phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm ba chƣơng hư ng ơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học trực quan Chư ng ột số biện pháp sƣ phạm góp phần vận dụng dạy học trực quan vào trong dạy học hình học hông gian lớp T PT. hư ng Thực nghiệm sƣ phạm 8 z ƯƠNG. Mộ ố h i ni rự qu n tron ọ Theo cách hiểu thông thƣờng, trực quan đƣợc hiểu là nhận thức trực tiếp thông qua giác quan của con ngƣời. Trong tài liệu [ đã định ngh a Trực quan ngh a là dùng những vật cụ thể hay ngôn ngữ, cử ch làm cho S có đƣợc hình ảnh cụ thể về những điều đã học.
Tác giả trong [ đã định ngh a Trực quan trong dạy học đó là một nguyên tắc trong lí luận dạy học mà theo nguyên tắc này thì dạy học phải dựa trên những hình ảnh cụ thể, học sinh phải trực tiếp tri giác. Trong tài liệu [ định ngh a Trực quan giáo dục là ph p giáo dục hông dùng đến tƣ tƣởng, ý ức, suy lí, ch dạy cho học trò những cái thấy trƣớc mắt. Theo [22]: Trực quan theo đúng ngh a của nó hông đơn giản ch là quan sát sự vật b ng các giác quan, mà là hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng đƣợc bộc lộ, phơi bày một cách cảm tính, mà nếu hông có sự tác động đó thì chúng mãi còn là một bí n đối với nhận thức của con ngƣời. ơ sở của triết học của trực quan trong dạy học là trực quan trong lí luận.
on ngƣời có thể biết đƣợc sự tồn tại của vật chất cùng những thuộc tính của nó thông qua hoạt động nhận thức của mình. Theo Triết học ác – lênin, sự nhận thức của thế giới hách quan của con ngƣời trải qua hai trình độ là cảm tính và lí tính.I Lênin cho r ng sự vận động của nhận thức từ cảm tính đến lí tính là Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng, và từ tƣ duy trừu tƣợng đến thực tiễn – đó là con đƣờng biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức tại hách quan [ 22]. 9 z Ở trình độ cảm tính cảm giác và tri giác , sự vật, hiện tƣợng của thế giới tự nhiên tác động trực tiếp vào các cơ quan thụ cảm của con ngƣời, gây nên ích thích ở tế bào thần kinh, từ đó xuất hiện những cảm giác và hình ảnh về chúng. Sự tác động trực tiếp các sự vật, hiện tƣợng lên giác quan của con ngƣời đƣợc con ngƣời cảm nhận đó là trực quan.
Sản ph m của sự tác động đó là cảm giác và hình ảnh về các sự vật, hiện tƣợng đƣợc gọi là hình ảnh trực quan. Nhƣ vậy, nhận thức cảm tình chính là nhận thức trực qua là nhận thức đầu tiên của con ngƣời về thế giới. ình ảnh trực quan tuy mới cho ta biết đƣợc các thuộc tính tạm thời riêng l và lẫn lộn giữa các yếu tố bản chất với hông bản chất, nhƣng chúng lại rất quan trọng. Nhƣ vậy, nhận thức của con ngƣời bắt đầu từ trực quan, song nó hông dừng lại ở trực quan mà ngày càng tiến sâu hơn vào việc tìm hiểu bản chất và các qui luật của hiện tƣợng, ngh a là Vận động cảm tính lên lí tính, từ cảm giác đến tƣ duy đây là vấn đề trọng tâm của nhận thức nói chung và của trực quan nói riêng [17, Tr.
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, nhận thức trực quan cảm tính hông có ngh a là con ngƣời ngắm nhìn thế giới từ bên ngoài hay đơn giản ch là quan sát sự vật b ng các giác quan mà là hoạt động thực tiễn, hoạt động với đối tƣợng chủ thể nhận thức, qua đó hình thành cho mình hình ảnh về các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ giữa các thuộc tính đó [ ]. Theo tâm lí học, tất cả các học thuyết của các nhà tâm lí học lớn, b ng các công trình nghiên cứu của mình đã đi đến ết luận nguồn gốc của mọi tri thức cá nhân đều bắt đầu từ hành động bên ngoài các hành động vật lí đối với các đồ vật và hành động quan hệ đối với ngƣời hác. ơ chế hình thành các cấu trúc tâm lí nói chung, trí thức nói riêng, là quá trình tiếp nhận đối tƣợng, phân tích, cấu trúc lại các đối tƣợng đó b ng thực tiễn và chuyển hóa các hình thức biểu hiện của chúng từ dạng vật chất thành dạng tinh thần – tức là cơ chế chuyển vào trong [23]. 10 z Nhƣ vậy, theo các quan điểm trên nhận thức cảm tính chính là nhận thức trực quan.
Trực quan, hông ch đơn giản là quan sát sự vật b ng giác quan, mà là hoạt động thực tiễn, hoạt động với các đối tƣợng của chủ thể nhận thức, qua đó hình thành cho mình hình ảnh về các thuộc tính và sự vật và mối quan hệ giữa các thuộc tính đó. Vận dụng vào trong dạy học, muốn nhận thức đƣợc đối tƣợng học tập, học sinh phải có hình ảnh trực quan và biểu tƣợng về chúng, từ đó mới có cơ sở hình thành các hái niệm hoa học. Tuy nhiên hình ảnh trực quan đó hông đơn giản là ết quả của việc tri giác (b ng giác quan nghe, nhìn, ngửi, sờ mó, , mà phải là ết quả của hành động của S tác động lên đối tƣợng học tập. Trực quan hông ch tạo ra cho ngƣời học những inh nghiệm phong phú về đối tƣợng học tập mà còn giúp cho các em dựa vào đó để tiến hành các hoạt động nhận thức, hái quát những hái niệm hoa học, tiến sau vào nhận thức cơ bản của sự vật.
Theo đó trực quan trong dạy học cần đƣợc hiểu là S tiến hành hành động của mình trên các đối tƣợng học tập, làm biến đổi nó, qua đó hình thành các hình ảnh về cấu trúc và sự biến đổi của các đối tƣợng học tập. n trự qu n tron ọ hi nghiên cứu về trực quan trong dạy học, các nhà nghiên cứu lí luận trong dạy học thƣờng dùng thuật ngữ tính trực quan để nói về các thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng, thuộc tính này nói lên các những đặc điểm của sự vật, hiện tƣợng chính vì vậy ngƣời ta có thể hiểu đƣợc chúng một cách dễ dàng.4] Tính trực quan – đó là các dạng đặc biệt của hoạt đông nhận thức trong quan hệ các đối tƣợng cụ thể và các hiện tƣợng, đó là sự phân tích thực tiễn, hiện tƣợng và tổng hợp, là các cấp độ đầu tiên của hoạt động nhận thức, và với ngh a đó, nó xảy ra trƣớc sự phân tích và tổng hợp mang tinh chất trí tuệ, đƣợc tiến hành ở bình diện ngôn ngữ. Sacđacop cho 11 z r ng Tính trực quan trong dạy học dựa trên các quy luật phát triển trong mối quan hệ qua lại của trừu tƣợng hóa, hái quát hóa và cụ thể hóa. Tính trực quan trong việc dạy học thể hiện trong việc sử dụng nhận thức cảm tính, tức là tích l y các biểu tƣợng về các sự vật và hiện tƣợng cụ thể để tiếp thu và hoàn thiện các tri thức lí luận hái quát [15, tr.63]: Tính trực quan trong giảng dạy học từ trƣớc đến nay vẫn là một yếu tố có tính nguyên tắc.
Trong luận văn này tôi sử dụng thuật ngữ tính trực quan với quan niệm n trự qu n tron ọ một ut n u nt vệ ọ p ự tr n n nt m tn ự tr n n n qu n s t tr trự t p v t un qu n n trự qu n tron ọ t ện tron v ệ s n n nt mtn t t ut n v sự v t v ện t n t t pt uv o n t ện tr t u n quan. n trự qu n tron qu tr n ọ u n văn n o n một p n t ện tr p ovệ n ộ tr t qu t tn t n ệm u nt trự qu n tron ọ Nguyên tắc trực quan trong dạy học hay còn gọi là nguyên tắc sự thống nhất gữa cái cụ thể với cái trừu tƣợng trong dạy học là một nguyên tắc quan trọng trong hệ thống các nguyên tắc trong dạy học và đã đƣợc gọi b ng nhiều cách hác nhau. ột số nhà giáo dục học nhƣ [8, tr.33] cho r ng nguyên tắc trực quan đứng độc lập trong hệ thống các nguyên tắc dạy học. ột số nhà giáo dục học nhƣ trong [ , tr.158], [24], [11], [14 cho r ng, nguyên tắc trực quan là nguyên tắc thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tƣợng trong dạy học.43] lại gọi là nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất tính trực quan với sự phát triển tƣ duy lí thuyết.
Nhƣ vậy mặc dù đã có sự hác biệt trong cách gọi. Nhƣng về cơ bản, các nhà lí luận đã thống nhất đƣợc tính trực quan ở hai điểm cơ bản nhƣ sau 12 z Thứ nhất, các nhà lí luận đã thống nhất đƣợc Nguyên tắc trực quan có vai trò cảm tính của nhận thức trong hoạt động dạy học. Thứ hai, các nhà lí luận đã thống nhất đƣợc Nguyên tắc trực quan đƣợc xây dựng dựa trên cái cụ thể với cái trừu tƣợng. Nguyên tắc trực quan hông phải là mới m.
Nhà giáo dục học v đại ngƣời Tiệp hắc, ômenx i ở thế là ngƣời đầu tiên đƣa ra nguyên tắc trực quan trong dạy học. ng cho r ng cần phải dạy cho S nghiên cứu và nhận thức bản thân sự vật, chứ hông phải nghiên cứu những điều chứng minh của ngƣời hác. ng đòi hỏi r ng dạy học phải dựa trên nhận thức cảm tính của S, dựa trên những quan sát của S về thực tại và xung quanh. Về sau, nguyên tắc trực quan ngày càng có vị trí vững chắc trong các nguyên tắc dạy học.
ó nhiều công trình nghiên cứu phát triển nguyên tắc dạy học này.