Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt" của tác giả Nghiêm Thị Thu Hương (chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng, mã số 62 22 01 05, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Văn Đại) giải quyết các vấn đề liên quan đến việc biểu hiện phạm trù thời gian qua lăng kính đối chiếu ngôn ngữ học và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Không gian và thời gian là hai trục tọa độ định vị cơ bản trong đời sống con người và nhận thức ngôn ngữ. Mọi ngôn ngữ đều sở hữu các phương tiện từ vựng và ngữ pháp để định vị thời gian. Tuy nhiên, sự khác biệt xuất phát từ đặc điểm loại hình ngôn ngữ, tư duy tri nhận và văn hóa giao tiếp:
- Tiếng Hàn là ngôn ngữ chắp dính (agglutinative language) thuộc ngữ hệ Altai; sự hiện diện của các hình thái tố biểu hiện thời và thể (như
~ (으)ㄴ, ~ 는, ~ (으)ㄹ, ~ 었, ~ 겠, ~ ㄹ 것) là bắt buộc về mặt ngữ pháp trong mọi cấu trúc phát ngôn.
- Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập (isolating language); các hư từ biểu hiện thời gian như "đã", "đang", "sẽ" được sử dụng linh hoạt, tùy thuộc vào ngữ cảnh, trật tự từ và logic văn mạch mà có thể xuất hiện hoặc vắng mặt.
Sự khác biệt loại hình này tạo ra rào cản lớn đối với người Việt học tiếng Hàn và người dịch thuật song ngữ Hàn - Việt. Trong bối cảnh giao lưu kinh tế, văn hóa và giáo dục giữa Việt Nam và Hàn Quốc phát triển mạnh (tính đến năm 2012, có 11 trường đại học tại Việt Nam đào tạo ngành tiếng Hàn với gần 1.000 sinh viên chính quy mỗi năm; 5 trường đại học tại Hàn Quốc có khoa tiếng Việt; lượng khách du lịch Hàn Quốc sang Việt Nam đạt hơn 700.000 lượt), nhu cầu tiếp cận ngữ pháp tiếng Hàn chuẩn xác ngày càng tăng. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu một cách có hệ thống phương thức biểu đạt thời gian giữa tiếng Hàn và tiếng Việt nhằm phục vụ công tác giảng dạy và dịch thuật.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là thông qua việc nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt, góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của phương thức biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ đối chiếu với tư cách là phương tiện phản ánh đặc trưng tư duy văn hóa dân tộc.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
- Tập trung khảo sát một trong những phương thức biểu hiện thời gian là thời và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
- Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thể động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sở phân tích lỗi sử dụng động từ của sinh viên và đề xuất phương pháp khắc phục.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt, trọng tâm là các phương tiện ngữ pháp (hình thái tố thời, thể trong tiếng Hàn và hệ thống hư từ thời, thể trong tiếng Việt).
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi vào phạm trù thời và thể động từ, tập trung khảo sát các giá trị ổn định về mặt cú pháp và ngữ nghĩa học đường. Luận án không đi sâu vào đường hướng ngôn ngữ học tri nhận hoặc các yếu tố biến đổi ngữ dụng, ngữ cảnh ngoại vi; đồng thời không tập trung vào lớp từ vựng chỉ thời gian thông thường (như "hôm nay", "ngày mai", "bây giờ") do lớp từ này không gây nhiều khó khăn cho người học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu phạm trù thời và thể trong tiếng Hàn
Lịch sử nghiên cứu thời và thể trong tiếng Hàn khởi đầu từ các nghiên cứu hình thái học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn khởi nguồn: Nghiên cứu của Choi Kwang Ok (1908) nêu quan điểm về sự tồn tại của thời "quá khứ của quá khứ". Chu Si Kyung (1910) phân chia thời gian thành 3 thời (hiện tại, quá khứ, tương lai) biểu hiện qua biểu thức liên kết và kết thúc câu, đồng thời chỉ ra tính chất lưỡng thái (vừa thời, vừa thể) và giá trị tương lai nội tại của hình thái tố
~ 겠. Park Seung Bin (1935) và Choi Hyun Bae (1937) cụ thể hóa các lớp nghĩa của ~ 었 (hoàn thành) và ~ 었었 (quá khứ của quá khứ). Martin, S. (1954), Kim Ik Byung (1976), Lee Seung Uk (1977) phân tích giá trị ngữ nghĩa thời - thể của hình thái tố ~ 는/ㄴ trong cấu trúc kết thúc ~ 는다/ㄴ다.
- Giai đoạn sau năm 1970: Tiếp thu lý luận ngôn ngữ học châu Âu, hình thành 3 nhóm quan điểm chính:
- Nhóm 1: Coi hình thái tố biểu thị thời, thể, tình thái là các đơn vị ngữ pháp độc lập.
- Nhóm 2: Coi hình thái tố có chức năng kép, đồng thời biểu hiện ý nghĩa thời và thể (tiêu biểu là Nam Ki Sim).
- Nhóm 3: Coi một hình thái tố có thể đồng thời biểu thị cả thời, thể và tình thái (tiêu biểu là Kim Seok Tuk, 1974; Seo Jeong Soo, 1976).
- Hướng ứng dụng trong giảng dạy tiếng Hàn: Kim Je Yeol (2001, 2003, 2004) đề xuất mô hình giảng dạy hai giai đoạn (giai đoạn 1: cung cấp khái niệm thời cơ bản; giai đoạn 2: phân tích ngoại lệ và hệ thống hóa). Các nghiên cứu phân tích lỗi của người học nước ngoài: Lee Jeong Hee (2001, 2002, 2003 - khảo sát người Nhật), Lee Hae Young (2003 - khảo sát người Trung Quốc), No Jae Un (2001), Song Ji Yoen (2002), Han Jeong Hee (2003), Park Son Hee (2004), Kim Ho Jeong (2004, 2006), Morimoto Kachuhiko (2002), Song Bi Rak (2005).
Lịch sử nghiên cứu phạm trù thời và thể trong tiếng Việt
Các nghiên cứu về thời và thể trong tiếng Việt chia theo hai mốc lịch sử:
- Giai đoạn trước những năm 1960: Chịu ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Pháp, gồm khuynh hướng mô phỏng ngữ pháp nhà trường (Trương Vĩnh Kí, 1883; Bùi Đức Tịnh, 1952) và khuynh hướng phủ nhận phạm trù thời thể ngữ pháp (coi biểu hiện thời gian là việc dùng trạng từ làm túc từ).
- Giai đoạn sau những năm 1960: Tranh luận tập trung vào các vấn đề:
- Tiếng Việt có thời hay không: Nguyễn Kim Thản (1977), Đào Thản (1979), Lê Quang Thiêm (1989), Nguyễn Minh Thuyết (1995 - chứng minh sự tồn tại của hệ thống đối lập tương lai/phi tương lai, hoàn thành/phi hoàn thành).
- Thời là phạm trù độc lập hay gắn với thể, tình thái: Đinh Văn Đức (2001 - tiếng Việt có thời mà không có thể); Cao Xuân Hạo (1998) và Phan Thị Minh Thúy (2002 - tiếng Việt không tồn tại thời mà chỉ có thể).
- Bản chất của các từ "đã", "đang", "sẽ": Vị từ tình thái/vị từ trung tâm (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Quy, 1995); phó từ/trợ từ chỉ thời thể (Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, 2000); lớp từ đặc biệt (Bùi Đức Tịnh, 2003); cấu trúc đa tầng cú pháp đánh dấu thời đoạn Tense Phrase và Outer Aspect Phrase (Trang Phan, 2013); góc độ tri nhận không gian - thời gian (Nguyễn Đức Dân, 1996; Lí Toàn Thắng, 2002); tương tác thể ngữ pháp và thể từ vựng (Dương Hữu Biên, 2007).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án giải quyết khoảng trống học thuật: chưa có công trình nghiên cứu đối chiếu hệ thống giữa tiếng Hàn và tiếng Việt về phương thức biểu hiện thời gian; chưa có công trình ứng dụng kết quả đối chiếu này để khảo sát, phân tích lỗi thực tế của học viên Việt Nam học tiếng Hàn, từ đó xây dựng giải pháp sư phạm và giáo án mẫu phù hợp cho sinh viên chuyên ngữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Thời gian vật chất và thời gian ngữ pháp: Luận án dựa trên lý thuyết của F. De Saussure (1973) về tính hình tuyến của chuỗi phát ngôn; Benveniste (1966) và John Lyons (1968, 1996) về tính chỉ xuất (deictic) của thời gian ngữ pháp; William Frawley (1992) về sự phân biệt thời gian chủ quan/khách quan. Thời gian ngôn ngữ là sự ngữ pháp hóa thời gian khách quan thông qua nhận thức chủ quan của người bản ngữ.
- Phạm trù thời (Tense): Định vị sự tình trên trục thời gian so với một điểm mốc. Bao gồm:
- Thời tuyệt đối (Absolute tense): Lấy thời điểm phát ngôn (thời điểm nói) làm mốc quy chiếu (Bernard Comrie, 1985; V. Kasevich, 1998; Asher, 1994).
- Thời tương đối (Relative tense): Lấy một thời điểm khác (không phải thời điểm phát ngôn, thường là thời gian của một sự tình khác) làm mốc quy chiếu.
- Phạm trù thể (Aspect): Cấu trúc thời gian bên trong của sự tình, không mang tính chỉ xuất và không phụ thuộc vào thời điểm phát ngôn (J. Lyons, 1968; B. Comrie, 1978; Guillaume, 1992; Đinh Văn Đức, 2001; Nguyễn Tuấn Đăng, 2004; Phan Thị Minh Thúy, 2003). Phân loại theo Frawley (1992) gồm 6 thể chính (hoàn thành/không hoàn thành, hữu kết/vô kết, kéo dài/không kéo dài, lặp lại/không lặp lại, tiếp diễn, thường diễn) và 5 thể thứ yếu (khởi phát, kết thúc, trông đợi, hồi tưởng, hoàn bị/nhấn mạnh).
- Lý thuyết phân tích lỗi (Error Analysis): Sử dụng các tiêu chuẩn phân loại lỗi trong tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai để nhận diện nguyên nhân do chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt đơn lập) sang ngoại ngữ (tiếng Hàn chắp dính).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu trúc, hình thái và ngữ nghĩa của các phương tiện biểu hiện thời gian tiếng Hàn.
- Phương pháp đối chiếu: Thực hiện theo 3 bước:
- Bước 1: Phân tích đối chiếu hệ thống phương tiện biểu hiện thời và thể trong hai ngôn ngữ.
- Bước 2: Kiểm chứng kết quả đối chiếu thông qua phân tích cứ liệu dịch thuật song ngữ thực tế (Hàn - Việt và Việt - Hàn).
- Bước 3: Phân tích lỗi sử dụng thời - thể tiếng Hàn của sinh viên Việt Nam từ dữ liệu thực tế nhằm xác định chiến lược sư phạm.
- Thủ pháp bổ trợ: Thống kê định lượng tần số xuất hiện, khảo sát bằng phiếu điều tra (bảng hỏi), phân tích định tính ngữ nghĩa - cú pháp.
Nguồn tư liệu và cứ liệu nghiên cứu
- Các công trình nghiên cứu lý thuyết Việt ngữ học và Hàn ngữ học.
- 6 bộ giáo trình ngữ pháp tiếng Hàn tiêu biểu dành cho người nước ngoài (như giáo trình của Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Kyunghee, Đại học Korea).
- Văn bản báo chí và tác phẩm văn học tiếng Hàn chuẩn mực.
- Cứ liệu dịch thuật song ngữ:
- Bản dịch tiếng Hàn tiểu thuyết "Cánh đồng bất tận" của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (dịch giả Ha Jae Hong, NXB Dongso, Hàn Quốc, tháng 5/2008).
- Bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết "Người ăn chay" của tác giả Han Kang (dịch giả Hoàng Hải Vân, NXB Trẻ, tháng 1/2011).
- Cứ liệu thực nghiệm: Tập hợp các bài viết luận bằng tiếng Hàn và phiếu điều tra khảo sát lỗi ngữ pháp của sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của luận án
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết nền tảng về bản chất của thời gian trong ngôn ngữ học:
- Phân định rõ mối quan hệ giữa thời gian khách quan (vật chất/triết học) diễn tiến một chiều tuyến tính và thời gian ngữ pháp (thời gian được trừu tượng hóa, tri nhận qua lăng kính của người nói).
- Xác lập định nghĩa về phạm trù "thời" (tính chỉ xuất, định vị bên ngoài sự tình qua thời tuyệt đối và thời tương đối) và phạm trù "thể" (phản ánh đặc trưng cấu trúc bên trong của sự tình, tính phi chỉ xuất).
- Tổng hợp các quan điểm về thời gian ngữ pháp trong tiếng Hàn (đặc trưng chắp dính, sự gắn kết giữa thời - thể - tình thái qua các hình thái tố vị từ) và tiếng Việt (đặc trưng đơn lập, vai trò của các hư từ "đã", "đang", "sẽ" và các thành phần mang tính vị từ).
Chương 2: Phương thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn
Chương 2 mô tả hệ thống phương thức biểu đạt thời gian trong tiếng Hàn dựa trên 3 nhóm phương tiện chính:
| Nhóm phương tiện |
Dạng thức biểu hiện |
Các đơn vị / Hình thái tố cụ thể |
Giá trị ngữ nghĩa ngữ pháp chính |
| 1. Từ vựng |
Phó từ thời gian |
- Quá khứ: 그제 (hôm kia), 어제 (hôm qua), 지난 해 (năm ngoái)... - Hiện tại: 이제 (bây giờ), 오늘 (hôm nay), 요즈음 (dạo này)... - Tương lai: 내일 (ngày mai), 모레 (ngày kia), 다음 달 (tháng sau)... |
Định vị mốc thời gian diễn ra sự việc |
| 2. Hình thái tố kết thúc câu |
Dạng đơn lẻ |
~ 았/었, ~ 더, ~ 겠, ~ 리 |
Quá khứ, hồi tưởng, tương lai, ý chí, phỏng đoán |
|
Dạng phức hợp |
~ 었었, ~ 겠더, ~ 었더, ~ 었겠, ~ 었으리, ~ (으)ㄹ 것 |
Quá khứ đứt đoạn, phỏng đoán quá khứ, dự định |
| 3. Hình thái tố định từ (quán hình từ) |
Bổ nghĩa danh từ |
~ (으)ㄴ (quá khứ), ~ 는 (hiện tại), ~ (으)ㄹ (tương lai), ~ 던 (hồi tưởng quá khứ) |
Biểu thị thời tương đối kết hợp quan hệ thời gian của định ngữ |
| 4. Động từ bổ trợ (biểu hiện thể) |
Cấu trúc vị từ |
- Tiến trình: ~ 고 있다 - Hoàn thành: ~ 어 있다 - Dự kiến: ~ 게 되다 |
Biểu thị tiến trình đang tiếp diễn, trạng thái hoàn thành tồn tại, hoặc sự chuyển biến tình thái |
Luận điểm quan trọng của chương là chứng minh tính đa trị của hình thái tố tiếng Hàn: một hình thái tố không chỉ mang ý nghĩa thời đơn thuần mà còn biểu thị ý nghĩa thể và tình thái (ví dụ ~ 었 biểu thị quá khứ, hoàn thành, trạng thái hoàn tất còn duy trì; ~ 겠 biểu thị tương lai, ý đồ, suy luận, phỏng đoán).
Chương 3: Đối chiếu phương thức diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt
Chương 3 tiến hành khảo sát đối chiếu qua cứ liệu dịch thuật song ngữ:
- Phân tích bản chất các hư từ tiếng Việt "đã", "đang", "sẽ": các hư từ này không bắt buộc xuất hiện trong mọi câu; chúng đảm nhiệm vai trò đánh dấu thời đoạn hoặc thể tùy thuộc vào ngữ cảnh.
- Khảo sát sự chuyển dịch tương đương giữa hai ngôn ngữ:
- Thời quá khứ: Hình thái tố
~ 었 trong tiếng Hàn khi dịch sang tiếng Việt không phải lúc nào cũng chuyển thành "đã" (nhiều trường hợp chuyển thành câu không chứa hư từ hoặc kết hợp với từ chỉ kết quả như "rồi", "xong"). Ngược lại, từ "đã" trong tiếng Việt hầu như luôn tương ứng với hình thái tố ~ 었 hoặc ~ 었었 trong tiếng Hàn.
- Thời hiện tại: Hình thái tố hiện tại
~ 는/ㄴ hoặc phi hình thái Ø tương ứng với câu không chứa hư từ hoặc chứa từ "đang" trong tiếng Việt tùy thuộc vào tính chất hành động hay trạng thái.
- Thời tương lai: Các hình thái tố
~ 겠, ~ (으)ㄹ 것 chuyển dịch sang tiếng Việt bằng "sẽ", "sắp" hoặc các vị từ tình thái biểu thị ý chí, phỏng đoán ("chắc là", "muốn", "định").
- Kết luận đối chiếu nêu bật: tiếng Hàn phụ thuộc chặt chẽ vào quy tắc ngữ pháp hình thái bắt buộc ở đuôi vị từ, trong khi tiếng Việt dựa vào tính linh hoạt của hư từ kết hợp ngữ cảnh và trật tự cú pháp.
Chương 4: Những vấn đề dạy và học phương thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn cho người Việt
Dựa trên khảo sát bài viết luận và phiếu điều tra thực tế của sinh viên Việt Nam học tiếng Hàn, luận án phân loại và phân tích 4 nhóm lỗi cơ bản:
- Nhóm lỗi do lược bỏ hình thái tố thời gian: Người học bỏ qua việc chia hình thái tố thời gian ở vị từ (để động từ nguyên thể hoặc thiếu vĩ tố bắt buộc), xuất phát từ thói quen tư duy tiếng Việt đơn lập không biến đổi hình thái từ.
- Nhóm lỗi do dùng thừa hình thái tố thời gian: Lạm dụng hình thái tố quá khứ
~ 었 hoặc tương lai ~ 겠 trong các mệnh đề phụ liên kết câu hoặc định từ khi ngữ cảnh không yêu cầu.
- Nhóm lỗi do dùng lẫn lộn các hình thái tố: Nhầm lẫn giữa các hình thái tố định từ
~ (으)ㄴ, ~ 는, ~ (으)ㄹ, hoặc nhầm lẫn giữa ~ 겠 và ~ (으)ㄹ 것, giữa ~ 었 và ~ 었었.
- Nhóm lỗi do đặc trưng loại hình tiếng Hàn: Khó khăn trong việc xử lý thời tương đối trong câu phức, câu ghép liên kết, và việc phối hợp giữa động từ bổ trợ chỉ thể (
~ 고 있다, ~ 어 있다) với các hình thái tố chỉ thời.
Từ phân tích lỗi, tác giả đề xuất phương pháp giảng dạy theo quy trình 2 giai đoạn của ngữ pháp học đường kết hợp giáo án thực nghiệm định hướng đối chiếu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng hệ thống khung lý thuyết tổng quan về phương thức biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ học, làm rõ sự phân biệt giữa thời gian vật chất và thời gian ngữ pháp, giữa thời tuyệt đối và thời tương đối, giữa phạm trù thời và phạm trù thể.
- Mô tả toàn diện cơ chế hoạt động, tính đa trị ngữ nghĩa (thời - thể - tình thái) của các hình thái tố tiếng Hàn ở cả 3 vị trí: biểu thức kết thúc câu, biểu thức liên kết câu và biểu thức định từ.
- Làm sáng tỏ các điểm tương đồng và khác biệt mang tính loại hình giữa hệ thống hình thái tố chắp dính bắt buộc trong tiếng Hàn và hệ thống hư từ linh hoạt trong tiếng Việt.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bảng tổng hợp đối chiếu có hệ thống về giá trị ngữ pháp - ngữ nghĩa của các phương tiện biểu đạt thời gian giữa hai ngôn ngữ, được kiểm chứng qua ngữ liệu dịch thuật văn học song ngữ thực tế ("Cánh đồng bất tận" và "Người ăn chay").
- Là công trình đầu tiên ứng dụng kết quả nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ Hàn - Việt để phân loại, giải thích nguyên nhân 4 nhóm lỗi ngữ pháp cụ thể của sinh viên Việt Nam khi tiếp nhận phạm trù thời - thể tiếng Hàn.
- Đề xuất giải pháp sư phạm cải tiến phương pháp giảng dạy ngữ pháp tiếng Hàn cho người Việt: chuyển từ cách dạy áp đặt phạm trù trừu tượng sang mô hình giảng dạy 2 giai đoạn (cung cấp dạng thức cơ bản trước, phân tích ngữ cảnh và ngoại lệ sau), đi kèm đề xuất thiết kế giáo án mẫu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án tự giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các cấu trúc ngữ pháp - ngữ nghĩa học đường ổn định, loại trừ việc khảo sát sâu các yếu tố biến đổi ngữ dụng, ngữ cảnh giao tiếp thực tế và đường hướng ngôn ngữ học tri nhận.
- Đề tài tập trung chủ yếu vào thời và thể của vị từ/động từ, không đi sâu phân tích toàn diện lớp từ vựng chỉ thời gian.
- Nguồn ngữ liệu dịch thuật song ngữ văn học được chọn ngẫu nhiên giới hạn ở hai tác phẩm ("Cánh đồng bất tận" và "Người ăn chay"), chưa bao quát hết mọi thể loại phong cách văn bản khác nhau (như văn bản khoa học, hành chính, khẩu ngữ sinh hoạt).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát phương thức biểu hiện thời gian trong các phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau trên quy mô ngữ liệu (corpus) song ngữ lớn hơn.
- Nghiên cứu sâu hơn về sự tương tác giữa thời, thể với phạm trù tình thái (modality) và kính ngữ trong tiếng Hàn dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngữ dụng học.
- Đánh giá hiệu quả thực tế của giáo án thực nghiệm và quy trình giảng dạy 2 giai đoạn trên các nhóm đối tượng người học tiếng Hàn ở nhiều trình độ khác nhau tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên tiếng Hàn tại các trường đại học, cao đẳng và trung tâm ngoại ngữ: Cung cấp cơ sở lý luận đối chiếu để giải thích ngữ pháp, dự báo các vùng lỗi khó và áp dụng khung giáo án thực nghiệm trong giảng dạy thời - thể.
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng, Hàn Quốc học: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu đối chiếu loại hình ngôn ngữ (chắp dính - đơn lập), phương pháp phân tích lỗi thụ đắc ngôn ngữ và tổng quan tài liệu về thời - thể.
- Dịch giả biên dịch song ngữ Hàn - Việt và Việt - Hàn: Tham khảo các quy luật chuyển dịch tương đương giữa hình thái tố tiếng Hàn và hệ thống hư từ tiếng Việt, tránh lối dịch cơ học hoặc dịch thiếu/thừa yếu tố ngữ pháp.
- Các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa tiếng Hàn: Tham khảo đề xuất phân kỳ giảng dạy 2 giai đoạn để cải tiến cấu trúc bài học ngữ pháp trong giáo trình tiếng Hàn dành riêng cho người Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Sự khác biệt căn bản về loại hình ngôn ngữ ảnh hưởng như thế nào đến việc biểu đạt thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt?
Tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, quy định bắt buộc phải chắp nối các hình thái tố chỉ thời - thể (~ 았/었, ~ 는/ㄴ, ~ 겠, ~ (으)ㄹ 것...) vào thân vị từ ở cuối câu, mệnh đề liên kết hoặc định từ. Trong khi đó, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái từ; các hư từ chỉ thời gian ("đã", "đang", "sẽ") được dùng linh hoạt, không bắt buộc xuất hiện trong mọi phát ngôn mà phụ thuộc vào ngữ cảnh, trật tự từ và logic văn mạch.
2. Hệ thống hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn được phân chia theo các biểu thức nào?
Hệ thống hình thái tố tiếng Hàn được phân chia theo 3 biểu thức cú pháp:
- Biểu thức kết thúc câu: Dạng đơn lẻ (
~ 았/었, ~ 더, ~ 겠, ~ 리) và dạng phức hợp (~ 었었, ~ 겠더, ~ 었더, ~ 었겠, ~ (으)ㄹ 것).
- Biểu thức liên kết câu: Các hình thái tố xuất hiện ở vĩ tố liên kết giữa các mệnh đề trong câu ghép.
- Biểu thức định từ (quán hình từ): Các hình thái tố đứng trước danh từ để bổ nghĩa (
~ (으)ㄴ, ~ 는, ~ (으)ㄹ, ~ 던).
3. Hư từ "đã" trong tiếng Việt có tương đương hoàn toàn với hình thái tố ~ 었 trong tiếng Hàn khi dịch thuật không?
Không hoàn toàn tương đương một - một. Mặc dù từ "đã" trong tiếng Việt khi dịch sang tiếng Hàn hầu như luôn được chuyển thành hình thái tố ~ 었 (hoặc ~ 었었), nhưng chiều ngược lại thì không cố định. Hình thái tố ~ 었 trong tiếng Hàn ngoài ý nghĩa thời quá khứ còn biểu thị thể hoàn thành hoặc trạng thái kết quả; do đó khi dịch sang tiếng Việt, nhiều trường hợp không dùng "đã" mà dùng câu không chứa hư từ hoặc kết hợp với các từ chỉ kết quả/trạng thái như "rồi", "xong".
4. Bốn nhóm lỗi phổ biến của sinh viên Việt Nam khi sử dụng phương thức biểu đạt thời gian tiếng Hàn là gì?
Luận án xác định 4 nhóm lỗi:
- Nhóm lỗi do lược bỏ hình thái tố thời gian (để động từ nguyên thể hoặc quên chia vĩ tố).
- Nhóm lỗi do dùng thừa hình thái tố thời gian (lạm dụng hình thái tố ở các vị trí ngữ cảnh không cho phép).
- Nhóm lỗi do dùng lẫn lộn các hình thái tố (nhầm lẫn giữa các hình thái tố định từ hoặc giữa các đuôi vị từ có sắc thái ý nghĩa gần nhau).
- Nhóm lỗi do đặc trưng loại hình tiếng Hàn (sai sót khi xác định thời tương đối trong câu phức/câu liên kết và kết hợp sai động từ bổ trợ chỉ thể).
5. Luận án đề xuất quy trình giảng dạy ngữ pháp thời - thể tiếng Hàn cho người Việt như thế nào?
Luận án đề xuất quy trình giảng dạy 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Cung cấp các khái niệm cơ bản về các thời quá khứ, hiện tại, tương lai đơn gắn liền với các hình thái tố tương ứng theo chuẩn thời gian tuyệt đối.
- Giai đoạn 2: Phân tích chi tiết các giới hạn ngữ nghĩa, tính đa trị (kết hợp thời, thể, tình thái), các trường hợp thời tương đối trong câu phức và các ngoại lệ bất quy tắc thông qua ngữ cảnh cụ thể và bài tập đối chiếu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nghiêm Thị Thu Hương là công trình ngôn ngữ học ứng dụng nghiên cứu đối chiếu có hệ thống phương thức biểu đạt thời gian giữa tiếng Hàn (ngôn ngữ chắp dính) và tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập). Bằng việc kết hợp cơ sở lý thuyết về thời gian ngữ pháp với việc phân tích ngữ liệu dịch thuật song ngữ thực tế, luận án đã làm sáng tỏ tính chất bắt buộc, đa trị của các hình thái tố tiếng Hàn và tính linh hoạt của hệ thống hư từ tiếng Việt. Công trình đã phân loại 4 nhóm lỗi ngữ pháp điển hình của sinh viên Việt Nam và đề xuất giải pháp sư phạm 2 giai đoạn, đóng góp tư liệu cho nghiên cứu lý luận đối chiếu và thực tiễn giảng dạy tiếng Hàn tại Việt Nam.