MỞ ĐẦU Viêm da cơ địa (VDCĐ), còn đƣợc gọi là chàm thể tạng, là một trong những bệnh da viêm mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em, đặc trƣng bởi tình trạng da khô, viêm, ngứa nhiều, da dày, lichen hóa. Ngày nay, tần suất VDCĐ có xu hƣớng gia tăng, đi kèm với nhiều bệnh lý trong kiểu hình “Atopic march” gồm hen, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn, viêm kết mạc dị ứng.1 Gánh nặng từ các bệnh viêm hệ thống khiến VDCĐ trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm trên toàn thế giới.2 VDCĐ là một bệnh lý diễn tiến mạn tính, có nhiều đợt bùng phát trong quá trình bệnh. Điều trị VDCĐ bao gồm tránh tiếp xúc với các yếu tố khởi phát, hƣớng dẫn bệnh nhân cách chăm sóc da đúng, cải thiện môi trƣờng sống, thoa thuốc kháng viêm, dƣỡng ẩm và các liệu pháp điều trị hệ thống. Bệnh có kiểm soát tốt hay không, phụ thuộc phần lớn vào sự tuân thủ, “tự nhận thức và tự quản lí” của bệnh nhân và ngƣời nhà.
Một nghiên cứu đã đƣa ra rằng chỉ có khoảng gần 55% bố mẹ có con VDCĐ thực hiện uống và thoa thuốc đúng theo hƣớng dẫn của bác sĩ.3 Tuân thủ điều trị kém là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại điều trị, ảnh hƣởng nhiều đến kinh tế, sức khỏe tinh thần, chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình.4 Một bài báo tổng quan đã liệt kê các yếu tố dẫn đến kết cục điều trị không mong muốn ở bệnh nhân VDCĐ bao gồm: điều trị phức tạp, đặc biệt là thuốc thoa; sự thiếu kiến thức của bệnh nhân và ngƣời nhà về bệnh và cách điều trị dẫn đến tuân thủ kém; sự không hài lòng của bệnh nhân; tần suất tái khám; chứng sợ corticosteroids; sử dụng thuốc hỗ trợ và thay thế, thƣờng gặp nhất là thuốc đông y, thảo dƣợc.4 Nhƣ vậy, hiểu biết đúng về bệnh của bệnh nhân và ngƣời nhà sẽ góp phần quan trọng để đạt đƣợc hiệu quả điều trị mong muốn. Điều trị VDCĐ ở trẻ nhỏ phụ thuộc chủ yếu vào kiến thức, thái độ và hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp trẻ. Tuy nhiên, nhiều bố mẹ đã tìm kiếm thông. 2 tin từ các nguồn khác nhau về bệnh VDCĐ của con với một lƣợng lớn thông tin đƣợc tìm kiếm trên Internet thông qua các trang web hay diễn đàn thảo luận.5 Thông tin thiếu hay sai lệch về bệnh, đặc biệt đối với bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp trẻ bị VDCĐ, có thể dẫn đến kết cục không mong muốn.
Trên thế giới, có các nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ, ngƣời chăm sóc trẻ VDCĐ,6-9 đồng thời, có một số nghiên cứu đã chỉ ra hiệu quả của chƣơng trình can thiệp giáo dục dành cho bố mẹ, ngƣời chăm sóc trẻ giúp gia tăng hiểu biết về bệnh10 và cải thiện độ nặng bệnh của trẻ.11,12 Trong nƣớc, hiện còn thiếu nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp trẻ bị VDCĐ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp trẻ bị VDCĐ tại bệnh viện Nhi đồng 2 và bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Các dữ liệu thu thập đƣợc sẽ là cơ sở để bác sĩ da liễu, bác sĩ nhi khoa nói riêng và các nhà chăm sóc sức khỏe nói chung có kế hoạch can thiệp nhƣ cung cấp kiến thức về VDCĐ cho bố, mẹ, ngƣời chăm sóc trẻ và từ đó, làm căn cứ để phát triển thêm các chƣơng trình giáo dục cho bố mẹ, ngƣời chăm sóc trẻ, đặc biệt hƣớng đến cải thiện những kiến thức sai lầm, thái độ không đúng và hành vi không phù hợp thƣờng gặp, làm nặng thêm tình trạng bệnh VDCĐ ở trẻ. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp về bệnh VDCĐ của trẻ và khảo sát mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ, ngƣời chăm sóc trực tiếp với đặc điểm xã hội học của họ, với đặc điểm xã hội học và tình trạng bệnh của trẻ tại bệnh viện Nhi đồng 2 và bệnh viện Da liễu TP.
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp về bệnh VDCĐ của trẻ tại bệnh viện Nhi đồng 2 và bệnh viện Da liễu TP. Khảo sát mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp với đặc điểm xã hội học của họ. Khảo sát mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp với đặc điểm xã hội học và tình trạng bệnh của trẻ.
Khảo sát tình trạng sợ corticoid thoa ở bố mẹ hoặc ngƣời chăm sóc trực tiếp trẻ bị VDCĐ bằng thang điểm TOPICOP tại bệnh viện Nhi đồng 2 và bệnh viện Da liễu TP. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về bệnh viêm da cơ địa 1. Giới thiệu VDCĐ là một bênh da viêm mạn tính, chủ yếu khởi phát ở thời thơ ấu với diễn tiến lâm sàng thay đổi.
Ngứa là triệu chứng nổi bật của bệnh, thƣờng ngứa nhiều trong những trƣờng hợp nặng, dẫn đến mất ngủ, cào gãi làm bong vảy da và nhiễm trùng da, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chất lƣợng cuộc sống. Dịch tễ VDCĐ gây ảnh hƣởng đến 20% trẻ em và 10% ngƣời lớn ở các quốc gia phát triển mạnh, dựa vào tỉ lệ ƣớc tính tự báo cáo hằng năm.13 Năm 2010, 230 triệu ngƣời trên thế giới đƣợc ƣớc tính là mắc VDCĐ, đây là rối loạn da không gây tử vong có gánh nặng bệnh tật cao nhất.14 Mặc dù tần suất VDCĐ khá ổn định ở nhiều quốc gia phát triển mạnh, nhƣng bệnh này vẫn đang gia tăng ở các quốc gia phát triển yếu và phát triển trung bình.15 VDCĐ gặp nhiều hơn ở nữ, với tỉ lệ nữ : nam dao động từ 1,3 đến 1,0. Chủng tộc và tôn giáo cũng ảnh hƣởng đến tần suất bệnh. Ở Hoa Kỳ, ngƣời Mỹ gốc Phi có tần suất bệnh cao hơn.16 Một vài nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ bệnh ở vùng nông thôn thấp hơn so với thành thị trong cùng một quốc gia.17 Từ các nghiên cứu dịch tễ học, VDCĐ đƣợc chia thành 3 thể dựa vào độ tuổi khởi phát bệnh.
Thể khởi phát sớm: phổ biến nhất, triệu chứng khởi phát trƣớc 2 tuổi. 45% khởi phát bệnh trong 6 tháng đầu, 60% trong một năm đầu và 85% trƣớc 5 tuổi. Gần 50% trẻ khởi phát bệnh trong 2 năm đầu có kháng thể IgE đặc hiệu dị ứng nguyên trƣớc 2 tuổi. Khoảng 60% trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ VDCĐ sẽ giảm bệnh trƣớc 12 tuổi, một số khác có hoạt động bệnh kéo dài đến thanh thiếu niên và ngƣời lớn.18 Thể khởi phát muộn: VDCĐ khởi phát sau tuổi dậy thì.
Có ít nghiên cứu dịch tễ học về VDCĐ khởi phát ở ngƣời lớn. Gần 30% bệnh nhân nằm trong nhóm. 5 không liên quan IgE. Ở ngƣời lớn, bệnh thƣờng gặp ở nữ.18 Thể khởi phát khi già: không thƣờng gặp, khởi phát triệu chứng sau 60 tuổi.
Sinh bệnh học Sinh bệnh học của VDCĐ liên quan đến sự tƣơng tác phức tạp giữa rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da, bất thƣờng hệ vi sinh vật và rối loạn điều hòa miễn dịch ƣu thế Th2. Những rối loạn này có thể thúc đẩy và tƣơng tác với những rối loạn khác. Cơ chế bệnh sinh của viêm da cơ địa Nguồn: Maeve A. McAleer, et al.
Yếu tố di truyền Tiền sử gia đình có bệnh lý cơ địa, đặc biệt là VDCĐ, là yếu tố nguy cơ mắc bệnh mạnh nhất có thể nhận diện đƣợc. VDCĐ có tính di truyền mạnh (khoảng 75%. 6 ở các cặp sinh đôi), cho thấy rằng yếu tố di truyền góp phần quan trọng gây bệnh.20 Các nghiên cứu về bộ di truyền đã phát hiện 34 loci góp phần trong 20% tính di truyền của bệnh.21 Các thay đổi chức năng gen chƣa đƣợc hiểu biết rõ ràng trong hầu hết những loci này nhƣng vùng di truyền này chứa nhiều gen có vai trò trong đáp ứng miễn dịch, bao gồm biệt hóa Th2, hoạt hóa tế bào T, miễn dịch bẩm sinh và phức hợp biệt hóa thƣợng bì, một locus cho gen của hàng rào bảo vệ da.21 Yếu tố di truyền mạnh nhất của VDCĐ đƣợc xác định liên quan với đột biến protein filaggrin trong hàng rào bảo vệ da. Protein này đƣợc mã hóa bởi gen FLG.
Đột biến mất chức năng của FLG làm tăng nguy cơ VDCĐ gấp 3 – 5 lần. Những nghiên cứu đầu tiên về bộ di truyền của dân số cho thấy đột biến FLG chủ yếu ở Châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. Hiện nay, các kỹ thuật giải trình tự mới đã chỉ ra đột biến này cũng là yếu tố quan trọng trong VDCĐ ở ngƣời dân Bangladesh và Mỹ gốc Phi. Rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da Rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da đƣợc thấy trên cả vùng da bệnh và vùng da lành ở bệnh nhân VDCĐ, bao gồm tăng pH và mất nƣớc qua thƣợng bì, tăng tính thấm, giảm giữ nƣớc và thay đổi thành phần lipid.
Liên quan đến sự tổn thƣơng chức năng hàng rào bảo vệ da có nhiều yếu tố nhƣ gen (đột biến FLG), và gây tổn hại vật lí do cào gãi. Hàng rào bảo vệ da cũng bị phá hủy thêm nữa do sự mất cân bằng vi sinh vật. Tế bào tạo sừng trong thƣợng bì bị kích thích sẽ gửi các tín hiệu viêm và ngứa, thông qua IL-33 và TSLP, gây tổn thƣơng mô thêm nữa, chiêu mộ tế bào viêm típ 2 và hoạt hóa tế bào lympho bẩm sinh típ 2 trong da. Chính những tế bào lympho này sẽ sản xuất ra IL-5 và IL-13, từ đó hoạt hóa eosinophils và tế bào Th2.
Rối loạn chức năng thƣợng bì ở viêm da cơ địa Rối loạn chức Bất thƣờng Tác động năng thƣợng bì. 7 Proteins bao Giảm biểu hiện Hydrat hóa da ngoài tế bào filaggrin, pH da sừng transglutaminases, keratins, loricrin, Thấm nhập dị nguyên và vi sinh vật involucrin, và protein Cytokines tiền viêm gian bào ngƣỡng gây viêm Liên kết chặt Giảm claudins Hydrat hóa da Nƣớc mất qua thƣợng bì Thấm nhập dị nguyên và vi sinh vật Peptides kháng Giảm cathelicidin Nhiễm trùng da khuẩn (LL-37) và β- Sản xuất cytokines defensins Hệ vi sinh vật Cƣ trú S.aureus và Biểu hiện filaggrin, loricrin, giảm sự đa dạng vi desmocollin 1, và kerains.