Chương 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mối quan hệ chiếm một vị trí quan trong trong cấu trúc chức năng cơ động của nhản cách. Chúng được nảy sinh hình thành suốt cuộc đời. Trong hoạt động, ni ảnh hưởng tới điểu kiện bên trong sự phát triển nhân cách mội cách trực tiếp. Không những vậy, mối quan hệ còn ảnh hưởng tới tính chất của hành vi, hành động của nhân cách với tư cách là chủ thể có ý thức, một người hoạt động tích cực trong quá trình phát triển xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ là nhiệm vụ quan trọng của tắm lí học sư phạm và tâm lí học xã hội. Hiện nay trong ngành tâm lí học, các nhà khoa học đã khẳng định có những cách giải thích về mối quan hệ như sau: -Cách thứ nhất: đó là quan hệ mang tính khách quan của con người với các đối tượng và với nhẫn cách. -Cách thứ hai: mdi quan hệ được giải thích như là sự đáp lại những đối tượng, các hiện tượng với tư cách một chủ thể có vị thế trong mối quan hệ với chúng. Trong cách giải thích thứ nhất đã nhấn mạnh tới sự liên hệ thực tế còn trong trường hợp hai, nhấn mạnh yếu tố tâm lí.N Miaxisép [37] đã viết: “Khang có gì có thể hòa lẫn mối quan hệ tâm lí, đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của tâm lí học và mối quan hệ tâm lí là một trong những bộ phận cơ ban của tim li hoc”.
Cả trong hai cách giải thích một và hai, mối quan hệ không được xem như một bộ phận hay một mặt của nhân cách. Cả hai cách giải thích đều cho rằng, dé là sự biểu hiện chung mang tính toàn thể thông qua một cái gì đó. Ví dụ học sinh rất hài lòng và muốn học một số môn, nhờ vậy thành tích của môn đó nổi bật, có thể nó xuất hiện nhờ sự tương ứng của một loại hứng thú nhận thức tương đối bền vững. Nhưng trong trường hợp khác, học sinh hài lòng với việc học tập nhưng không thể tập trung chú ý và không làm bài tập ở nhà day đủ, chu đáo, cẩn thận.
Với một số môn khác, các em không hứng thú, hoàn toàn không thèm đếm xia tới việc học, thậm chí không thèm đếm xia tới môn học. Ở cả hai trường hợp trên theo quan điểm thứ nhất, chúng ta nhận thấy xuất hiện mối quan hệ mang tính lựa chọn với môn học. Nhưng diéu quan trọng ở đây là cái khác- đó là mối quan hệ của học sinh với chính nhân tố của quá trình học tập như là một dang hoạt động đã được xác định. Trong trường hợp thứ nhất, được giải thích như là mối quan hệ tích cực với việc học ở lớp.
Trong trường hợp thứ hai là mối quan hệ tiêu cực với môn học. Mối quan hệ với từng môn học riêng biệt trong hệ thống học tập ở trường không khi nào xảy ra tách biệt với nhân cách nói chung. Trong mối quan hệ của học sinh với các môn học riêng biệt xuất hiện sự định hướng trong xã hội, xu hướng của học sinh, hứng thú, nhu cẩu, lí tưởng, quan hệ v. tất cả những yếu tố trên đều có một vị trí quan trọng.
Định nghĩa mối quan hệ- đó là sự hình thành những liên kết tâm lí. Vậy chúng ta sẽ có câu hỏi cẩn phải trả lời: cái gì sẽ là đối tượng của quan hệ? Có thể trả lời câu hỏi này một cách ngắn gọn: tất cả các đối tượng, hiện tượng, sự kiện xã hội, con người và chính bản thân mình v. Có thể cho rằng, các quan điểm của nhân cách đối với các hiện tượng xã hội trong cuộc sống xã hội đã xảy ra được coi là mối quan hệ mặc dù nó khó cách li khỏi quá trình hiện tại, nó là một quá trình tích cực, cơ động. Vị thế của nhân cách khi tiếp xúc trực tiếp với nhân cách khác hay với nhóm, với tập thể và với các hiện tượng xã hội tại thời điểm hiện tại có thể được xem như là mối quan hệ lẫn nhau.
Mối quan hệ lẫn nhau là quá trình phức tạp hơn, tích cực hơn trong các dạng quan hệ. Trong các mối quan hệ liên nhân cách có nhiều cung bậc và có tính cơ động rất lớn. Chính mối quan xã hội, quan hệ liên nhân cách xuất hiện và biểu hiện do kết quả tiếp xúc trực tiếp giữa người với người ở mức độ thấp hơn là gián tiếp thông qua đổ vật hay người khác. Trong trường hợp này, có thể nói như sau: mối quan hệ xuất hiện và phát triển theo công thức; bạn của bạn tôi, bạn của tôi hay bạn của kẻ thù của bạn tôi.
Tính cơ động- dấu hiệu của mối quan hệ lẫn nhau, nó xuất hiện trong mối quan hệ tích cực- tiêu cực của sự tác động lẫn nhau giữa người với người trong những giai đoạn chuyển tiếp từ mối quan hệ tích cực sang tiêu cực và ngược lại. Từ biểu hiện mối quan hệ kém bén vững sang mối quan hệ bén vững hơn. Dấu hiệu của mối quan hệ này rất đặc trưng ở tuổi nhỏ. Trẻ em chơi cùng nhau, chúng cãi nhau, bỏ nhau, nổi giận với nhau, sau đó chúng lại hình thành mối quan hệ hữu nghị.
Sự khác biệt trong các mức độ của mối quan hệ với nhau được biểu hiện rõ trong giọng nói, trong các cử chỉ, nét mặt. Ví dụ sự lạnh léo giữa người với người được biểu hiện trong lời nói rất thận trọng. Ý tứ của người giao tiếp biểu hiện trong sự nghiêm khắc, trong hành vi với nhau. Mối quan hệ lẫn nhau thân thiện cho phép bỏ hết các điểu kiện và cho phép bản thân có một số cử chỉ suéng sã.
Tính ổn định hành vi của nhân cách, mối quan hệ với nhau giữa người với người trong tập thể không thể vứt bỏ tính cơ động của quan hệ lẫn nhau. Trẻ càng nhỏ, tính ổn định trong mối quan hệ càng kém và mối quan hệ càng dễ thay đổi. Với người lớn tuổi hơn, mối quan hệ sẽ ổn định hơn. Khi tuổi lớn mối quan hệ đã có được đặc tính tương đối ổn định.
Chính vì vậy, hệ thống giáo đục đào tạo và tự giáo dục của nhân cách tạo điểu kiện cho tính ổn định của quan hệ liên nhân cách. Trong các mối quan hệ trên, chúng ta chú ý đặc biệt vai trò mối quan hệ với những người xung quanh và được xem như một phan của xu hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển nhân cách. Trong tâm lí học, mối quan hệ này thường được tiếp nhận theo quan điểm cho rằng, đó là những nét đặc thù của tính cách. Trong cuộc sống thực tiễn và hoạt động của nhân cách, tất cả các dạng tích cực của nhân cách bao giờ cũng bện chặt vào nhau (nhận thức, giao tiếp, lao 9 động) tạo thành một cấu trúc thống nhất trong mối quan hệ xã hội của nó.
Trên cơ sở đó hoàn thiện hệ thống hứng thú xã hội của nhân cách, nhờ thế mới kích thích thường xuyên tính tích cực của nhân cách và những dạng hoạt động có sáng kiến. Trong quá trình hình thành và phát triển, không chỉ có những chức năng và quá trình tâm lí riêng biệt mà còn hình thành những cơ chế của những kinh nghiệm đạo đức chủ yếu có tính tổng hợp cùng với những phẩm chất có tính tích cực, ổn định của nhân cách. Lĩnh vực động cơ có vai trò to lớn trong việc hình thành quan hệ giữa người với người mang tính tích cực, thiện ý, Trong việc hình thành mối quan hệ với lao động, lĩnh vực động cơ đảm bảo nhân cách bén vững. Xu hướng xã hội của nhân cách đảm bảo tính thuyết phục của đạo đức, của hành vi có ý nghĩa xã hội.
Tính tích cực nhận thức cao của học sinh phổ thông trong hoạt động học tập thường xuyên yêu clu có động cơ được ý thức, mối quan hệ tích cực với các môn học và những hành động mang tính thiết thực, nếu không có nó thì không thể có tính tích cực sáng tạo, nhờ đó tạo ra biến đổi hoạt động nhận thức của nhân cách. Sự liên kết giữa quan hệ lẫn nhau với việc thâm nhập lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh (trong hoạt động và giao tiếp) tạo điểu kiện cho sự phát triển nhân cách của học sinh cụ thể và cá tính của nhân cách. Sự phối hợp nhịp nhàng, déng đều của tất cả các dạng trên của tính tích cực của học sinh (nhận thức, giao tiếp và hoạt động) trong một thể thống nhất, tạo nên cơ sở để hình thành sự trưởng thành bên trong của nhân cách. Như vậy, mối quan hệ không chỉ được xem như là kích thích sự phát triển xã hội của nhân cách, mà còn được xem như là những phẩm chất xã hội có ý nghĩa của nhân cách và được xem như là chỉ số sự trưởng thành về mặt chính trị, xã hội.
Trong tâm lí học xã hội và tâm lí học sư phạm có một số tác giả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ. Có một số xu hướng sau: 10 - Mối quan hệ lẫn nhau trong nhóm và tập thể của LI Bôgiôvích, V. - Mối quan hệ của trẻ em với người lớn của A. - Mối quan hệ với việc học và môn học của L.
- Mối quan hệ với nghề nghiệp va lao động: N. Tuy nhiên việc liệt kê các xu hướng nghiên cứu và phân tích các tác phẩm đã chỉ ra rằng, còn rất nhiều quan điểm về mối quan hệ với nhau vẫn chưa được nghiên cứu một cách đẩy đủ. Sẽ không được coi là đây đủ, nếu chỉ chú ý tới cấu trúc, thành phần và tiêu chí để từ đó nêu lên mối quan hệ và quan hệ lẫn nhau trong các giai đoạn lứa tuổi khác nhau đối với việc hình thành tính tích cực và trên cơ sở đó hình thành nhân cách học sinh. Còn một vấn dé không kém phẩn quan trọng- đó là sự ảnh hưởng của các mối quan hệ với các dạng khác nhau của các quan hệ xã hội và ảnh hưởng lẫn nhau của mối quan hệ giữa người với người trong môi trường vi mô đối với tính tích cực và sự phát triển nhân cách.
Nghĩa là, chúng có những nguyên nhân phụ thuộc vào cử chỉ của con người trong mối quan hệ xã hội và quan hệ lẫn nhau. Có một điều quan trọng là mối quan hệ được hình thành và ảnh hưởng như thế nào? Ảnh hưởng trong điểu kiện như thế nào? Nó tạo điểu kiện hay thúc đẩy các dạng xác định của mối quan hệ và quan hệ lẫn nhau khách quan và chủ quan? Vấn để này cần phải tiếp tục nghiên cứu.