ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm da tiết bã (VDTB) là bệnh lý mạn tính, phổ biến, gặp ở cả trẻ nhỏ và người lớn, chiếm tỉ lệ 1–3% dân số chung, nam chiếm tỉ lệ nhiều hơn nữ [50], [53]. Bệnh đặc trưng bởi những dát, mảng hồng ban giới hạn rõ, bề mặt tróc vảy mỡ màu vàng, đỏ hay nâu phân bố ở những vùng có nhiều tuyến bã như: da đầu, mặt, tai, ngực, lưng trên [54]. Bệnh không gây tử vong nhưng kéo dài, hay tái phát, triệu chứng ngứa cùng tác động về mặt thẩm mỹ nên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [10]. Mặc dù chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng nhiều nghiên cứu thấy rằng cơ chế bệnh sinh của viêm da tiết bã liên quan đến các yếu tố chính là: bất thường hệ miễn dịch, nấm Malassezia, hoạt động tuyến bã, và tính nhạy cảm cá nhân.
Bên cạnh đó, bệnh còn liên quan đến một số yếu tố như: bệnh rối loạn thần kinh, HIV/AIDS, tăng sinh thượng bì và biến đổi mùa [40]. Vitamin D là một vitamin tan trong chất béo, có nhiều chức năng khác nhau, trong đó nổi bật nhất là vai trò trong quá trình chuyển hóa canxi và cân bằng nội mô. Nó ảnh hưởng đến cả hệ thống miễn dịch bẩm sinh và đáp ứng thông qua tác dụng đối với tế bào lympho T và B, tế bào đuôi gai và đại thực bào [11]. Trong các bệnh da liễu, nó đóng một vai trò quan trọng như một chất điều hòa miễn dịch trong các bệnh lupus ban đỏ, viêm da cơ địa, bệnh vảy nến, ung thư da, bạch biến, rụng tóc, mụn trứng cá [6], [7], [13], [46].
Một số nghiên cứu in vitro đã công bố dữ liệu cho rằng vitamin D có vai trò trong cơ chế bệnh sinh của viêm da tiết bã. Như đã được biết, sang thương trong viêm da tiết bã phân bố chủ yếu ở vùng nhiều tuyến bã nhờn và nấm Malassezia là loài phụ thuộc lipid, nó chuyển hóa lipid thành axít béo để tổng hợp vách tế bào nấm. Vitamin D và thụ thể của nó đã được chứng minh rằng có biểu hiện cao ở tuyến bã nhờn và thay đổi phụ thuộc liều trong điều hòa tăng sinh tế bào, chu trình tế bào và thành phần lipid [51]. Bên cạnh đó, những nghiên cứu gần đây chứng minh rằng vitamin D tăng biểu hiện invoclurin, transglutaminase, loricrin và.
filaggrin dẫn đến tăng biệt hóa và ức chế tăng sinh tế bào sừng [16]. Và vitamin D có vai trò trong tác động kháng khuẩn thông qua cathelicidin và ảnh hưởng hệ thống miễn dịch bẩm sinh và mắc phải ở da [11]. Hơn nữa, tình trạng bệnh được ghi nhận nặng hơn vào mùa đông, đầu mùa xuân và giảm vào mùa hè. Trên thế giới, đã có những nghiên cứu về tình trạng thiếu hụt vitamin D trong bệnh viêm da tiết bã cũng như mối tương quan nghịch giữa nồng độ vitamin D huyết thanh và độ nặng của bệnh [19], [37].
Hơn nữa, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy cải thiện triệu chứng bệnh khi sử dụng vitamin D thoa tại chỗ [22], [29], [35], [41]. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh viêm da tiết bã khá phổ biến, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của người bệnh. Và hiện nay chưa có nghiên cứu nào về nồng độ vitamin D ở bệnh viêm da tiết bã. Do đó, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu: “ Nồng độ vitamin D huyết thanh trên bệnh nhân viêm da tiết bã”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát nồng độ vitamin D huyết thanh của bệnh nhân viêm da tiết bã và mối liên quan với các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh. MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Khảo sát các đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng của bệnh nhân viêm da tiết bã. Xác định nồng độ vitamin D huyết thanh ở nhóm bệnh và so sánh với nhóm chứng.
Xác định mối liên quan giữa nồng độ vitamin D huyết thanh với các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh viêm da tiết bã 1. Đại cương Viêm da tiết bã (VDTB) là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ nhỏ và người trưởng thành.
Bệnh ở trẻ nhỏ gặp ở độ tuổi từ 3 tháng đến 12 tháng tuổi và thường biến mất sau 1 tuổi, trong khi bệnh ở người trưởng thành thường diễn tiến mạn tính với đỉnh 40–60 tuổi. Bệnh đặc trưng lâm sàng bởi những dát, mảng hồng ban giới hạn rõ, bề mặt tróc vảy mỡ màu vàng, đỏ hay nâu phân bố ở những vùng có nhiều tuyến bã như: da đầu, mặt, tai, ngực, lưng, nách, nếp dưới vú và vùng hậu môn sinh dục. Bệnh có xu hướng mạn tính, kéo dài, kèm triệu chứng ngứa, ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ do đó ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng, bệnh có liên quan với nấm Malassezia, bất thường hệ miễn dich, hoạt động tuyến bã, tính nhạy cảm của cá nhân.
Điều trị hiện nay giúp kiểm soát bệnh hơn là điều trị khỏi hoàn toàn. Dịch tễ VDTB là một bệnh da phổ biến nhưng ước tính tỉ lệ bệnh thực sự của nó trong các quần thể khác nhau bị cản trở bởi thiếu tiêu chuẩn chẩn đoán. Nó thường được trích dẫn là ảnh hưởng đến 1–3% dân số người lớn. Một nghiên cứu hồi cứu của 50237 người tham gia tại bệnh viện giảng dạy Hy Lạp từ năm 1995 đến 2002 đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc chung là 4% [33].
Gàu được ước tính ảnh hưởng đến một nửa dân số thế giới sau tuổi dậy thì [43]. Phần lớn các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng VDTB phổ biến ở nam giới hơn và tỷ lệ phát hiện bệnh chủ yếu trên 20 tuổi [33]. Tỷ lệ hiện mắc cao nhất được báo cáo xung quanh tuổi 30 ở nam giới và đỉnh muộn hơn ở phụ nữ là xung quanh tuổi 40 hoặc 50 [27], [33]. VDTB ở trẻ sơ sinh đã được công nhận nhưng có tranh luận về việc liệu đây là một thực thể riêng biệt hay một biến thể của viêm da cơ địa.
Tỷ lệ mắc VDTB cao hơn ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV và virus gây bệnh bạch cầu tế bào T ở người, ám chỉ một vai trò của rối loạn miễn dịch nền tảng. Tỷ lệ thay đổi từ 17% đến 83% đã được báo cáo ở bệnh nhân HIV dương tính. Tỉ lệ hiện mắc của VDTB cũng tăng ở những bệnh nhân có bệnh thần kinh mạn tính, bao gồm bệnh Parkinson và VDTB được báo cáo là dạng chàm phổ biến nhất trong một nghiên cứu trên bệnh nhân Hàn Quốc bị chấn thương tủy sống [45]. Tại Việt Nam, trong một nghiên cứu tại BV Da Liễu TPHCM từ 10/2015 đến 5/2016 gồm 126 bệnh nhân VDTB cho thấy tỉ lệ bệnh nhân nam chiếm 53,2%, tuổi trung vị bị bệnh là 27,5 tuổi, nhóm 20–29 tuổi thường gặp nhất [10].
Sinh bệnh học Cơ chế bệnh sinh của VDTB còn chưa rõ ràng, bệnh có liên quan với nấm Malassezia, bất thường hệ miễn dịch, hoạt động tuyến bã, tính nhạy cảm cá nhân. • Nấm Malassezia Malassezia là nấm lưỡng hình được tìm thấy trên da của người và động vật. Chúng sống hoại sinh và có thể trở thành tác nhân gây bệnh. Giữa thế kỷ thứ 19, nấm Malassezia dạng hạt men và dạng sợi tơ được tìm thấy trên da bệnh nhân lang ben và được đặt tên Microsporon furfur.
Bên cạnh đó, Sabouraud quan sát thấy nấm dạng hạt men trên vảy da đầu sạch và có gàu, ông đã đặt tên Pityrosporum malassezia. Sau đó, những nghiên cứu nuôi cấy và kỹ thuật sinh học phân tử chứng minh loài Malassezia và loài Pityrosporum giống nhau. Năm 1996, Gueho đã đề xuất ra bảng phân loại dựa trên đặc điểm hình thái và sinh lý chia nhỏ Malassezia thành 5 loài: M. Dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử, nhiều loài mới được đưa thêm vào.
Hiện nay, Malassezia gồm 14 loài, 9 loài có thể sống trên da người và 5 loài sống trên da thú. Cơ chế bệnh sinh trên da do Malassezia gây ra vẫn chưa được biết rõ. Đó là do sự tương tác phức tạp giữa Malassezia sống hoại sinh với da. Trên da khỏe.
mạnh, Malassezia lấy chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của chúng mà không gây bệnh. Khi quá trình này bị xáo trộn, Malassezia thích nghi bằng cách thay đổi sự biểu hiện của các men tham gia vào việc cung cấp năng lượng như lipases và phospholipases. Malassezia được xem có liên quan mật thiết đến VDTB. Điều này dựa trên các bằng chứng rằng các tổn thương của VDTB tập trung chủ yếu ở vùng nhiều tuyến bã – nơi sinh sống của nấm Malassezia và thuốc kháng nấm có hiệu quả trong điều trị bệnh, giảm triệu chứng.
Người ta nhận thấy những bệnh nhân bị viêm nang lông và lang ben do Malassezia có tỉ lệ cao bị VDTB. Đồng thời số lượng của nấm Malassezia ở những bệnh nhân VDTB thường cao hơn nhóm chứng. Nhiều tác giả cho rằng sự có mặt của Malassezia dẫn tới sự biến đổi nồng độ axít béo tự do và gốc oxy tự do, từ đó thay đổi hệ vi khuẩn thường trú trên da, đồng thời Malassezia cũng gây ra phản ứng viêm tại da do sản xuất các sản phẩm chuyển hóa và hoạt hóa bổ thể theo con đường cổ điển và con đường cạnh và Malassezia được xem như đồng vận của thụ thể aryl hydrocarbon, liên quan sự biệt hóa tế bào Th17. Tuy nhiên, điều này vẫn còn đang tranh cãi bởi vì có những bệnh nhân có nồng độ Malassezia bình thường mà vẫn mắc bệnh, hơn nữa số lượng sợi nấm trên da không phải lúc nào cũng liên quan đến mức độ nặng của bệnh [47].
• Hoạt động tuyến bã Bệnh gặp chủ yếu ở những tháng đầu đời và ở độ tuổi sau dậy thì, đây là các giai đoạn mà hoạt động của tuyến bã phát triển mạnh mẽ nhất. Đồng thời vị trí tổn thương của VDTB cũng gặp chủ yếu ở vùng da có nhiều tuyến bã như da đầu, mặt, thân trên. Điều này góp phần khẳng định vai trò của tuyến bã trong cơ chế bệnh sinh của VDTB. Tuy nhiên, bệnh nhân bị VDTB có thể có số lượng chất bã tiết ra bình thường và những người có lượng chất bã được tiết ra nhiều thì thường không bị VDTB.
Do đó số lượng chất bã không phải là yếu tổ nguy cơ quyết định khả năng. Tuy nhiên, bệnh nhân bị VDTB có sự thay đổi thành phần chất bã, tăng triglycerides và cholesterol, giảm squalene và axít béo tự do. acnes đều tiết ra men lipase chuyển triglycerides thành axít béo tự do. Malassezia sử dụng axít béo tự do bão hòa cho sự tăng sinh và để lại axít béo tự do không bão hòa.