Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh thận mạn 1. Định nghĩa về suy thận mạn Theo Hội Thận Quốc gia Hoa Kỳ (National Kidney Foundation - NKF) năm 2002 và hướng dẫn của Hội Đồng Cải Thiện Kết Quả Toàn Cầu Về Bệnh Thận (Kidney Disease Improving Global Outcome - KDIGO) năm 2012, bệnh thận mạn được định nghĩa như sau: Bệnh thận mạn là tình trạng tổn thương thận về cấu trúc hoặc chức năng, tồn tại trên 3 tháng, biểu hiện bởi albumin niệu hoặc các bất thường về hình ảnh học hoặc suy giảm chức năng thận được xác định thông qua mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/1,73 m2 (bảng 1. Tiêu chuẩn bệnh thận mạn [31] Albumin niệu (albumin niệu ≥ 30 mg/24 giờ, tỷ lệ albumin/creatinin ≥ 30 mg/g hoặc 3 mg/mmol).
Bất thường tổng phân tích nước tiểu. Dấu ấn tổn thương thận Rối loạn điện giải hoặc các bất thường khác do (≥ 1 dấu ấn) bệnh lý ống thận. Bất thường phát hiện bằng mô học. Bất thường về cấu trúc phát hiện bằng hình ảnh học.
Tiền sử ghép thận. Giảm mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/1,73 m2 1. Chẩn đoán các giai đoạn suy thận mạn. 5 Dựa vào mức lọc cầu thận (MLCT) bằng hệ số thanh thải creatinin ước đoán, Hội thận quốc gia Hoa Kỳ năm 2012 chia các giai đoạn (Bảng 1.
Phân độ giai đoạn bệnh thận mạn theo Hội thận học Hoa Kỳ 2012 [32] Mức lọc cầu thận Giai đoạn Mô tả (ml/phút/1,73 m2) G1 ≥ 90 Bình thường hoặc cao G2 60 – 90 Giảm nhẹ G3a 45 – 59 Giảm nhẹ - trung bình G3b 30 – 44 Giảm trung bình – nặng G4 15 – 29 Giảm nặng G5 < 15 Suy thận Mức lọc cầu thận dựa vào tính mức lọc cầu thận tính toán bằng cách tính hệ số thanh thải những chất ngoại sinh được lọc qua cầu thận, nhưng không được tái hấp thu và không được bài tiết ở ống thận như inulin, EDTA được đánh dấu bởi chất đồng vị loại Cr51, Iotholamat hoặc Iohexol. Tuy nhiên, thường được sử dụng trong thực hành là tính hệ số thanh thải ước tính bằng creatinin huyết thanh, tuổi, cân nặng và chiều cao. Một số công thức được áp dụng phổ biến trong thực hành lâm sàng như công thức Cockcroft Gault và công thức MDRD (Modification of Diet in Renal Disease Study), công thức Hợp tác dịch tễ bệnh thận mạn (Chronic Kidney Disease Epidemiology Collaboration: CKD-EPI) 2009. Trong số các công thức này, công thức CKD-EPI 2009 hiện nay được khuyến cáo sử dụng trên lâm sàng.
Thực chất, đây là công thức cải tiến từ MDRD, tuy nhiên công thức CKD-EPI lại có kết quả chính xác hơn MDRD đặc biệt là trong trường hợp mức lọc cầu thận > 60 ml/phút/1,73m2. 6 Công thức CKD-EPI được tính như sau: (ml/phút/1,73m2) = 141 x min (sCr/k,1) x max (sCr/k,1)-1,209 x 0,993tuổi Nếu là nữ giới: x 1,018 Nếu là người da màu: x 1,159 Trong đó: sCr: nồng độ creatinin máu (mg/dl) k: nữ = 0,7; nam = 0,9 α: nữ = -0,329; nam = -0,411 min: số nhỏ nhất của sCr/k hoặc 1 max: số lớn nhất của sCr/k hoặc 1 [31]. Các nguyên nhân suy thận mạn Có 5 nhóm nguyên nhân: − Bệnh lý cầu thận ❖ Nguyên phát • Xơ hoá cầu thận khu trú từng vùng • Xơ hoá cầu thận tăng sinh màng • Bệnh cầu thận màng • Bệnh thận IgA ❖ Thứ phát • Đái tháo đường • Bệnh tạo keo (amyloidosis) • Viêm cầu thận sau nhiễm trùng • Bệnh thận do HIV • Bệnh thận tế bào hình liềm (sickle cell nephropathy). 7 • Viêm cầu thận tăng sinh màng do HIV • Viêm ống thận kẽ • Do sử dụng các thuốc có độc tính với thận • Do dùng kim loại nặng • Viêm đài bể thận mạn, viêm đài bể thận mạn do trào ngược • Chưa xác định được nguyên nhân.
− Bệnh thận di truyền: bệnh thận đa nang, hội chứng Fabry, hội chứng Alport − Bệnh lý hệ niệu: bệnh lý tuyến tiền liệt, sỏi thận, u sau phúc mạc, bẩm sinh − Nguyên nhân về mạch máu: tăng huyết áp, hẹp động mạch thận, nghẽn động mạch thận …[11] 1. Bệnh thận mạn giai đoạn cuối 1. Định nghĩa Bệnh thận mạn giai đoạn cuối tương ứng với bệnh thận mạn giai đoạn 5 (MLCT < 15ml/phút/1,73m2) hoặc bệnh nhân đã được điều trị thay thế thận. Trong trường hợp bệnh nhân lọc máu gọi là giai đoạn 5D (Dialyse), trường hợp ghép thận gọi là 5T (Transplantation).
Các biến chứng của bệnh thận mạn giai đoạn cuối 1.Thiếu máu Thiếu máu là sự giảm một hoặc nhiều các thành phần tạo nên hồng cầu: hemoglobin, hematocrit, hoặc số lượng hồng cầu. Theo Hội thận học Hoa Kì, thiếu máu là khi Hb < 11 g/dl. Thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn đa số là thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường, tập trung chủ yếu vào nhóm bệnh thận mạn giai đoạn cuối (khoảng ¾ bệnh nhân) [49]. Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn như thiếu sắt, axit folic hoặc vitamin B12, xuất huyết tiêu hóa, cường tuyến cận giáp,.
8 đời sống hồng cầu giảm, quan trọng nhất là sự giảm tổng hợp erythropoietin- hormone do tổ chức cạnh cầu thận tiết ra có vai trò chuyển nguyên hồng cầu thành hồng cầu trưởng thành trong máu [49], [31], [82]. Các nguy cơ tim mạch Các nguy cơ tim mạch có liên quan chặt chẽ với bệnh thận mạn giai đoạn cuối. Các nguy cơ tim mạch bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, thiếu máu, bệnh mạch vành, mất cân bằng canxi-phospho, canxi hóa thành mạch… Thật ra các nguy cơ tim mạch này không đứng độc lập mà có sự phối hợp nhiều nguy cơ để có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối [32], [49], [82]. Các rối loạn lipit máu Rối loạn lipit máu là một nguy cơ lớn đối với tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong các bệnh lí tim mạch trong cộng đồng nói chung và nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn nói riêng.
Các thành phần lipit thay đổi theo tỉ lệ khác nhau, nhưng chủ yếu là tăng cholesterol toàn phần và triglyceride. Ở bệnh nhân bệnh thận mạn, hoạt động của men lipoprotein lipase và hepatic triglycerit lipase bị giảm. Điều này ảnh hưởng đến sự chuyển hóa các lipoprotein giàu triglyceride và chứa apo-lipoprotein-B bởi gan và các mô ngoại biên, là căn nguyên của chứng xơ vữa động mạch. Tăng cholesterol máu trong hội chứng thận hư gây ra do tăng sản xuất và giảm thoái hóa lipoprotein.
Tuy nhiên, sự thay đổi lipid cũng bị ảnh hưởng bởi albumin máu và protein niệu trong việc duy trì áp lực keo. Đây cũng là cơ sở cho việc điều trị [49], [32], [82]. Vấn đề liên quan đến dinh dưỡng Dinh dưỡng là vấn đề thường không được chú trọng ở các bệnh lí mạn tính, trong đó có bệnh thận, trong khi ảnh hưởng của nó lại rất sâu và lâu dài. 9 bệnh nhân bệnh thận mạn, cùng với sự tiến triển qua các giai đoạn bệnh là sự đòi hỏi thay đổi chế độ dinh dưỡng để phù hợp với các rối loạn chuyển hóa protid, nước, muối, canxi, kali và phospho.
Đa số bệnh nhân ít quan tâm đến vấn đề này mặc dù nguồn thức ăn hằng ngày vẫn đảm bảo protid và carbohydrate [49], [32], [82]. Rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất Thuật ngữ “rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất” bao gồm những bất thường trong chuyển hóa xương và khoáng chất và/hoặc tình trạng canxi hóa thứ phát các mô ngoài xương do nguyên nhân thận. Loạn dưỡng xương do thận là sự thay đổi cấu trúc xương ở bệnh nhân bệnh thận mạn. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này như thiếu vitamin D, tăng phospho máu, giảm canxi máu, cường tuyến cận giáp thứ phát… Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn do sự suy giảm chức năng thận.
Sự phát triển của các phương pháp điều trị thay thế thận suy giúp kéo dài đời sống của bệnh nhân bệnh thận mạn, tuy nhiên các biến chứng ít được quan tâm như rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất lại ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh và làm tăng tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn. Sự thật là tình trạng tăng phospho máu là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến các bệnh lí tim mạch ở nhóm đối tượng này. Cơ chế của nó vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng người ta nhận thấy có mối liên quan với cường tuyến cận giáp thứ phát và sự canxi hóa thành mạch [32], [49], [82], [24]. Điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối 1.Điều trị bảo tồn Mục đích của điều trị bảo tồn là đảm bảo cho bệnh nhân giữ được chức năng thận còn lại với thời gian dài nhất có thể được nhờ vào giữ được hằng định nội môi dù có giảm chức năng thận.
Điều trị bảo tồn gồm biện pháp tiết thực và thuốc. Những biện pháp này cần thực hiện ở giai đoạn sớm nhằm giúp bệnh nhân tránh các biện chứng (Sơ đồ 1. Dự phòng những tai Điều trị tiết thực Điều trị thuốc biến do thầy thuốc • Hạn chế protein • Các thuốc hạ huyết • Điều chỉnh liều • Chọn lựa lipit áp lượng thuốc thích • Khẩu phần năng • Lợi tiểu hợp. lượng • Bổ sung sắt, canxi, • Thận trọng khi sử • Bilan nước, kali, vitamin.
dụng những sản natri • Erythropoietin phẩm Iod thuốc người tái tổ hợp cản quang. Khái quát về điều trị bảo tồn [9] 1. Thận nhân tạo chu kỳ Nguyên lý: có 2 nguyên lý chính là khuyếch tán và siêu lọc. Khuyếch tán: chất hòa tan được khuếch tán qua lại giữa 2 ngăn dịch và máu được phân cách nhau bởi màng bán thấm.
Trong quá trình lọc máu, các chất như ure, creatinin, ion K + …trong huyết thanh được thải khỏi cơ thể nhờ sự khuyếch tán từ ngăn máu sang ngăn dịch lọc và có sự khuyếch tán trở lại của HCO 3− , ion Ca 2 + …từ ngăn dịch lọc vào ngăn máu. Siêu lọc: nước được đẩy qua màng bán thấm bằng áp lực. 11 thuỷ tĩnh hoặc áp lực thẩm thấu, nhờ đó các chất hòa tan có kích thước nhỏ hơn lỗ của màng cũng được chủ động đẩy qua màng, còn chất có kích thước lớn hơn lỗ của màng được giữ lại. Trong thận nhân tạo, cơ chế siêu lọc dựa vào áp lực thuỷ tĩnh: nước và chất hòa tan được đẩy từ ngăn máu sang ngăn dịch lọc nhờ chênh lệch áp lực thuỷ tĩnh giữa 2 ngăn, như vậy siêu lọc giúp thải được các chất có trọng lượng phân tử (TLPT) nhỏ hơn kích thước của màng.