Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc da Da có cấu tạo gồm ba lớp: lớp biểu bì (thượng bì), lớp bì (trung bì) và lớp mỡ dưới da. Cấu trúc da Nguồn: William Montagna F. Lớp biểu bì (thượng bì) Thượng bì là lớp ngoài cùng trong ba lớp tạo nên da, các lớp bên trong bao gồm hạ bì và trung bì.
Lớp thượng bì là một hàng rào ngăn nhiễm trùng do các mầm bệnh từ môi trường và điều hòa lượng nước khỏi cơ thể vào trong không khí qua thoát hơi nước qua thượng bì. Thượng bì bao gồm nhiều lớp tế bào dẹt nằm trên một lớp tế bào đáy gồm các tế bào hình trụ. 4 Các hàng tế bào phát triển từ tế bào gốc trong lớp đáy. Cơ chế tế bào điều hòa nước và natri (ENaCs) được tìm thấy trong tất cả các lớp thượng bì.
Thượng bì của con người là một ví dụ đặc trưng của biểu mô, đặc biệt là một biểu mô vảy phân tầng. Thượng bì là bao gồm 4 hoặc 5 lớp, tùy thuộc vào khu vực da. Những lớp thứ tự từ ngoài vào trong là: - Lớp sừng: bao gồm từ 10 đến 30 lớp tế bào đa diện, không nhân (bước biệt hóa cuối cùng của tế bào keratinocyte), lòng bàn tay và gan chân có nhiều lớp nhất. Các tế bào sừng được bao quanh bởi vỏ protein.
Hầu hết chức năng hàng rào bảo vệ của biểu bì đều đến từ lớp này. - Lớp sáng (chỉ ở lòng bàn tay và gan bàn chân): thượng bì của hai vùng này được dày hơn là nhờ lớp thượng bì có 5 lớp thay vì 4 lớp. - Lớp hạt: các tế bào keratinocyte mất hạt nhân và bào tương nằm ở lớp hạt. Chất béo nằm trong các tế bào keratinocyte được giải phóng vào khoang ngoại bào qua xuất bào để tạo thành một hàng rào lipid bảo vệ trên da.
Những chất béo phân cực được sau đó chuyển thành chất béo không phân cực và sắp xếp song song với các tế bào bề mặt. Ví dụ glycosphingolipids trở thành ceramides và phospholipid trở thành axit béo tự do. - Lớp gai - Lớp đáy Lớp Malpighian có mặt ở cả lớp đáy và lớp gai. Thượng bì ngăn cách với hạ bì bởi màng đáy [56].
Lớp chân bì (dermis) Lớp này còn gọi là trung bì, được cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt, gồm các thụ quan, tuyến nhờn, tuyến mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu, dây thần kinh. 5 Về cấu trúc chân bì gồm 3 thành phần: những sợi chống đỡ, sợi tạo keo là những sợi thẳng không phân nhánh cấu tạo bởi những chuỗi polypeptit (khoảng 20 loại axit amin). Sợi tạo keo có thể bị phá huỷ bởi men collagenase do vi khuẩn tiết ra. Sợi chun là những sợi lớn hơn có phân nhánh, nó bắt nguồn từ sợi tạo keo.
Sợi lưới tạo thành màng lưới mỏng bao bọc quanh mạch máu, tuyến mồ hôi. Cấu trúc của nó giống hệt sợi tạo keo. Chất cơ bản là một màng nhầy gồm trytophan, tyrosin,.Nó bị phá huỷ bởi tryosin. Tế bào gồm tế bào xơ hình thoi hoặc hình amíp, có tác dụng làm da lên sẹo.
Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành đại thực bào đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể. Tương bào tham gia quá trình chuyển hoá heparin, histamin. Ngoài các thành phần trên ở trung bì còn có những động mạch, tĩnh mạch, bạch mạch (hệ thống này được bắt nguồn từ các đám rối ở sâu) và hệ thống thần kinh của da [1], [56]. Dấu hiệu lâm sàng của rạn da Các vùng bất thường trên da có dạng dải hay sọc màu xanh hoặc tím.
Màu sắc của các vết rạn này thay đổi theo thời gian và phai dần đi [4]. Các vết rạn da thường không giống nhau. Chúng rất đa dạng tùy thuộc vào thời gian xuất hiện, nguyên nhân gây ra vết rạn da, nơi xuất hiện trên cơ thể và loại vết rạn da mắc phải. Theo nghiên cứu nhiều chủng tộc rạn da được tìm thấy thường ở trên mông, bắp đùi, đầu gối, bụng, vùng thắt lưng [1], [2].
Sơ đồ phân bố rạn da Nguồn: Ud‐Din S. (2016) [52] Rạn ra không gây ra cảm giác đau hoặc ngứa ngáy mà chỉ biểu hiện bằng những vệt dài thành từng đám nhỏ,lớn trên bề mặt da. Định nghĩa rạn da Rạn da là tình trạng collagen và elastin đứt gãy, tổ chức liên kết dưới da bị phá vỡ, da mất tính đàn hồi và kết quả là các vết rạn dần xuất hiện trên da. Do quá trình phát triển đột ngột nhanh chóng, khiến cơ thể không kịp thích nghi [5].
Cơ chế rạn da Các mô của rạn da tương tự như vết sẹo và sự phát triển của rạn da cũng tương tự như vết thương hoặc hình thành sẹo [2]. Cấu trúc mô học của rạn da Nguồn: Ud‐Din S. (2016) [52] Rạn da là tổn thương trên da, biểu hiện bằng những đường giãn chằng chịt, bề mặt da biến dạng nhăn nhúm thường xuất hiện ở những vùng da mỏng yếu.Vết rạn xảy ra khi các tế bào da bị kéo giãn không đủ để thích nghi với sự thay đổi của cơ thể, nhất là thay đổi về trọng lượng. Xét về mặt sức khoẻ, y tế, đây là một tình trạng hoàn toàn bình thường.
Tuy nhiên, về mặt thẩm mỹ, rạn da ảnh ưởng nghiêm trọng tới vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp của làn da, khiến bạn cảm thấy khó chịu, mất tự tin. Da của chúng ta có tính đàn hồi khá cao. Tuy nhiên, khi bị kéo giãn đột ngột, làm gián đoạn quá tình sản xuất collagen (loại chất protein cấu thành các mô liên kết trong da). Đồng thời cấu trúc của các collagen trong lớp trung bì của da bị phá vỡ.
Do đó, da không còn đàn hồi như trước nữa [5], [49]. Nguyên nhân và các yếu tố gây ra rạn da 1. Da bị kéo giãn quá mức Thực ra rạn da chính là những vết sẹo để lại trên da do da sau khi bị kéo giãn không thể trở lại trạng thái ban đầu. Vì vậy, các vết rạn da có thể được 8 coi như một dạng thương tổn của da.
Các nhà khoa học cho rằng, khi các collagen bị phá huỷ, các mao mạch nhỏ dưới da cũng bị kéo giãn, tạo thành các vạch vằn màu đỏ hoặc đỏ tím trên da. Đồng thời, quá trình sản sinh các sắc tố trong da cũng mất đi, do đó các vết rạn đó nhanh chóng chuyển sang màu trắng ngà. Nội tiết tố Một nguyên nhân khác dẫn đến rạn da đó là một loại nội tiết tố có tên là glucocorticoid. Vào thời kỳ dậy thì, mang thai, béo phì lượng nội tiết tố này trong cơ thể tăng cao và được các mao mạch vận chuyển đi khắp cơ thể, gây ra các vết rạn trên những vùng da mỏng và yếu.
Các nội tiết tố này tác động vào lớp trung bì bằng cách ngăn chặn sự hình thành collagen và elastin là các protein liên kết trong da, phá vỡ cấu trúc của da, hình thành các vết rạn nhỏ. Lâu dần, các tế bào của lớp trung bì bị phá hủy ngày càng nhiều, và các vết rạn này càng lộ rõ. Sử dụng thuốc và hoá chất Các vết rạn da còn có thể xuất hiện khi quá trình sản xuất collagen bị gián đoạn do cơ thể hấp thụ một số loại thuốc hoặc hoá chất. Điều này có nghĩa là, một số loại thuốc và hoá chất ngăn chặn sự sản xuất collagen, gây ra các vết rạn da.
Rạn da khi mang thai Da bị kéo dãn trong thời gian mang thai cũng gây nên rạn da. Trong thời kỳ mang thai từ tháng thứ 4 hoặc tháng thứ 6 các vết rạn thường xuất hiện ở bụng, hông, đùi, ngực, nách. Tỉ lệ rạn da thường ở phụ nữ gấp 2,5 lần so với nam và thường thấy ở 90% phụ nữ có thai [2], [45]. Rạn da thường gặp ở thanh thiếu niên và phụ nữ mang thai.
Rạn da trong thai kỳ lúc đầu phát triển ở bụng và sau đó là vùng ngực. Nếu mẹ bạn bị ran da, bạn cũng có nguy cơ cao Nên nhớ rằng rạn da không phải do di truyền, nhưng bạn lại được thừa hưởng làn da từ bố mẹ mình. Do đó, nếu mẹ bạn bị rạn da thì rất có thể bạn cũng sẽ bị rạn da. Đặc điểm lâm sàng, phân loại rạn da 1.
Đặc điểm lâm sàng Thương tổn thương cơ bàn của rạn da biểu hiện bằng những đường giãn chằng chịt, bề mặt da biến dạng nhăn nhúm thường xuất hiện ở những vùng da mỏng yếu. Rạn da làm mất đi khả năng đàn hồi của da [5], [21]. Vi trí: rạn da thường xuất hiện ở vùng ngực, bụng, mông, đùi, đầu gối và bắp chân [5], [21], [23], [45]. Triệu chứng Những người bị rạn da không ai giống ai cả, chúng tùy thuộc vào khoảng thời gian mà bạn gặp phải chúng, nguyên nhân gây ra, vị trí chúng trên cơ thể của bạn và loại da của bạn là gì.
Những dạng rạn da thường gặp bao gồm: Những vệt lõm ngang hoặc dọc trên da. Những vệt màu tím hoặc xanh, đen, đỏ, hồng. Những vệt sáng màu mà sẽ mờ dần sang màu nhạt hơn. Những vệt lõm da trên bụng, vú, hông, mông hoặc đùi.
Những vệt phủ trên vùng lớn của cơ thể [5], [33]. Phân loại rạn da Vết rạn được hình thành qua hai thời kỳ: Thời kỳ đầu, biểu hiện lúc đầu là những vạch đỏ, đỏ tím trên da (có thể ngứa hoặc không tại vết rạn da). Thời kỳ thứ hai da đã chuyển sang màu trắng, xám hơi ánh lên và hình thành các đường rạch lõm [10]. Phận loại da theo thang Fitzpatrick Type I [điểm 0-6]: da rất nhạy cảm, luôn luôn bị bỏng nắng và không bao giờ rám nắng, da trắng, rất sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh, có nhiều tàn nhang.
Type II [điểm 7-13]: da rất dễ nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, thường bị bỏng nắng và khó rám nắng. Da trắng sáng, tóc đỏ hay vàng hoe, mắt xanh hay nâu đỏ. Type III [điểm 14-20]: da nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, có thể rám nắng nhưng đôi khi bị bỏng nhẹ. Da màu beige, trắng với bất kỳ màu mắt hay màu tóc nào, rất thường gặp.
Type IV [điểm 21-27]: da hiếm khi bị bỏng nắng và dễ rám nắng. Da màu beige hơi nâu, đặc trưng của da người vùng Địa Trung Hải. Type V [điểm 28-34]: da ít nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, rất dễ rám nắng và rất hiếm khi bỏng nắng. Da nâu, đặc trưng của da người gốc Tây Ban Nha.
Type VI [điểm 35-36]: da rất dễ rám nắng và không bao giờ bị bỏng nắng, da đen. Phân loại da theo Fitzpatricks Nguồn: Roberts WE (2009) [48] 11 1. Các phương pháp điều trị rạn da 1.