Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng người bệnh sốt xuất huyết dengue và chế tạo kháng nguyên ns1 tái tổ hợp gộp 4 týp phát hiện kháng thể kháng vi rút dengue bằng kỹ thuật elisa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh sốt xuất huyết dengue và chế tạo kháng nguyên ns1 tái tổ hợp phát hiện kháng thể.

Trường đại học

Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng Trung Ương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2024

240
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.2. Khái niệm

1.3. Dịch tễ học

1.3.1. Trên thế giới

1.3.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Các tiểu chuẩn và kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Các biến số trong nghiên cứu. Sai số trong nghiên cứu. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh sốt xuất huyết Dengue điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Quân y 175 năm 2022

3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh sốt xuất huyết Dengue

3.2. Một số yếu tố liên quan với mức độ bệnh sốt xuất huyết Dengue

3.3. Tổng hợp kháng nguyên NS1 tái tổ hợp gộp 4 týp và đánh giá hiệu quả phát hiện kháng thể kháng vi rút Dengue bằng kỹ thuật ELISA

3.3.1. Thiết kế tạo kháng nguyên tái tổ hợp NS1

3.3.2. Tách dòng và biểu hiện kháng nguyên tái tổ hợp NS1 gộp 4 týp vi rút Dengue 1, 2, 3 và 4 trên vi khuẩn E. coli

3.3.3. Đánh giá hiệu quả phát hiện kháng thể kháng vi rút Dengue của kháng nguyên NS1 tái tổ hợp gộp 4 týp bằng phương pháp ELISA

TÍNH KHOA HỌC, TÍNH MỚI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về sốt xuất huyết dengue

Sốt xuất huyết dengue (SXHD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus dengue gây ra, lây truyền qua muỗi Aedes spp. Bệnh này đã trở thành một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, với hơn 390 triệu ca nhiễm mỗi năm. Tại Việt Nam, SXHD diễn biến phức tạp, với hàng trăm ngàn ca mắc và hàng trăm ca tử vong mỗi năm. Đặc điểm lâm sàng của bệnh bao gồm sốt cao, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Việc chẩn đoán sớm và chính xác là rất quan trọng để giảm tỷ lệ tử vong. Các phương pháp truyền thống như RT-PCR và IFA có thể gặp khó khăn trong việc triển khai rộng rãi do yêu cầu kỹ thuật cao và thời gian thực hiện lâu.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học

SXHD có sự gia tăng đáng kể trong những năm qua, với số ca mắc tăng lên 30 lần trong 50 năm. Khu vực Đông Nam Á là nơi có tỷ lệ mắc cao nhất, với nhiều quốc gia như Việt Nam, Thái Lan và Indonesia ghi nhận số ca mắc lớn. Tình hình dịch bệnh thường diễn ra theo chu kỳ, với các đợt bùng phát vào mùa mưa. Việc hiểu rõ về dịch tễ học của SXHD giúp các nhà khoa học và cơ quan y tế có những biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả.

II. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng của SXHD thường bao gồm sốt cao, đau nhức cơ thể, và các triệu chứng xuất huyết như chảy máu mũi, nôn ra máu. Các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy sự giảm tiểu cầu và tăng hematocrit, là những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh. Việc phân tích các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng giúp xác định mức độ bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác cũng là một thách thức lớn do sự tương đồng về triệu chứng.

2.1. Chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán SXHD thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng. Việc sử dụng kháng nguyên NS1 trong chẩn đoán đã cho thấy hiệu quả cao, giúp phát hiện sớm bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính. Điều trị chủ yếu là hỗ trợ, bao gồm việc cung cấp dịch truyền và theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể giảm tỷ lệ tử vong xuống dưới 1%.

III. Chế tạo kháng nguyên NS1 tái tổ hợp

Kháng nguyên NS1 là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát hiện virus dengue. Việc chế tạo kháng nguyên NS1 tái tổ hợp gộp 4 týp (DENV1, DENV2, DENV3, DENV4) giúp cải thiện khả năng chẩn đoán. Kỹ thuật ELISA được sử dụng để phát hiện kháng thể kháng virus dengue, cho phép phát hiện nhanh chóng và chính xác. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao khả năng chẩn đoán mà còn đóng góp vào việc quản lý nguồn bệnh và giám sát véc tơ truyền bệnh.

3.1. Quy trình sản xuất kháng nguyên

Quy trình sản xuất kháng nguyên NS1 tái tổ hợp bao gồm tách dòng và biểu hiện protein trong vi khuẩn E. coli. Việc tối ưu hóa các điều kiện nuôi cấy và biểu hiện protein là rất quan trọng để đạt được kháng nguyên có chất lượng cao. Kết quả từ các xét nghiệm ELISA cho thấy kháng nguyên NS1 tái tổ hợp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, mở ra hướng đi mới trong việc chẩn đoán và điều trị SXHD.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng người bệnh sốt xuất huyết dengue và chế tạo kháng nguyên ns1 tái tổ hợp gộp 4 týp phát hiện kháng thể kháng vi rút dengue bằng kỹ thuật elisa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Khái niệm Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây nên. Vi rút truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt.

Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus là trung gian truyền bệnh chủ yếu [18]. Bệnh có đặc trưng bởi sốt, xuất huyết và thoát huyết tương có thể dẫn đến sốc và tử vong nếu không được điều trị đúng và kịp thời [19]. Dịch tễ học 1. Trên thế giới Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do muỗi có tốc độ lây truyền nhanh nhất thế giới, trong 50 năm qua diện tích vùng có dịch tăng lên 30 lần.

Các trường hợp được báo cáo cho WHO đã tăng từ 505.430 trường hợp vào năm 2000 lên 5,2 triệu vào năm 2019. Nghiên cứu cũng cho thấy ước tính có 390 triệu ca nhiễm SXHD mỗi năm, trong đó 96 triệu ca có biểu hiện lâm sàng [20]. Hiện nay, vi rút Dengue lưu hành và gây dịch ở trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi, Châu Mỹ, Địa Trung Hải [21]. Châu Á Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng của SXHD nhiều nhất, theo WHO, riêng tại khu vực này có khoảng 1,8 tỷ người sống trong vùng dịch tễ SXHD, tập trung nhiều tại vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.

Từ năm 2001 đến 2008, 4 quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do SXHD cao nhất khu vực Tây Thái Bình Dương là Việt Nam, Campuchia, Malaysia và Philippines với 1. Năm 2023, tại Bangladesh, Thái Lan, Campuchia, Lào và Philippin với số mắc (tử vong) lần lượt là 308. Tại Việt Nam Vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lần đầu tiên xảy ra tại miền Bắc vào năm 1958 và ở khu vực phía Nam năm 1960 với 68 bệnh nhi đã được ghi nhận tử vong. Những đợt bùng phát của SXHD được ghi nhận ở nước ta thường xảy ra với chu kì khoảng 10 năm (1987, 1998, 2009, 2017).

Các ca mắc thường gia tăng vào mùa mưa - mùa sinh sản của muỗi truyền bệnh, miền Bắc vào khoảng tháng 4 đến tháng 11, miền Nam vào khoảng tháng 6 đến tháng 11 [22]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, số ca mắc SXHD ở khu vực Miền Nam cao nhất chiếm 57%, tiếp theo là miền Trung chiếm 33% và chủ yếu ở đối tượng từ 15 tuổi trở lên chiếm từ 57%-85% tuỳ theo khu vực. Số mắc tích luỹ chỉ trong 8 tháng đầu năm 2020 của thành phố Hồ Chí Minh là 13.322 ca, chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước, đứng thứ hai là Phú Yên với 4. Hà Nội ở vị trí thứ 10 với 1.

Giám sát huyết thanh trong 8 tháng đầu năm 2020 cũng cho thấy týp DENV2 chiếm 51%, týp DENV1 chiếm 39% và týp DENV4 chiếm 10% [23]. Trong giai đoạn từ 1998 - 2020 tại miền Bắc Việt Nam, trung bình mỗi năm ghi nhận 8.683 trường hợp mắc, trong đó chỉ có từ 1 - 2 trường hợp tử vong. Năm 2017 có số mắc cao nhất trong lịch sử ghi nhận của hệ thống giám sát với 55.531 trường hợp mắc, 7 trường hợp tử vong. Số mắc và tử vong do SXHD chủ yếu tại khu vực Đồng bằng sông Hồng (chiếm 72,6% ca mắc toàn khu vực) [24].

Từ năm 2001 đến 2020, tại khu vực phía Nam, số mắc SXHD trung bình hàng năm là 64.153 ca SXHD/năm; số ca tử vong trung bình hàng năm trong giai đoạn này là 53 ca/năm và giảm dần qua các năm [25]. Hà Nội là một trong các địa phương lưu hành bệnh SXHD có diễn biến phức tạp do sự ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ bao gồm đô thị hóa, mật độ dân số cao, vệ sinh môi trường kém, thời tiết khắc nghiệt. Vào các năm 2009, 2015 và 2017 đã ghi nhận các đợt dịch lớn tại miền Bắc trong đó 90% các trường hợp tập trung tại Hà Nội. Týp DENV1 là căn nguyên chính gây ra các vụ dịch sốt xuất huyết tại Hà Nội vào các năm 2009 và 2015.

Đợt dịch SXHD gần nhất xảy ra tại 6 Hà Nội vào năm 2017 đã có 37.651 ca mắc và 7 ca tử vong [26]. Giai đoạn 1999-2020 có tổng số 1.407 trường hợp mắc SXHD, trong đó có 1.250 trường hợp tử vong. Tỷ lệ mắc SXHD/100.000 dân tại Việt Nam có xu hướng tăng lên, mức tăng trung bình hằng năm trong giai đoạn1999-2020 bằng 9,6% [27].321 trường hợp mắc SXHD, trong đó có 27 trường hợp tử vong [28]. Năm 2022 cả nước ghi nhận 367.729 ca SXHD và 140 ca tử vong [8]; so với cùng kỳ năm 2021 (72.880 ca mắc và 27 ca tử vong), số ca mắc cộng dồn cao gấp 5 lần.

Tính tới 17/12/2023, cả nước ghi nhận 166.619 ca mắc SXHD, trong đó có 42 ca tử vong [9]. Cơ chế bệnh sinh sốt xuất huyết Dengue Sau khi muỗi đốt, vi rút Dengue xâm nhập vào cơ thể, nằm trong các tế bào đơn nhân lớn. Các đại thực bào này tập trung nhiều ở hạch bạch huyết khu vực, trong các tế bào Kupffer, hạch bạch huyết và mảng Payer [19]. Có bằng chứng cho thấy các tế bào đích bao gồm các tế bào lưới đuôi gai, bạch cầu đơn nhân, tế bào lympho, tế bào gan và các tế bào nội mô mạch máu.

Sự sao chép của vi rút dường như xảy ra ở các tế bào gai, bạch cầu đơn nhân, và có thể lưu hành các tế bào bạch huyết và các tế bào đích khác xảy ra thông qua các cơ chế miễn dịch trung gian liên quan đến kháng thể chéo và cytokine được giải phóng bởi tế bào đuôi gai, bạch cầu đơn nhân và tế bào nội mô mạch máu. Có bằng chứng về sự kích hoạt tế bào đồng thời cũng ức chế miễn dịch trong quá trình nhiễm trùng. Việc kích hoạt các tế bào T của bộ nhớ dẫn đến các chuỗi cytokine gây viêm, bao gồm yếu tố hoại tử khối u, interleukin (IL-2, IL-6, IL-8) và các chất trung gian hóa học khác làm tăng tính thấm nội mô mạch máu hoặc gây chết tế bào thông qua cơ chế apoptosis [29]. Tình trạng giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây thoát huyết tương, chủ yếu là albumin qua thành mạch đến khoang gian bào.

Khi thoát huyết tương nhiều dẫn đến hiện tượng giảm protein trong huyết thanh, cô đặc máu, giảm khối lượng tuần hoàn và nặng hơn là tình trạng sốc. Nếu kéo dài sẽ dẫn đến thiếu oxy ở các mô, toan 7 chuyển hóa và tử vong nếu không xử trí kịp thời. Sốc kéo dài cũng sẽ dẫn tới nguy cơ đông máu nội quản rải rác [19]. Tình trạng rối loạn đông máu xảy ra do 3 yếu tố tác động, gồm giảm tiểu cầu, biến đổi thành mạch và rối loạn yếu tố đông máu.

Hai rối loạn sinh bệnh học thoát huyết tương và rối loạn đông máu tạo thành một vòng xoắn bệnh lý. Tình trạng thoát huyết tương tạo điều kiện cho tình trạng rối loạn đông máu nặng hơn và ngược lại. Một số giả thuyết giải thích bệnh cảnh sốt xuất huyết Dengue nặng: - Giả thuyết của Hammon cho rằng cơ thể bị nhiễm đồng thời 2 týp huyết thanh khác nhau của vi rút Dengue [19]. - Giả thuyết của Leon Rose, nhận thấy các týp vi rút có khác nhau về độc lực như khả năng ly giải tế bào sinh miễn dịch, khả năng nhân lên.

Giả thuyết về độc lực của vi rút cũng phù hợp trong một số vụ dịch gây nên do vi rút Dengue týp huyết thanh 2, tỷ lệ bệnh nặng và tử vong cao [19]. - Giả thuyết tăng cường miễn dịch của Halstead, cho rằng đó là kết quả của đáp ứng nhớ lại, do bị tái nhiễm với 1 týp huyết thanh vi rút Dengue khác. Đáp ứng miễn dịch của cơ thể ở lần nhiễm thứ 2 mạnh hơn nhiều so với lần nhiễm đầu, dẫn đến tình trạng tăng tính thấm thành mạch [19]. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng sốt xuất huyết Dengue 1.

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp Bệnh cảnh lâm sàng của nhiễm vi rút Dengue có nhiều dạng khác nhau, từ không biểu hiện triệu chứng đến các biểu hiện của hội chứng nhiễm vi rút, biểu hiện của sốt Dengue, biểu hiện bệnh cảnh của SXHD hay cả của hội chứng sốc Dengue. Theo khuyến cáo của WHO năm 2009, để có thể dễ dàng hơn cho việc đánh giá và chăm sóc người bệnh (NB), nhiễm vi rút Dengue được phân chia làm thể nghiêm trọng và không nghiêm trọng. Thể nghiêm trọng của nhiễm vi rút Dengue hay còn gọi là hội chứng sốc SXHD. Sốt xuất huyết không nghiêm trọng bao gồm SXHD có thể xảy ra, SXHD không có dấu hiệu cảnh báo và SXHD có dấu hiệu cảnh báo [1].

8 Có 80% người nhiễm vi rút Dengue không có biểu hiện triệu chứng, hoặc chỉ biểu hiện sốt nhẹ. Mức độ biểu hiện của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: týp vi rút Dengue gây bệnh, số lần bị nhiễm Dengue của NB, thứ tự nhiễm các týp, thời gian giữa các lần nhiễm của NB và phụ thuộc cả vào các yếu tố khác như tuổi, tình trạng miễn dịch, bệnh nền của NB. Tình trạng của bệnh cũng có thể chuyển biến nhanh chóng sang thể SXHD nặng, với các triệu chứng lâm sàng từ dạng nhẹ như sốt cao, đau đầu, đau cơ, phát ban, đến dạng nặng như suy đa tạng hay tình trạng sốc giảm thể tích [30]. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp gồm: sốt cao, đau đầu và đau mắt, đau cơ và đau khớp, phát ban và xuất huyết.

Sốt cao Sốt trong bệnh SXHD là kết quả của phản ứng miễn dịch của cơ thể đối phó với tình trạng nhiễm vi rút. Sốt trong SXHD có thể cao đến 40 độ C và thường diễn tiến trong vòng 2-7 ngày khi vào giai đoạn toàn phát [3]. Sốt thường khởi phát đột ngột, chủ yếu là sốt nóng, ít khi có gai rét và rét run. Sốt liên tục, thường không có cơn.

Một số trường hợp ít chịu tác dụng của thuốc hạ sốt thông thường [31]. Khi vi rút Dengue xâm nhập vào tuần hoàn máu, nó bắt đầu nhân lên và xâm nhiễm các tế bào khác nhau trong cơ thể, đặc biệt là tế bào Langerhans. Hệ thống miễn dịch nhận ra sự hiện diện của vi rút và khởi động phản ứng miễn dịch để tiêu diệt chúng, kích thích tiết các phân tử tín hiệu gọi là cytokine, bao gồm interleukin-1 (IL-1), interleukin-6 (IL-6) và tumor necrosis factor-alpha (TNF-alpha). Những cytokine này tác động lên trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi ở não, kích thích sản xuất prostaglandin, đặc biệt là prostaglandin E2 (PGE2).

Kết quả là cơ thể tăng mức độ chuyển hóa, dẫn tới tăng mức thân nhiệt và gây ra sốt. Sốt đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ chống lại quá trình nhiễm vi rút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu lâm sàng và chế tạo kháng nguyên ns1 phát hiện sốt xuất huyết dengue" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình nghiên cứu và phát triển kháng nguyên ns1, một yếu tố quan trọng trong việc chẩn đoán sốt xuất huyết dengue. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh để giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các phương pháp nghiên cứu lâm sàng, cũng như những ứng dụng thực tiễn của kháng nguyên ns1 trong y học.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến bệnh truyền nhiễm và các phương pháp chẩn đoán, hãy tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán bệnh trong thú y.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh, nơi cung cấp thông tin về các bệnh lý truyền nhiễm khác và sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán.

Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 sẽ giúp bạn khám phá thêm về mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và bệnh lý, mở rộng hiểu biết về sức khỏe con người.

Những liên kết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nghiên cứu y học hiện nay.