Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Chính trị của tác giả Lê Thị Minh Nghi (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Văn Dy, hoàn thành vào tháng 05 năm 2005) tập trung vào đề tài: "Sự vận dụng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đổi mới".

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng (KTTT) là một trong những nội dung cốt lõi của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn tại Việt Nam, không ít cán bộ lý luận cũng như cán bộ quản lý chưa thấu hiểu đầy đủ hoặc hiểu sai quy luật này. Hệ quả là trong quá trình lãnh đạo, quản lý đã vấp phải những khuyết điểm nghiêm trọng: hiểu không đúng về tính tất yếu khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ; hiệu lực tổ chức, quản lý kinh tế của bộ máy Nhà nước còn hạn chế; phát sinh các hiện tượng tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, mệnh lệnh, cửa quyền, gây cản trở tốc độ phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dù công cuộc đổi mới đã từng bước khắc phục các sai lầm này, nhưng nguy cơ tái diễn vẫn hiện hữu. Bên cạnh đó, sau gần 20 năm tiến hành đổi mới (1986–2005), việc tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực hoạch định đường lối là một yêu cầu cấp thiết. Về mặt cá nhân, đề tài đáp ứng đòi hỏi nâng cao trình độ lý luận chuyên sâu của sinh viên sư phạm nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy lý luận chính trị.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ hệ thống lý luận triết học về mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT, từ đó đánh giá thực trạng vận dụng quy luật này của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục hạn chế.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày có hệ thống các khái niệm, quy luật tác động biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; rút ra các nguyên tắc phương pháp luận khoa học.
  2. Nghiên cứu có hệ thống thực trạng vận dụng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và đúc kết bài học kinh nghiệm.
  3. Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình vận dụng, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy luật biện chứng giữa CSHT và KTTT cùng sự vận dụng quy luật này trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian thực tiễn Việt Nam và thời gian từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới (1986) cho đến mốc thực hiện khóa luận (năm 2005).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng hoàn toàn trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, cùng hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (trọng tâm là Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX). Tác giả dẫn chiếu và phân tích các tác phẩm kinh điển nền tảng như: Hệ tư tưởng Đức, Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Ngày mười tám tháng sương mù của Lu-i Bô-na-pác-tơ (C. Mác); Chống Đuy-rinh, Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học (Ph. Ăngghen); Hai sách lược của Đảng Công nhân Xã hội dân chủ trong cách mạng dân chủ, Bàn về thuế lương thực (V.I. Lênin); cùng tác phẩm Đường Cách Mệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, khóa luận kế thừa và khảo cứu các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến cơ cấu KTTT và thành phần kinh tế của Nguyễn Hữu Khiển, Nguyễn Lợi, Lương Minh Cừ, Trần Hoàng Kim và Lê Thụ.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp hệ thống hóa và mô hình hóa lý luận;
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết;
  • Phương pháp khái quát hóa, quy nạp và diễn dịch;
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể, kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố lịch sử và yếu tố lôgíc.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các văn bản lý luận kinh điển Mác - Lênin, hệ thống văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, các bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đảng (Lê Duẩn, Trường Chinh) và các tài liệu, giáo trình triết học chuyên khảo đã được xuất bản chính thức.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm phần mở đầu, 2 chương nội dung chính (chia thành 4 tiết), kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1: Sự thống nhất biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là quy luật khách quan

Chương này tập trung làm rõ bản chất triết học của hai phạm trù và cơ chế tác động qua lại giữa chúng:

  • Khái niệm và kết cấu của cơ sở hạ tầng: CSHT được định nghĩa là toàn bộ những quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành kết cấu kinh tế của một xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Tác giả nhấn mạnh "toàn bộ quan hệ sản xuất" không chỉ gồm ba mặt (sở hữu, phân phối, trao đổi) của một kiểu QHSX duy nhất, mà là sự tổng hòa của các kiểu QHSX cùng tồn tại: QHSX thống trị (giữ vai trò chủ thể, quy định bản chất và xu hướng của toàn bộ CSHT), QHSX tàn dư của xã hội cũ, và QHSX mầm mống của xã hội tương lai. Do đó, CSHT trong xã hội có đối kháng giai cấp luôn mang tính phức tạp, đa dạng và hàm chứa mâu thuẫn giai cấp khách quan.

  • Khái niệm và kết cấu của kiến trúc thượng tầng: KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng các thiết chế xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, đoàn thể) được hình thành trên một CSHT nhất định. Tác giả phân chia cấu trúc KTTT thành hai nhóm: nhóm liên hệ trực tiếp với CSHT (nhà nước, pháp luật, tổ chức và hệ tư tưởng chính trị) và nhóm liên hệ gián tiếp (triết học, nghệ thuật, tôn giáo). Trong KTTT, hệ tư tưởng và thiết chế của giai cấp thống trị về kinh tế giữ vai trò chi phối tuyệt đối; trong đó Nhà nước là bộ phận có quyền lực vật chất mạnh mẽ nhất, đại diện cho chế độ chính trị hiện hữu.

  • Quy luật tác động biện chứng giữa CSHT và KTTT:

    • CSHT quyết định KTTT: Quan hệ kinh tế - vật chất sinh ra quan hệ tư tưởng và thiết chế chính trị. Khi CSHT biến đổi căn bản (xét đến cùng bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất), KTTT sớm muộn cũng sẽ biến đổi theo. Tác giả rút ra 3 kết luận triết học: CSHT nào thì KTTT ấy; giai cấp thống trị CSHT thì thống trị KTTT; KTTT phản ánh tập trung CSHT nhưng không tự động thay đổi tức thì ngay sau biến đổi kinh tế mà có độ trễ lịch sử.
    • Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT: KTTT có tính độc lập tương đối. Tác động của KTTT diễn ra theo hai chiều hướng: tác động tích cực thúc đẩy sản xuất khi vận động cùng chiều với quy luật kinh tế khách quan; ngược lại, tác động kìm hãm, cản trở phát triển khi đi ngược chiều quy luật. Công cụ tác động mạnh mẽ nhất của KTTT là bộ máy Nhà nước và hệ thống pháp luật.
  • Đặc thù trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Khác với xã hội tư bản (nơi QHSX mới nảy sinh từ lòng xã hội phong kiến), QHSX xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu không thể tự phát sinh ra trong lòng chế độ tư bản tư hữu. Do đó, giai cấp công nhân phải sử dụng quyền lực chính trị để xây dựng CSHT một cách tự giác. Tác giả trích dẫn luận điểm của đồng chí Lê Duẩn: thời kỳ đầu quá độ ở Việt Nam xuất hiện "mâu thuẫn giữa chính quyền tiên tiến, chế độ chính trị tiên tiến và quan hệ xã hội lạc hậu, quan hệ sản xuất lạc hậu". Để giải quyết mâu thuẫn này, chính quyền dân chủ nhân dân phải đóng vai trò đòn bẩy nhằm cải tạo quan hệ kinh tế cũ, xác lập quan hệ kinh tế mới.

  • Ý nghĩa phương pháp luận: Nhận thức và hành động thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực sản xuất vật chất, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Tác giả trích dẫn lời khẳng định của đồng chí Trường Chinh để chỉ rõ: đốt cháy giai đoạn, duy ý chí làm trái quy luật sẽ khiến con đường đi lên chủ nghĩa xã hội kéo dài thêm.

Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp về vận dụng mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn đổi mới

Chương 2 luận giải các căn cứ lý luận và thực tiễn của sự nghiệp đổi mới tại Việt Nam:

  • Cơ sở lý luận xây dựng CSHT thời kỳ quá độ: Đảng ta khẳng định quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và KTTT tư bản chủ nghĩa, nhưng phải kế thừa thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại. Cơ cấu CSHT trong thời kỳ quá độ được xác định là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    • Tác giả phân tích tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần dựa trên hai điều kiện khách quan của sản xuất hàng hóa: sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tồn tại đa dạng của các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất.
    • Tác giả truy nguyên lý luận từ chính sách NEP của V.I. Lênin, chỉ ra bài học lịch sử khi nước Nga bãi bỏ sản xuất hàng hóa thời kỳ 1917–1921 dẫn đến nguy hại triệt tiêu động lực lao động. Trích dẫn quan điểm của PGS. Mai Ngọc Cường, tác giả nhấn mạnh: xã hội càng phát triển thì các hình thức sở hữu càng đa dạng, bác bỏ tư duy giản đơn cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ có duy nhất chế độ công hữu thuần nhất.
    • Phân tích tính hai mặt của cơ chế thị trường: mặt tích cực là kích thích năng suất, phân bổ nguồn lực nhanh; mặt tiêu cực là dẫn đến phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng chu kỳ, tàn phá đạo đức và hủy hoại môi trường sinh thái. Do đó, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước là yêu cầu bắt buộc để điều tiết nền kinh tế phát triển đúng quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
  • Cơ sở lý luận xây dựng KTTT thời kỳ quá độ: Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần phải gắn liền với củng cố nền tảng tư tưởng và hệ thống chính trị.

    • Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và toàn xã hội.
    • Nguyên tắc cốt lõi: Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong đó xác định lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị vững chắc; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với kỷ cương, kỷ luật; kiên quyết không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.
    • Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xác định Nhà nước giữ vai trò "trụ cột" trong việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân và duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bảng tổng hợp: So sánh sự vận dụng mối quan hệ CSHT và KTTT qua các giai đoạn theo phân tích của khóa luận:

Tiêu chí Giai đoạn trước đổi mới (Tác giả nhận diện hạn chế) Giai đoạn đổi mới (Quan điểm của Đảng từ Đại hội VI đến IX)
Cơ sở hạ tầng Áp đặt chế độ thuần nhất công hữu (nhà nước và tập thể); nóng vội xóa bỏ kinh tế tư nhân, hàng hóa nhỏ; làm trái quy luật kinh tế khách quan. Thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; đa dạng hóa hình thức sở hữu; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Kiến trúc thượng tầng Quản lý hành chính mệnh lệnh, bao cấp; hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước kém; bộ máy nảy sinh quan liêu, cửa quyền. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; phân định rõ quản lý nhà nước về kinh tế với hoạt động sản xuất kinh doanh; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.
Mối quan hệ tác động KTTT can thiệp chủ quan, duy ý chí, cản trở sự vận động của quy luật giá trị và quy luật cung - cầu. KTTT tác động tích cực, thể chế hóa các quy luật kinh tế khách quan; lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đạt được các phát hiện lý luận và thực tiễn sau:

  • Làm sáng tỏ tính quy luật của sự tác động hai chiều giữa CSHT và KTTT, chứng minh rằng quan hệ kinh tế - vật chất giữ vai trò quyết định tối hậu, nhưng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, chính quyền cách mạng tiên tiến đóng vai trò then chốt làm đòn bẩy để xây dựng và định hình cơ sở kinh tế mới.
  • Khẳng định tính tất yếu lịch sử của việc phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, chứng minh rằng sự đa dạng về hình thức sở hữu là quy luật khách quan bắt nguồn từ trình độ phát triển chưa đồng đều của lực lượng sản xuất.
  • Xác lập cơ sở khoa học cho mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị: khẳng định quan điểm lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm và đổi mới hệ thống chính trị từng bước, thận trọng là phương thức đúng đắn để duy trì ổn định chính trị - xã hội cho sự phát triển.

Về các nhóm giải pháp và bài học kinh nghiệm (được xác định theo đề cương và nhiệm vụ nghiên cứu):

  • Nhấn mạnh bài học tôn trọng quy luật khách quan, kiên quyết chống bệnh chủ quan duy ý chí, nôn nóng đốt cháy giai đoạn.
  • Đổi mới phương thức quản lý kinh tế của Nhà nước: phát huy vai trò điều tiết vĩ mô, khắc phục triệt để các khuyết tật của cơ chế thị trường như phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và suy thoái đạo đức.
  • Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, giữ vững kỷ cương pháp luật.

Về đóng góp mới so với các nghiên cứu trước đây: Tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu trước đó tại Việt Nam (như của Nguyễn Hữu Khiển, Nguyễn Lợi, Lương Minh Cừ, Trần Hoàng Kim – Lê Thụ) chủ yếu tiếp cận vấn đề một cách phân tán, hoặc chỉ giải thích tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần, hoặc chỉ phân tích cấu trúc của các yếu tố KTTT riêng lẻ. Đóng góp tự thân của khóa luận là đã kết nối hai mảng nghiên cứu này thành một chỉnh thể logic, phân tích trực tiếp sự vận dụng toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT trong đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số điểm hạn chế xuất phát từ điều kiện thực hiện:

  • Do tác giả là sinh viên, khả năng chuyên môn và quỹ thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên công trình chủ yếu dừng lại ở việc khái quát hóa các vấn đề lý luận và định hướng chính sách, chưa thể khảo sát sâu các số liệu thực chứng phức tạp về hiệu quả hoạt động của từng thành phần kinh tế hay đo lường định lượng hiệu lực của bộ máy nhà nước.
  • Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian bị giới hạn đến mốc năm 2005 (thời điểm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đang được triển khai và chuẩn bị cho Đại hội X).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá sự vận động của mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn vào kinh tế quốc tế và chịu tác động của xu hướng toàn cầu hóa.
  • Nghiên cứu sâu về các giải pháp hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cơ chế kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng, quan liêu trong các chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Kinh tế Chính trị học và Xây dựng Đảng làm tài liệu học tập, ôn tập các học phần Triết học và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Giáo viên, giảng viên giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân, Triết học Mác - Lênin tại các trường phổ thông, cao đẳng và đại học sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc soạn giảng các chuyên đề về hình thái kinh tế - xã hội và quy luật CSHT - KTTT.
  • Những người nghiên cứu quan tâm đến quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế và cải cách hệ thống chính trị tại Việt Nam trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới.

Nội dung đáng giá nhất để tham khảo là hệ thống lập luận triết học ở Chương 1 về kết cấu phức tạp của CSHT (gồm ba kiểu quan hệ sản xuất) và phần lý giải tính tất yếu của kinh tế nhiều thành phần dưới lăng kính quy luật sở hữu ở Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận giải thích như thế nào về cụm từ "toàn bộ những quan hệ sản xuất" hợp thành cơ sở hạ tầng?
Tác giả khẳng định "toàn bộ những quan hệ sản xuất" không đơn thuần là ba mặt sở hữu - phân phối - tổ chức của một quan hệ sản xuất duy nhất, mà là sự tổng hòa của các loại quan hệ sản xuất cùng đồng thời tồn tại trong xã hội: quan hệ sản xuất thống trị (giữ vai trò chủ thể, quy định đặc trưng của CSHT), tàn dư của quan hệ sản xuất cũ, và mầm mống của quan hệ sản xuất mới.

2. Điểm đặc thù của mối quan hệ giữa CSHT và KTTT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì?
Khác với các hình thái kinh tế trước đây khi cơ sở kinh tế mới tự phát sinh ra trong lòng xã hội cũ, cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa không thể tự phát hình thành trong chế độ tư bản hay phong kiến. Do đó, điểm đặc thù là chế độ chính trị tiên tiến (KTTT) xuất hiện trước và phải đóng vai trò đòn bẩy để cải tạo quan hệ sản xuất lạc hậu, xây dựng nền kinh tế mới. Tuy nhiên, xét đến cùng, kinh tế vẫn giữ vai trò quyết định sự tồn tại và sức mạnh của chính trị.

3. Tác giả dựa trên những cơ sở lý luận kinh điển nào để khẳng định kinh tế nhiều thành phần là tất yếu khách quan?
Tác giả căn cứ vào hai điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa (phân công lao động xã hội và sự đa dạng của các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất), luận điểm của Ph. Ăngghen về việc sở hữu tư nhân chỉ bị xóa bỏ khi nó trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất, và chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lênin khi thừa nhận kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sau khủng hoảng của chính sách cộng sản thời chiến.

4. Khóa luận xác định mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị theo nguyên tắc nào?
Khóa luận khẳng định Đảng ta chủ trương kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm và từng bước đổi mới hệ thống chính trị một cách thận trọng, phù hợp; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

5. Luận điểm phương pháp luận nào của đồng chí Trường Chinh được khóa luận trích dẫn để cảnh báo sai lầm duy ý chí?
Tác giả trích dẫn lời đồng chí Trường Chinh khẳng định: tôn trọng quy luật khách quan, vận dụng đúng đắn và hành động theo quy luật là cách duy nhất và nhanh nhất để đi lên chủ nghĩa xã hội; ngược lại, nếu đốt cháy giai đoạn, làm sai quy luật thì tưởng như đi nhanh nhưng thực chất sẽ đi rất chậm và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội càng bị kéo dài.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Minh Nghi đã hệ thống hóa một cách mạch lạc nguyên lý triết học duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Công trình phân tích sâu sắc tính quy luật và nét đặc thù trong việc Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng hệ thống chính trị tiên tiến làm đòn bẩy để phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một tài liệu nghiên cứu học thuật có kết cấu chặt chẽ, đóng góp tích cực cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy lý luận chính trị tại các cơ sở giáo dục đại học.