Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị thoát vị bẹn

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ y học

2018

175
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. GIẢI PHẪU LIÊN QUAN ĐẾN THOÁT VỊ BẸN

2.2. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI THOÁT VỊ BẸN

2.3. PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN

2.3.1. Chỉ định và chống chỉ định

2.3.2. Phẫu thuật mở

2.3.3. Phẫu thuật nội soi ba lỗ

2.3.4. Phẫu thuật nội soi TEP một lỗ

2.4. ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT PTNS MỘT LỖ QUA Ổ BỤNG ĐẶT MẢNH GHÉP NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN

2.4.1. Chỉ định và chống chỉ định

2.4.2. Đặc điểm kỹ thuật

2.4.3. Ưu, nhược điểm và cách khắc phục

2.5. KẾT QUẢ PTNS MỘT LỖ QUA Ổ BỤNG ĐẶT MẢNH GHÉP NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN

2.5.1. Kết quả sớm

2.5.2. Kết quả xa

2.6. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.6.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.6.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.6.2.1. Thiết kế và cỡ mẫu nghiên cứu
2.6.2.2. Quy trình kỹ thuật được thực hiện trong nghiên cứu
2.6.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.6.2.4. Thu thập và xử lý số liệu
2.6.2.5. Đạo đức nghiên cứu của đề tài

2.7. ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT PTNS MỘT LỖ QUA Ổ BỤNG ĐẶT MẢNH GHÉP NGOÀI PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN (LẦN 2)

2.7.1. Một số đặc điểm bệnh nhân

2.7.2. Đặc điểm kỹ thuật

2.8. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

2.8.1. Kết quả sớm

2.8.2. Kết quả xa

CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Danh sách bệnh nhân nghiên cứu

Phụ lục 2. Bệnh án nghiên cứu

Phụ lục 3. Phiếu khám lại bệnh nhân

Phụ lục 4. Phiếu theo dõi bệnh nhân

Tóm tắt

I. Phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị thoát vị bẹn

Phẫu thuật nội soi một lỗ (SILS) là một kỹ thuật tiên tiến trong điều trị thoát vị bẹn, được phát triển nhằm giảm thiểu xâm lấn và tăng tính thẩm mỹ. Kỹ thuật này sử dụng một đường rạch duy nhất qua ổ bụng để đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc, giúp điều trị hiệu quả thoát vị bẹn. Phương pháp này được Kroh giới thiệu lần đầu vào năm 2009 và đã được nhiều nghiên cứu chứng minh tính an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, kỹ thuật này cũng đặt ra thách thức lớn do hạn chế không gian thao tác, đặc biệt khi xử lý các biến chứng trong mổ.

1.1. Kỹ thuật phẫu thuật

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc (SILS-TAPP) bao gồm các bước: đặt hệ thống cổng SILS vào ổ bụng, bộc lộ phúc mạc xung quanh túi thoát vị, thắt cổ túi thoát vị, đặt và cố định mảnh ghép bằng protack, và đóng lại phúc mạc. Kỹ thuật này yêu cầu sự chính xác cao trong việc xác định các mốc giải phẫu như dây chằng Coopertam giác Hesselbach để tránh tổn thương các cấu trúc quan trọng.

1.2. Ưu điểm và nhược điểm

Phẫu thuật nội soi một lỗ mang lại nhiều ưu điểm như giảm đau sau mổ, tăng tính thẩm mỹ, và thời gian hồi phục nhanh. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là hạn chế không gian thao tác, gây khó khăn trong việc xử lý các biến chứng như chảy máu hoặc tổn thương mạch máu. Điều này đòi hỏi bác sĩ phải có kinh nghiệm và kỹ năng cao để thực hiện thành công.

II. Kết quả phẫu thuật và điều trị

Kết quả phẫu thuậtđiều trị bằng phẫu thuật nội soi một lỗ cho thoát vị bẹn đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu. Các kết quả sớm bao gồm giảm đau sau mổ, thời gian nằm viện ngắn, và tỷ lệ biến chứng thấp. Kết quả xa cho thấy tỷ lệ tái phát thấp và sự hài lòng cao của bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn cần thêm các nghiên cứu dài hạn để đánh giá toàn diện hiệu quả của phương pháp này.

2.1. Kết quả sớm

Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi một lỗ bao gồm giảm đau đáng kể sau mổ, thời gian nằm viện trung bình từ 1-2 ngày, và tỷ lệ biến chứng như nhiễm trùng vết mổ hoặc tụ máu dưới da thấp. Các bệnh nhân cũng có thể trở lại sinh hoạt bình thường nhanh chóng, nhờ vào tính ít xâm lấn của phương pháp.

2.2. Kết quả xa

Kết quả xa cho thấy tỷ lệ tái phát thoát vị bẹn sau phẫu thuật nội soi một lỗ rất thấp, chỉ khoảng 1-2%. Bệnh nhân cũng ít gặp các biến chứng như đau mạn tính vùng bẹn hoặc tê bì, nhờ vào việc tránh tổn thương các dây thần kinh quan trọng trong quá trình phẫu thuật.

III. Ứng dụng thực tiễn và giá trị nghiên cứu

Nghiên cứu về phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị thoát vị bẹn có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt trong việc cải thiện chất lượng điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Phương pháp này cũng mở ra hướng đi mới trong việc áp dụng các kỹ thuật ít xâm lấn vào thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu so sánh với các phương pháp truyền thống để khẳng định hiệu quả vượt trội của nó.

3.1. Giá trị thực tiễn

Phẫu thuật nội soi một lỗ mang lại giá trị thực tiễn lớn trong việc điều trị thoát vị bẹn, đặc biệt là giảm thiểu thời gian hồi phục và tăng tính thẩm mỹ. Phương pháp này cũng giúp giảm chi phí điều trị nhờ thời gian nằm viện ngắn và ít biến chứng.

3.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn và so sánh với các phương pháp truyền thống như phẫu thuật mở hoặc phẫu thuật nội soi ba lỗ để đánh giá toàn diện hiệu quả của phẫu thuật nội soi một lỗ. Ngoài ra, việc cải tiến công cụ và kỹ thuật cũng là hướng đi quan trọng để khắc phục các nhược điểm hiện tại.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thoát vị bẹn (TVB) là hiện tƣợng các tạng trong ổ bụng chui qua ống bẹn hoặc một điểm yếu của thành bụng vùng bẹn, trên dây chằng bẹn ra dƣới da hay xuống bìu. Đây là bệnh lý ngoại khoa thƣờng gặp trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam. Theo thống kê: Mỗi năm thế giới có khoảng 20 triệu bệnh nhân (BN) phẫu thuật thoát vị bẹn, tại Mỹ có khoảng 800.000 trƣờng hợp thoát vị (TV) vùng bẹn-đùi, trong đó có tới 770.000 là thoát vị bẹn và 30.000 thoát vị đùi [91], [103]. Điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật (PT) là phƣơng pháp chủ yếu.

Kể từ khi phẫu thuật Bassini ra đời vào năm 1884, trải qua hơn một thế kỷ cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với hàng trăm loại phẫu thuật nhằm cải thiện kết quả điều trị, giảm tỷ lệ tái phát, tai biến và biến chứng [14], [60]. Năm 1987 đánh dấu kỷ nguyên ra đời của phẫu thuật nội soi (PTNS), đặt nền móng cho phẫu thuật ít xâm lấn. Kể từ đó, nhiều kỹ thuật phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị bẹn cũng dần đƣợc áp dụng với kết quả khả quan [130]. Hiện nay có hai phƣơng pháp đang đƣợc ứng dụng rộng rãi là: qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc (Trans-abdominal preperitoneal - TAPP) và đặt mảnh ghép hoàn toàn ngoài phúc mạc (Total extraperitoneal - TEP).

Phƣơng pháp TAPP đƣợc nhiều tác giả sử dụng bởi tính an toàn, hiệu quả, dễ thực hiện và ít tai biến, biến chứng do tổn thƣơng xác định đƣợc ngay sau khi đặt camera, không gian thao tác rộng, tiếp cận trực tiếp và làm vững chắc thành bẹn sau nên kỹ thuật đƣợc thực hiện cả với thoát vị bẹn nghẹt [2], [60], [131]. Những năm đầu thế kỷ 21, phẫu thuật nội soi một lỗ đã đƣợc triển khai với nhiều bệnh lý khác nhau. Tùy theo kỹ thuật, phƣơng tiện sử dụng, mà phẫu thuật này có những tên gọi khác nhau (LESS: Laparo-endoscopic single-site; SILS: Single incision laparoscopic surgery; SPL: Single-port laparoscopy;…). Phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (SILS -TAPP) đƣợc tác giả Kroh thực hiện đầu tiên vào năm 2009, cho kết quả tốt [69].

Từ đó đến nay, nhiều tác giả nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả 2 của phƣơng pháp này và có chung nhận định: phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc là phƣơng pháp an toàn, hiệu quả, tăng tính thẩm mỹ và giảm đau sau mổ [111], [117]. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra nhƣợc điểm lớn của kỹ thuật là hạn chế tam giác phẫu thuật dẫn đến thao tác khó khăn, đặc biệt khi xử trí các tai biến trong mổ [34], [50], [56]. Đây cũng là những thách thức lớn với các nhà ngoại khoa trên thế giới. Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi TAPP một lỗ là một cách tiếp cận mới trong điều trị thoát vị bẹn, chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi và còn nhiều tranh luận trong việc lựa chọn phƣơng pháp này.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn”, nhằm hai mục tiêu: 1. Nghiên cứu một số đặc điểm kỹ thuật của phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn. Đánh giá kết quả điều trị thoát vị bẹn bằng phẫu thuật nội soi một lỗ qua ổ bụng đặt mảnh ghép ngoài phúc mạc tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

GIẢI PHẪU LIÊN QUAN ĐẾN THOÁT VỊ BẸN. * Thành bụng vùng bẹn. Thành bụng vùng bẹn gồm các lớp: Da, lớp mỡ dƣới da, lớp mạc nông, mạc của cân cơ chéo bụng ngoài, cân và cơ chéo bụng trong, cân và cơ ngang bụng, mạc ngang, lớp mỡ trƣớc PM và cuối cùng là PM thành [12], [40] (Hình 1. Cơ chéo bụng ngoài: Bờ dƣới của cơ tạo nên dây chằng bẹn, phía trên – ngoài bám vào gai chậu trƣớc trên và bên dƣới – trong bám vào củ mu [11].

Cơ chéo bụng trong: Ở vùng bẹn, các thớ cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng phối hợp tạo nên liềm bẹn (gân kết hợp), bám vào mào lƣợc xƣơng mu [11], [40]. Trong PT điều trị TVB, Bassini khâu gân kết hợp với cung đùi để phục hồi thành bụng, Shouldice khâu gân kết hợp với cân cơ chéo ngoài [46], [121]. Các lớp của thành bụng trước Hình 1. Cân cơ ngang bụng và ống bẹn (Nguồn: Drake R.

Cơ ngang bụng có cấu tạo đặc biệt là nhiều cân và ít sợi cơ hơn cơ chéo bụng trong và cơ chéo bụng ngoài [11], [40]. Cơ ngang bụng là một mốc giải phẫu quan trọng để cố định mảnh ghép trong phẫu thuật TAPP điều trị TVB (Hình 1. 4 * Các dây chằng - Dây chằng Henlé là sự mở rộng của cân cơ thẳng bụng để bám lên xƣơng mu. - Dây chằng bẹn gồm các sợi cân rất căng, song song với nhau nên rất dễ rách.

Cung đùi và dây chằng bẹn dùng để phân biệt TVB hay TV đùi. Một phần của dây chằng bẹn bám vào đƣờng trắng giữa gọi là dây chằng phản chiếu [114]. - Dây chằng lược (dây chằng Cooper) do sự hòa lẫn lớp chu cốt mạc của mào lƣợc từ các thớ tụ lại của mạc ngang và dải chậu mu, là một cấu trúc giải phẫu rất chắc, quan trọng để ứng dụng điều trị TVB. Khi khâu cân cơ ngang bụng vào dây chằng Cooper sẽ đóng kín đƣợc cả tam giác bẹn và ống đùi, điều trị đƣợc cả TVB và TV đùi [11], [59].

- Cung chậu lược là chỗ dày lên của mạc chậu, từ dải chậu mu vòng xuống, tạo thành một lớp áo che cơ chậu vùng này [11], [15]. - Dải chậu mu là một dải cân từ cung chậu lƣợc đến ngành trên xƣơng mu. Phía ngoài bám vào xƣơng chậu, mạc cơ thắt lƣng chậu và liên tiếp ra ngoài gai chậu trƣớc trên, từ ngoài đi vào trong tạo nên bờ dƣới của lỗ bẹn sâu, đi qua mạch đùi tạo nên bờ trƣớc của bao mạch đùi, tận cùng ở trong hòa lẫn vào bao cơ thẳng bụng và dây chằng lƣợc [11], [58], [112] (Hình 1. Cấu trúc cân cơ, dây chằng bẹn (Nguồn: Skandalakis J.

(2004) [112]) 5 - Dây chằng gian hố là chỗ dày lên của mạc ngang ở bờ trong lỗ bẹn sâu, phía trên dính vào mặt sau cơ ngang bụng, phía dƣới dính vào dây chằng bẹn. * Mạch máu vùng bẹn Vùng bẹn và đùi đƣợc cung cấp máu bởi 4 nguồn động mạch (ĐM): + Lớp da và lớp dƣới da đƣợc cấp máu từ ba nguồn: ĐM mũ chậu nông, ĐM thƣợng vị nông và ĐM thẹn ngoài nông. Ba ĐM này đều xuất phát từ ĐM đùi. ĐM mũ chậu nông đi ra phía ngoài và lên trên qua ống bẹn, ĐM thƣợng vị nông chạy lên trên và vào trong, ĐM thẹn ngoài nông chạy vào phía trong cấp máu cho da dƣơng vật, bìu và quan trọng hơn nữa là nối với mạch máu thừng tinh nằm trong bìu [11], [114].

Các nhánh tĩnh mạch đi cùng ĐM đều đổ vào tĩnh mạch đùi. + Mạch máu của lớp sâu vùng bẹn: ĐM thƣợng vị dƣới và ĐM mũ chậu sâu là những nhánh tách ra từ ĐM chậu ngoài [11]. ĐM thƣợng vị dƣới là mốc giải phẫu quan trọng để phân biệt TVB trực tiếp, gián tiếp hay hỗn hợp. ĐM thƣợng vị dƣới và ĐM mũ chậu sâu cho ra hai nhánh ĐM tinh ngoài và ĐM mu [12], [58].

* Thần kinh vùng bẹn Thần kinh (TK) chi phối vùng bẹn đều xuất phát từ rễ thắt lƣng 1, gồm các nhánh: TK chậu - bẹn, chậu - hạ vị và nhánh sinh dục đùi [11], [40]. - TK chậu - hạ vị sau khi xuyên qua cơ ngang bụng chia ra hai nhánh: Nhánh chậu đi đến vùng mông; nhánh hạ vị đi ra trƣớc, xuống dƣới và phân bố các nhánh vận động cơ thành bụng dọc đƣờng đi. Nhánh này dễ bị tổn thƣơng khi khâu tái tạo thành bụng hay khi đặt mảnh ghép nhân tạo theo phƣơng pháp Lichtenstein. - TK chậu - bẹn đi vào vùng bẹn ở vị trí khoảng 2 cm phía trên và trong gai chậu trƣớc trên.

TK này dễ bị tổn thƣơng khi xẻ cân cơ chéo bụng ngoài để bộc lộ vùng bẹn. - TK sinh dục đùi xuất phát từ thắt lƣng 2 đến thắt lƣng 3, chạy vòng từ sau ra trƣớc trong khoang trƣớc PM để đi đến lỗ bẹn sâu, tại đây chia thành hai nhánh [11]: Nhánh sinh dục xuyên qua mạc ngang ở phía ngoài lỗ bẹn sâu để vào ống bẹn, nhập và cùng đi với thừng tinh đến lỗ bẹn nông, ở đây cho nhánh cảm giác đến da bìu, đùi và nhánh vận động đến cơ bìu. Nhánh đùi đi dọc theo cơ thắt lƣng chậu vào 6 vùng đùi, những sợi tận cùng của nó xuyên qua cân đùi đến vùng da trƣớc trên của đùi, có thể bị tổn thƣơng khi mổ nội soi [12], [40]. - Các dây TK ở lớp nông: TK chậu - hạ vị chi phối cảm giác vùng trên xƣơng mu.

TK chậu - bẹn đi qua phần dƣới ống bẹn qua lỗ bẹn nông để chi phối cảm giác da của bìu và phần nhỏ bên trong – trên của đùi. * Ống bẹn Ống bẹn là một khe nằm giữa các lớp cân cơ của thành bụng, đi từ lỗ bẹn sâu đến lỗ bẹn nông, dài khoảng 4 – 6 cm, chạy chếch từ trên xuống dƣới, vào trong và ra trƣớc, gần nhƣ song song với nửa trong của nếp lằn bẹn (Hình 1. Đây là điểm yếu của thành bụng nên thƣờng xảy ra TVB [15], [40]. Ở nam, ống bẹn là đƣờng đi của tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu trong thời kỳ phôi thai.

Ở nữ, trong ống bẹn có dây chằng tròn. Ống bẹn đƣợc cấu tạo bởi bốn thành: trƣớc, trên, sau, dƣới và hai đầu là lỗ bẹn sâu và lỗ bẹn nông [15]. Ống bẹn cắt dọc (Nguồn: Jones D. 7 + Thành trên ống bẹn là bờ dƣới cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng [12].

+ Thành sau ống bẹn đƣợc tạo nên chủ yếu bởi mạc ngang [12]. PM phủ lên các thừng, sợi vùng này tạo những chỗ gờ lên gọi là các nếp. Từ ngoài vào trong: nếp rốn ngoài, rốn trong, rốn giữa. Giữa các nếp tạo thành ba hố [12]: Hố bẹn ngoài ở phía ngoài ĐM thƣợng vị dƣới - là nơi xảy ra TVB gián tiếp; hố bẹn trong nằm giữa nếp rốn ngoài và rốn trong - là nơi yếu nhất của thành bụng, thƣờng xảy ra TV trực tiếp; hố trên bàng quang nằm giữa nếp rốn trong và rốn giữa, ít khi xảy ra TV [12].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu phẫu thuật nội soi một lỗ điều trị thoát vị bẹn: Kỹ thuật và kết quả" cung cấp cái nhìn sâu sắc về kỹ thuật phẫu thuật nội soi một lỗ trong điều trị thoát vị bẹn, bao gồm quy trình thực hiện, các chỉ định và kết quả đạt được. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về phương pháp này mà còn mang lại thông tin quý giá cho bệnh nhân về lợi ích của phẫu thuật ít xâm lấn, như thời gian hồi phục nhanh hơn và giảm thiểu đau đớn sau phẫu thuật.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các kỹ thuật phẫu thuật khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải, nơi khám phá các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn trong lĩnh vực tim mạch. Ngoài ra, tài liệu Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại trong điều trị ung thư. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu giải phẫu các vạt mạch xuyên cơ bụng chân và động mạch gối xuống, giúp bạn hiểu rõ hơn về giải phẫu liên quan đến các kỹ thuật phẫu thuật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các phương pháp phẫu thuật tiên tiến hiện nay.