc phƣơng tiện ngữ pháp. Có thể nói ngôn ngữ nào cũng sử dụng một lớp từ vựng nhằm định vị không gian và thời gian trong các tình huống giao tiếp.
Đây là một điểm chung của các ngôn ngữ. Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chúng là phƣơng thức sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ sẵn có trong chức năng biểu thị không gian, và thời gian. Thực vậy có ngôn ngữ ƣu tiên các phƣơng tiện từ vựng, ít sử dụng các yếu tố khác. Ngƣợc lại có ngôn ngữ khai thác tối đa các hình thái động từ, hoặc các hình thái tố kết hợp với vị từ để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp liên quan đến thời gian một cách rất tinh tế.
Hiện tƣợng này bắt nguồn từ sự khác biệt trong tri nhận về thời gian, từ đặc điểm tƣ duy và từ văn hoá giao tiếp của các dân tộc. Tiếng Hàn và tiếng Việt là ví dụ điển hình minh hoạ cho nhận định trên. Thực vậy điểm chung của hai ngôn ngữ này là đều áp dụng phƣơng thức biểu thị thời gian theo sự phân chia truyền thống là quá khứ, hiện tại và tƣơng lai. Nhƣng một trong những sự khác biệt nổi trội giữa chúng bắt nguồn từ đặc điểm loại hình của chúng.
Tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính tiêu biểu, trong khi đó tiếng Việt là ví dụ điển hình của loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong tiếng Hàn, sự hiện diện của các hình thái tố biểu hiện thời và thể, nhƣ ~ (으)ㄴ/ ~ 는/ ~ (으)ㄹ/ ~었/~겠 /~ㄹ 것 là bắt buộc trong mọi trƣờng hợp. Đây là một quy tắc ngữ pháp chặt chẽ, áp dụng đối với mọi trƣờng hợp sử dụng. Ngƣợc lại trong tiếng Việt các hƣ từ biểu hiện thời gian nhƣ đã, đang, sẽ đƣợc sử dụng một cách linh hoạt, tuỳ thuộc.
Nói cách khác, các từ này có thể xuất hiện, hoặc vắng mặt trong phát ngôn. Sự tuỳ thuộc này do nhiều yếu tố chi phối mà chúng tôi sẽ phân tích sâu trong luận án. Đây là điểm khác biệt rất đáng chú ý dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng đối với việc dạy 2 học tiếng Hàn nhƣ một ngoại ngữ và dịch thuật. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu đối chiếu nào mang tính hệ thống, nêu bật sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ Hàn-Việt trong cách biểu thị thời gian.
Rõ ràng với mục đích phục vụ cho giảng dạy và dịch thuật, nghiên cứu phƣơng tiện biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt là một nhiệm vụ cấp thiết. 2) Xét trên phƣơng diện đối chiếu ngôn ngữ Hàn-Việt nói chung và vấn đề biểu hiện thời gian trong đề tài của chúng tôi nói riêng, có thể nhận thấy những điểm sau. Trên phƣơng diện ngôn ngữ học ứng dụng, để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giảng dạy và học tập, các nhà giáo học pháp ngoại ngữ cần phải dựa vào kết quả của các công trình đối chiếu ngôn ngữ nhằm dự báo những khó khăn của ngƣời học ở những nội dung, những hiện tƣợng ngữ pháp có sự khác biệt rất lớn giữa các ngôn ngữ, để từ đó xác định những chiến lƣợc sƣ phạm phù hợp, nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tiếp thu ngoại ngữ của ngƣời học nói chung và của sinh viên tiếng Hàn nói riêng. Những công trình nghiên cứu ngôn ngữ đối chiếu hƣớng đến những ứng dụng vào dạy và học ngoại ngữ nhƣ vậy là rất cần thiết.
3) Trƣớc xu hƣớng hợp tác quốc tế nói chung và giao lƣu giữa hai nƣớc Việt Nam – Hàn Quốc nói riêng, nhu cầu học tập và nghiên cứu ngoại ngữ tiếng Hàn đang tăngcao. Hơn bao giờ hết giảng viên và sinh viên cần đƣợc tham khảo những công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng trong học tập và nghiên cứu tiếng Hàn. Hiện nay, ở Việt Nam đã có 11 trƣờng Đại học tổ chức đào tạo, giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc, ở Hàn quốc cũng có 5 trƣờng đại học thành lập khoa tiếng Việt và tổ chức giảng dạy ngành Việt ngữ học. Những năm đầu, hàng năm, cả nƣớc chỉ có 100 sinh viên ngành tiếng Hàn đƣợc tuyển vào hệ đào tạo chính quy thì giờ đây, số lƣợng sinh viên chính quy mỗi năm đã tăng lên đến gần 1.
Sinh viên ngành tiếng Hàn ở các trƣờng đào tạo chính quy khi tốt nghiệp ra trƣờng đều tìm đƣợc việc làm theo đúng chuyên môn đƣợc đào tạo. 3 “Hàn Quốc” và “tiếng Hàn Quốc” đã trở thành những cụm từ quen thuộc với ngƣời dân Việt Nam. Đầu tƣ của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục đƣợc mở rộng. Theo số liệu thống kê của Cục xúc tiến thƣơng mại, hiện nay Hàn Quốc đang là quốc gia dẫn đầu trong đầu về số lƣợng dự án đầu tƣ vào Việt Nam (với 3250 dự án) và là quốc gia đứng thứ tƣ về tổng số vốn đầu tƣ.
Việt Nam cũng là quốc gia đứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) của Hàn Quốc. Giao lƣu giữa nhân dân hai nƣớc Hàn-Việt cũng phát triển dƣới nhiều hình thức đa dạng. Theo số liệu thống kê tính đến tháng 12 năm 2012 thì có khoảng 100.000 ngƣời Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (tại thành phố Hồ Chí Minh và lân cận là 85 nghìn ngƣời, tại Hà Nội và vùng ngoại vi khoảng 15 nghìn ngƣời). Ngƣợc lại, cũng có 120.468 ngƣời Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc.
Tổng cục du lịch Hàn Quốc cũng cho biết, chỉ năm 2012 đã có 700.917 ngƣời Hàn Quốc đến du lịch ở Việt Nam và 32.141 ngƣời Việt Nam đến thăm Hàn Quốc. Mỗi tuần có 182 chuyến bay qua lại giữa hai nƣớc, và Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ nhất về lƣợng khách du lịch đến thăm Việt Nam. Vì thế, số ngƣời đã, đang học tiếng Hàn và số ngƣời mong muốn sẽ học tiếng Hàn để phục vụ cho công việc, sinh hoạt, làm việc, sinh sống tăng lên nhanh chóng khiến cho các cơ sở đào tạo tiếng Hàn quốc cũng phát triển rất nhanh. Bên cạnh các trƣờng đào tạo chính quy, số các trung tâm ngoại ngữ lớn nhỏ tổ chức giảng dạy tiếng Hàn đã tăng đến mức khó để đƣa ra đƣợc một thống kê chính xác.
Trong bối cảnh trên nhu cầu học tiếng Hàn là rất lớn nhƣng tất cả các học viên đều khẳng định “tiếng Hàn rất khó”. Khó khăn của việc học ngoại ngữ này có thể bắt nguồn từ nhiều lý do nhƣ sự khác biệt về văn hoá, lối sống, cách tƣ duy, và môi trƣờng xã hội. Nhƣng theo chúng tôi, khó khăn đầu tiên và căn bản nhất xuất phát từ sự khác biệt về đặc điểm loại hình ngôn ngữ. Thực vậy sinh viên nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, đại diện tiêu biểu của loại hình ngôn ngữ đơn lập, khi tiếp xúc với tiếng Hàn đại diện điển hình của loại hình ngôn ngữ chắp dính, phải đối mặt với nhiều khó khăn do sự khác biệt ngôn ngữ gây ra.
4 Nhằm góp phần giúp sinh viên Việt Nam khắc phục những khó khăn khi học tiếng Hàn, chúng tôi tập trung “Nghiên cứu đối chiếu phƣơng thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt” với mục tiêu chính là mô tả hệ thống biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn, xác định những phƣơng thức biểu hiện thời gian tƣơng đƣơng trong tiếng Việt, phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa phƣơng thức biểu hiện thời gian trong hai ngôn ngữ; từ đó nhấn mạnh các điểm cần lƣu ý trong quá trình giảng dạy và học tập cũng nhƣ trong quá trình dịch thuật từ tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngƣợc lại. Chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp đáng kể trên bình diện lý luận ngôn ngữ nói chung và trên bình diện ứng dụng vào giảng dạy tiếng Hàn nói riêng. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án này là thông qua nghiên cứu theo hƣớng đối chiếu phƣơng thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và Việt, góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của phƣơng thức biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ đối chiếu trong chức năng phản ánh đặc trƣng tƣ duy văn hóa dân tộc.
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ sau.2 Nhiệm vụ của luận án 1) Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu. 2) Tổng quan tình hình nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt. 3) Tập trung khảo sát một trong những phƣơng thức biểu hiện thời gian là thời và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chỉ ra những tƣơng đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. 4) Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thể động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sở phân tích lỗi sử dụng động từ của sinh viên và đề xuất phƣơng pháp khắc phục.
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3.1 Phạm trù “thời” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngữ học Theo đánh giá mới đây của Unesco, trên thế giới có 6800 ngôn ngữ. Chúng ta đều biết trong đa số trƣờng hợp, những gì đƣợc biểu đạt ở ngôn ngữ này cũng có thể đƣợc thể hiện ở các ngôn ngữ khác. Điều này có nghĩa các ngôn ngữ đều có những năng lực phổ quát nhất định. Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ lại có những năng lực đặc thù phản ảnh tính đặc trƣng của loại hình ngôn ngữ và đặc trƣng văn hóa của dân tộc sử dụng nó.
Khi diễn đạt một nhận định về một sự tình bất kỳ, ngƣời nói cần sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ và tuân thủ các quy tắc ngữ pháp. Trong biểu đạt ý nghĩa thời gian các phƣơng tiện đƣợc sử dụng gồm phƣơng tiện từ vựng (hệ thống các từ chỉ thời gian) và phƣơng tiện ngữ pháp (thời, thể, tình thái ở vị từ,.v) hoặc các phƣơng tiện ngữ nghĩa phái sinh1 hình thành. Phạm trù thời và thể đƣợc khẳng định là những phạm trù ngữ pháp quan trọng của động từ trong các ngôn ngữ Châu Âu. Theo giới hạn nghiên cứu trình bày trên đây, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào vấn đề “thời” và “thể” trong hai ngôn ngữ Hàn-Việt.