Luận án nghiên cứu phẫu thuật điều trị vẹo cột sống vô căn

Luận án nghiên cứu phương pháp phẫu thuật điều trị vẹo cột sống vô căn bằng cấu hình toàn vít qua cuống đốt sống, mang lại hiệu quả cao.

Trường đại học

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

157
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

1.1.1. Nghiên cứu vẹo cột sống thời kỳ sơ khai

1.1.2. Điều trị bảo tồn vẹo cột sống

1.1.3. Sự phát triển của phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống

1.1.3.1. Trên thế giới
1.1.3.2. Ở Việt Nam

1.2. SINH BỆNH HỌC, GIẢI PHẪU HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘT SỐNG TRONG VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

1.2.1. Sinh bệnh học

1.2.2. Giải phẫu cột sống liên quan tới vẹo cột sống vô căn

1.2.3. Sự phát triển của cột sống

1.3. LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

1.3.1. Cận lâm sàng

1.4. ĐÁNH GIÁ BIẾN DẠNG VÀ MỨC ĐỘ TRƯỞNG THÀNH XƯƠNG CỘT SỐNG

1.4.1. Phương pháp đo góc Cobb

1.4.2. Đo độ xoay của thân đốt sống

1.4.3. Dấu hiệu Risser

1.5. PHÂN LOẠI VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

1.5.1. Phân loại theo tuổi khởi phát

1.5.2. Theo vị trí

1.5.3. Theo mức độ vẹo

1.5.4. Phân loại theo X quang

1.6. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

1.6.1. Điều trị bảo tồn

1.6.2. Phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống vô căn

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.3. Quy trình phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống toàn vít qua cuống

2.2.4. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

3.1.1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới

3.1.2. Chiều cao, cân nặng và chỉ số khối cơ thể (BMI) của bệnh nhân trước mổ

3.1.3. Phân bố theo tuổi có kinh nguyệt lần đầu tiên

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

3.2.1. Đặc điểm lâm sàng

3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

3.2.3. Mối liên quan của các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.3. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

3.3.1. Đường phẫu thuật và kỹ thuật bắt vít

3.3.2. Thời gian phẫu thuật

3.3.3. Thời gian nằm viện

3.3.4. Lượng máu mất và truyền máu

3.3.5. Chiều cao tăng lên ngay sau mổ

3.3.6. Kết quả nắn chỉnh sau mổ của các đường cong trong mặt phẳng trán

3.3.7. Các đường cong cột sống trong mặt phẳng đứng dọc sau mổ và khám lại

3.3.8. Chức năng hô hấp sau khám lại

3.3.9. Kết quả chủ quan của người bệnh

3.4. CHẨN ĐOÁN VẸO CỘT SỐNG VÔ CĂN

3.4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân

3.4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.5. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

3.5.1. Thời gian phẫu thuật

3.5.2. Thời gian nằm viện sau mổ

3.5.3. Kết quả nắn chỉnh sau mổ

3.5.4. Thay đổi của chức năng hô hấp sau mổ

3.5.5. Bệnh nhân tự đánh giá kết quả phẫu thuật tại thời điểm khám lại

3.5.6. Kết quả chung và một số yếu tố ảnh hưởng

3.6. BÀN LUẬN VỀ CHỈ ĐỊNH VÀ QUY TRÌNH PHẪU THUẬT

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vẹo cột sống vô căn (VCSVC) là một tình trạng biến dạng cột sống phổ biến, đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên. Theo định nghĩa của Cobb, VCSVC được xác định khi có đường cong cột sống từ 10 độ trở lên. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến hình dáng bên ngoài mà còn có thể gây ra các vấn đề về chức năng hô hấp và tim mạch. Việc điều trị VCSVC đã được thực hiện qua nhiều phương pháp, từ bảo tồn đến phẫu thuật. Phẫu thuật thường được chỉ định khi góc vẹo đạt từ 40 độ trở lên. Sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật, đặc biệt là việc sử dụng cấu hình vít qua cuống đốt sống, đã mang lại hiệu quả cao trong việc nắn chỉnh và duy trì sự ổn định của cột sống.

1.1. Tình trạng và ảnh hưởng của VCSVC

VCSVC ảnh hưởng đến khoảng 2-3% trẻ em trong độ tuổi thanh thiếu niên. Tình trạng này có thể dẫn đến những biến dạng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các nghiên cứu cho thấy rằng chỉ khoảng 10% bệnh nhân với đường cong trên 10 độ cần điều trị bảo tồn, trong khi tỷ lệ phẫu thuật còn thấp hơn. Việc phẫu thuật thường được thực hiện khi có nguy cơ cao về biến chứng hoặc khi tình trạng vẹo cột sống tiến triển nhanh chóng.

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Lịch sử nghiên cứu và điều trị VCSVC đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ những mô tả đầu tiên của Hippocrates cho đến các kỹ thuật hiện đại, phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống đã có những bước tiến đáng kể. Việc sử dụng cấu hình vít trong phẫu thuật đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống. Nghiên cứu của Suk và cộng sự đã chỉ ra rằng cấu trúc toàn vít tạo ra sự cố định vững chắc và cải thiện khả năng nắn chỉnh cột sống trong cả ba mặt phẳng.

2.1. Sự phát triển của phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống

Phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống đã được thực hiện từ thế kỷ 19 với nhiều kỹ thuật khác nhau. Các dụng cụ như nẹp vít, móc, và thanh giằng đã được phát triển để hỗ trợ trong việc nắn chỉnh cột sống. Sự ra đời của hệ thống dụng cụ chỉnh vẹo thế hệ thứ ba, đặc biệt là hệ thống của Cotrel và Dubousset, đã mở ra một kỷ nguyên mới trong phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống. Việc sử dụng vít qua cuống đốt sống đã cho thấy khả năng nắn chỉnh tốt hơn và giảm thiểu biến chứng.

III. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

Kết quả phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống bằng cấu hình vít qua cuống đốt sống cho thấy tỷ lệ nắn chỉnh cao và ít biến chứng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng vít qua cuống không chỉ cải thiện khả năng nắn chỉnh mà còn giúp duy trì sự ổn định của cột sống trong thời gian dài. Thời gian phẫu thuật cũng được rút ngắn, và bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nắn chỉnh đạt 72% với cấu trúc sử dụng vít, so với 55% với cấu trúc sử dụng móc.

3.1. Đánh giá hiệu quả phẫu thuật

Đánh giá hiệu quả phẫu thuật cho thấy rằng việc sử dụng cấu hình vít mang lại kết quả khả quan. Tỷ lệ nắn chỉnh cao hơn và sự mất nắn chỉnh ít hơn so với các phương pháp truyền thống. Bệnh nhân cũng cho thấy sự cải thiện về chức năng hô hấp và chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật. Việc theo dõi lâu dài cho thấy rằng cấu hình vít qua cuống đốt sống có thể duy trì hiệu quả nắn chỉnh trong thời gian dài.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ VẸO CỘT SỐNGVÔ CĂN 1. Nghiên cứu vẹo cột sống thời kỳ sơ khai Trong thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, Hippocrates lần đẫu tiên đã mô tả vẹo cột sống, và đã thiết kế một máy kéo giãn cho việc nắn chỉnh các biến dạng cột sống. Trong thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, Galen đã đưa ra những khái niệm mới như vẹo cột sống, gù cột sống, ưỡn cột sống.

Trong thời kỳtừ năm 500-1000 sau công nguyên những người bị biến dạng cột sống được cho rằng là do sự trừng phạt của thần thánh, cho nên những BN này được coi là dị giáo[16]. Điều trị bảo tồn vẹo cột sống Tài liệu cổ nhất nói tới điều trị VCS có lẽ là trong sử thi của người Ấn Độ cổ, trong đó họ điều trị VCS bằng cách kéo dọc theo trục cột sống. Ở thời cổ đại, Hippocrates là người đầu tiên phát minh ra bàn kéo dãn cột sống. Ambroise Parélà người đầu tiên sử dụng áo chỉnh hình trong điều trị VCS.

Ông sử dụng áo chỉnh hình bằng sắt và chúng phải được thay đổi kích thước cho phù hợp với BN trong từng giai đoạn phát triển của cột sống, sự điều chỉnh này được thực hiện 3 tháng một lần. Năm 1945, Walter Putnam Glisson đã giới thiệu áo chỉnh hình Milwaukee, đây được coi là một bước tiến mang tính cách mạng trong việc điều trị VCS bằng áo chỉnh hình và nó vẫn được sử dụng cho tới ngày nay. Sự phát triển của phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống 1. Trên thế giới Những cố gắng đầu tiên về phẫu thuật trong điều trị vẹo cột sống đã được báo cáo trong thời gian từ giữa tới cuối thế kỷ 19.

Delpech đã giới thiệu kỹ thuật cắt cân cơ cạnh sống trong điều trị VCS vào năm 1818. Guerin sau 4 đó trở thành một người say mê phương pháp của Delpech và áp dụng nó trong điều trị vẹo cột sống, vì ông cho rằng chính sự mất cân bằng của cơ cạnh sống là nguyên nhân gây nên sự phát triển của VCS. Năm 1889 Volkman đã cố gắng giải phóng những biến dạng của xương sườn, và ông được cho là người đầu tiên tiến hành các can thiệp vào các cấu trúc xương trong việc phẫu thuật điều trị vẹo cột sống[17]. Các dụng cụ cố định trong việc thực hiện và duy trì sự nắn chỉnh[18] Wreden là người đầu tiên áp dụng dụng cụ kim loại vào trong cột sống trong điều trị vẹo cột sống.

Ông là người đầu tiên cắt bỏ xương sườn ở bên lồi và sau đó cố định bằng nẹp kim loại vào mỏm gai cùng bên. Albee đã mô tả phẫu thuật hàn xương cột sống trong điều trị VCS. Ông sử dụng miếng xương chầy để chống ở phía bên lõm của đường cong để giữ các đốt sống đỉnh vẹo không bị lệch sang ngang và sử dụng một miếng xương chầy khác để chống từ các xương sườn ở phía bên lõm của đường cong vào khung chậu. Về lĩnh vực hàn xương cột sống Russell Hibbs, ở New York, đã làm thay đổi bộ mặt của phẫu thuật hàn xương, sử dụng quy trình hàn xương của ông được thực hiện từ năm 1914 đến 1919 để điều trị cho 59 BN, hầu hết trong số họ là những BN bại liệt những BN này đã phải tiến hành nắn chỉnh trước phẫu thuật qua khung kéo sọ- chậu[19],[20].

Hiện tại, chúng ta vẫn sử dụng kỹ thuật hàn xương của Hibbs trong vấn đề hàn xương cột sống phía sau. Sự ra đời của các dụng cụ cố định và nắn chỉnh bên trong trong phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống Dụng cụ Harrington Năm 1955, được phát triển bởi Paul Harrington ở Houston, Texas, trong việc sử dụng dụng cụ giãn và nén ép là mốc ý nghĩa nhất trong sự phát triển phẫu thuật vẹo cột sống ở thời điểm này [21].1: Phẫu thuật chỉnh vẹo lối sau của Harrington[21] Dụng cụ phân đoạn Vào cuối thập niên 1970 Resina và Alves ở Bồ Đào Nha đã thêm chỉ thép vào cấu trúc thanh dọc của Harrington để tạo nên sự cố định và nắn chỉnh tốt hơn mà không cần thêm sự bất động phía ngoài[22]. Năm 1982 tác giả Eduardo Luque người Mexico[23] đã mô tả hệ thống của ông với hai thanh dọc hình chữ L và chỉ thép buộc dưới cung sau theo từng phân đoạn để kéo cột sống theo chiều ngang có tác dụng cải thiện sự nắn chỉnh với độ vững tốt hơn. Ông cũng thêm kết nối ngang để truyền tải lực trên cột sống.

Để cố định dụng cụ phân đoạn của Luque thêm vững chắc trong đường cong do liệt, Allan và Ferguson đã phát minh ra kỹ thuật Galveston[24], do phần ngang ở dưới của cấu trúc thanh dọc L có thể đặt vào trong khung chậu. Ở Pháp, Cotrel và Dubousset [25]đã phát minh ra một hệ thống dụng cụ cột sống mới mang tính đột phá và những dụng cụ này được coi là thế hệ 6 dụng cụ cột sống thứ ba. Đây là hệ thống hai thanh dọc, với 1 thanh dọc cho phía lõm và 1 thanh dọc cho phía lồi của đường cong vẹo cột sống, với nhiều móc ở mỗi bên thanh dọc có tác dụng để từng đoạn cột sống có thể được ép hoặc giãn trên cùng một thanh dọc. Sự phát triển của các dụng cụ phẫu thuật đường trước Dụng cụ đường trước được phát triển bởi Dwyer ở Úc vào thập niên 1960[26].

Ông tiến hành bắt vít đi ngang qua thân các đốt sống đỉnh, kết hợp với lấy bỏ các đĩa đệmđể làm lỏng và hàn xương đường trước. Ở mỗi tầng của đường cong vẹo các vít sẽ được ép để làm ngắn lại ở phần bên lồi của đường cong, và sau đó được cố định lại để duy trì nắn chỉnh.2 : Dụng cụ nắn chỉnh vẹo cột sống đường trước của Dwyer[27] Ở Đức, năm 1978 Klaus Zielke [28]đã chỉnh sửa hệ thống của Dwyer, bằng cách sử dụng thanh dọc ép có ren thay thế cho dây bện bằng kim loại. Mặc dù kỹ thuật này của Zielke được thực hiện rất tốt với cột sống thắt lưng, tuy nhiên nó lại không phù hợp với cột sống ngực, nơi mà đường cong cột sống lại cong lồi ra sau. Ở Việt Nam Năm 1994, Vũ Tam Tỉnh[29] bắt đầu nghiên cứu khung kéo sọ-đùi kết hợp với phẫu thuật bằng dụng cụ Harrington cho những BN vẹo cột sống, kết quả bước đầu còn hạn chế trong nắn chỉnh và duy trì mức độ nắn chỉnh.

Năm 1998, Võ Văn Thành [30]báo cáo bước đầu phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống bằng dụng cụ CD. Năm 2003, Nguyễn Thế Luyến [31]báo cáo phẫu thuật điều trị cho các BN VCS bằng dụng cụ Harrington-Luque.Tác giả nghiên cứu 41 BN VCS, trong đó có 31 trường hợp VCS vô căn, 8 BN do di chứng sốt bại liệt và 2 trường hợp VCS bẩm sinh. Tỷ lệ nắn chỉnh chung đạt 47,44%. Năm 2004, Võ Văn Thành báo cáo bước đầu chỉnh vẹo cột sống nặng lối sau bằng ốc chân cung bằng kỹ thuật hình phễu.

Tác giả nghiên cứu 21 BN VCS, trong đó có 13 trường hợp VCS vô căn và 6 trường hợp VCS có căn nguyên (dính xương sườn, di chứng bại liệt, dị tật thân đốt sống …). Tỷ lệ sửa chữa trung bình sau mổ đạt 45,56%. Năm 2010, Trần Quang Hiển [13]nghiên cứu 18 BN VCS vô căn được phẫu thuật chỉnh vẹo bằng vít qua cuống với thời gian theo dõi trung bình 17,7 tháng, tỷ lệ nắn chỉnh đạt 58,4%. Năm 2011, Vũ Văn Chính [32]báo cáo 40 trường hợp VCS, trong đó có 27 BN VCS vô căn, 9 BN VCS do dị tật thân đốt sống và 4 trường hợp VCS có căn nguyên khác (Arnold Chiari, u xơ cơ thần kinh …), tỷ lệ nắn chỉnh VCS vô căn đạt 76% với tuổi trung bình của BN khi phẫu thuật là 11,8 tuổi.

Năm 2012, Phạm Ngọc Thoan [33]báo cáo phẫu thuật cho 20 BN VCS vô căn bằng nẹp vít qua cuống với thời gian theo dõi trung bình 15,5 tháng, tỷ lệ nắn chỉnh sau mổ đạt 66,5% và 60,8% ở thời điểm theo dõi cuối cùng. Các nghiên cứu đều tập trung đánh giá khả năng nắn chỉnh vẹo cột sống của các dụng cụ và kỹ thuật phẫu thuật VCS. Những đánh giá về đặc điểm 8 lâm sàng của các BN VCS vô căn được đề cập ít và chưa có hệ thống. Kết quả phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống vô căn với cấu trúc toàn vít qua cuống đốt sống Cuộc cách mạng trong phẫu thuật chỉnh vẹo cột sống được đánh dấu với sự ra đời của hệ thống dụng cụ chỉnh vẹo thế hệ thứ ba được Cotrel và Dubousset thiết kế.

Giai đoạn đầu việc chỉnh vẹo được sử dụng với vít và các móc ở phía trên đối với các đốt sống ngực cao. Năm 1994, Suk và cộng sự là những người đầu tiên sử dụng cấu trúc toàn vít qua cuống trong phẫu thuật vẹo cột sống, đặc biệt đối với cột sống ngực. Tác giả so sánh hiệu quả nắn chỉnh của các cấu trúc dụng cụ chỉnh vẹo gồm cấu trúc chỉ sử dụng móc, cấu trúc kết hợp cả vít và móc và cấu trúc chỉ có vít, Suk kết luận rằng cấu trúc toàn vít tạo nên sự cố định vững ngay lập tức của hệ thống, cũng như sự nắn chỉnh biến dạng trong cả ba mặt phẳng (trán, đứng dọc và mặt phẳng ngang) đều tốt hơn so các nhóm còn lại. Kỹ thuật này có tác dụng duy trì sự nắn chỉnh tốt hơn, số tầng hàn xương ngắn hơn, ít gây biến chứng thần kinh và rút ngắn thời gian phẫu thuật so với các phương khác còn lại.Đối với chỉnh vẹo bằng hệ thống móc có ưu điểm là chúng không tạo nên sự kích thích rễ thần kinh, nhưng kỹ thuật thì phức tạp và tốn nhiều thời gian.

Đối với những trường hợp cuống nhỏ hoặc cuống không có xương xốp thì việc bắt vít qua cuống sẽ không thực hiện được. Trong quá trình đặt các móc, hoặc trong việc đưa thanh dọc cũng như xoay thanh dọc, thì các móc có thể dễ dàng tuột và thậm chí cắt đứt xương. Vít qua cuống sẽ bất động cứng tất cả các hướng ngay sau khi bắt vít, việc đặt thanh dọc cũng trở nên dễ dàng hơn, sự xoay và giãn hoặc nén theo từng phân đoạn, cũng như sự tạo lực nắn chỉnh mạnh hơn. Thời gian phẫu thuật có thể rút ngắn hơn, sự nắn chỉnh sẽ được cải thiện trên cả ba mặt phẳng đứng ngang, đứng dọc và mặt phẳng nằm ngang (di lệch xoay) và sự mất nắn chỉnh sau thời gian ít hơn[34].Sự nắn chỉnh biến dạng 9 trên mặt phẳng đứng ngang là tốt hơn với cấu trúc vít qua cuống đường sau so với cấu trúc sử dụng móc.

Năm 1995, Suk đã so sánh cấu trúc sử dụng vít và móc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án nghiên cứu phẫu thuật điều trị vẹo cột sống vô căn" được thực hiện tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Hà Nội, năm 2023, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp phẫu thuật điều trị vẹo cột sống vô căn bằng cấu hình vít qua cuống đốt sống. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mắc bệnh này. Đặc biệt, luận án không chỉ trình bày các kết quả nghiên cứu mà còn đưa ra những lợi ích thiết thực cho các bác sĩ và chuyên gia y tế trong việc áp dụng các phương pháp điều trị hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương, nơi nghiên cứu về kháng sinh trong phẫu thuật, hay Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy, cung cấp thông tin về các kỹ thuật phẫu thuật trong điều trị ung thư. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode, một nghiên cứu khác trong lĩnh vực phẫu thuật y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.