Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh tra chi ngân sách nhà nước cấp xã của Thanh tra huyê ̣n Chương 2: Phân tích t hực trạng công tác thanh tra chi ngân sách nhà nước cấp xã của Thanh tra huyê ̣n Sa Pa Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra chi ngân sách nhà nước cấp xã của Thanh tra huyện Sa Pa đến năm 2020 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP XÃ CỦA THANH TRA HUYỆN 1. Chi ngân sách nhà nƣớc cấ p xã 1.1 Khái niệm Ngân sách nhà nước cấ p xa.̃ “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Quốc hội , 2015). Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế - chính trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của bộ máy hành chính Nhà nước. Tại Việt nam, hệ thống NSNN được quy định tại điều 6, Luật NSNN năm 2015 như sau: NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong đó Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.
Hệ thống tổ chức NSNN nước ta hiện nay được biểu hiện trong sơ đồ sau: 1.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức NSNN Hệ thống NSNN NSTW NSĐP NS Tỉnh NS Huyện NS Xã Hình 1.1: Hệ thống ngân sách nhà nƣớc hiện hành Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 8 Như vậy hệ thống NSNN ở nước ta bao gồm 4 cấp ngân sách: + Ngân sách trung ương. + Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) + Ngân sách quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) + Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Trong đó, Ngân sách Trung ương đóng vai trò chủ đạo đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia, ngân sách xã, phường, thị trấn đóng vai trò chủ đạo, ngân sách cấp tỉnh, thành phố, quận huyện đóng vai trò trung gian. Từ sơ đồ trên ở trên cho thấy Ngân sách cấ p xã là m ột bộ phận, một cấp ngân sách trong hệ thống 4 cấp NSNN, bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp xã.
Chi NSNN nói chung, ngân sách nhà nước cấp xã nói riêng thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN cấp xã nhằm chi trả cho các khoản chi phí của UBND cấp xã và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà UBND cấp xã phải đảm nhận dựa trên những nguyên tắc nhất định.2 Các nội dung chi ngân sách nhà nước cấp xã. Căn cứ chế độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, các chính sách chế độ về hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã, nhiệm vụ chi cho ngân sách xã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giao cho thực hiện các nhiệm vụ chi dưới đây: - Chi đầu tư phát triển, bao gồm: Các hoạt động chi đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội từ nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách xã theo phân cấp của cấp tỉnh theo các lĩnh vực chi được quy định trong các văn bản pháp quy; các hoạt động chi cho đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội của xã lấy từ nguồn do các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật và Luật đầu tư công theo từng dự án, đưa vào ngân sách xã quản lý theo quyết định của 9 Hội đồng nhân dân đối với các lĩnh vực chi được quy định trong văn bản pháp quy. - Các khoản chi thường xuyên, gồm: Chi quốc phòng gồm: Chi thực hiện chế độ, chính sách và các khoản chi khác đối với lực lượng dân quân tự vệ thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Luật dân quân tự vệ; chi thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật; - Chi an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi cho hoạt động tuyên truyền, vận động và tổ chức phong trào bảo vệ an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn xã; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật; chi cho hoạt động vì sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trên địa bàn xã; chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ (không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ);. - Trong những trường hợp khẩn cấp, ngân sách cấp xã được dùng để chi cho nhiệm vụ của cấp huyện, tỉnh, Trung ương và dùng để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác, như: + Trong những trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp cấp thiết khác, ngân sách xã cần hỗ trợ khẩn cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương; + Khi thực hiện chức năng của UBND xã kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu, ngân sách xã cần chi cho các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn; + Khi cần sử dụng ngân sách dự phòng của UBND xã để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nghiêm trọng.2 Thanh tra chi ngân sách nhà nƣớc cấ p xã của Thanh tra huyện.1 Khái niệm về thanh tra chi ngân sách cấ p xã của Thanh tra huyện.
Thanh tra là một chức năng thiết yếu trong hoạt động quản lý nhà nước của UBND huyện nên hoạt động thanh tra bao gồm hai loại hình là thanh tra chuyên ngành (hướng vào xã hội, các đối tượng quản lý) và thanh tra hành chính (hướng 10 vào bản thân bộ máy quản lý nhà nước). Thanh tra chi ngân sách xã là hoạt động thanh tra chuyên ngành về tài chính trong lĩnh vực ngân sách nhà nước. Việc phân biệt thanh tra chi ngân sách xã với thanh tra hành chính tại xã thực chất là phân biệt thanh tra chuyên ngành về tài chính với thanh tra hành chính. Theo Luật Thanh tra năm 2004 thì thanh tra hành chính là “hoạt động thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp”; còn thanh tra chuyên ngành là “hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý”.
Như vậy, thanh tra chi ngân sách xã là hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra cấp huyện đối với lãnh đạo và các cán bộ liên quan đến hoạt động chi ngân sách trong UBND xã trong việc chấp hành pháp luật, những quy định quy tắc quản lý của ngành tài chính đối với hoạt động chi ngân sách của xã. Từ điển Tiếng Việt cho rằng thanh tra là hoạt động kiểm soát, xem xét tại chỗ để phát hiện, ngăn chặn sai trái, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Thanh tra chi ngân sách xã khác với kiểm tra chi ngân sách xã như sau: - Phạm vi chủ thể kiểm tra tài chính đa dạng hơn và rộng hơn thanh tra tài chính rất nhiều. Nếu như chủ thể kiểm tra chi ngân sách bao gồm cả UBND xã - chủ thể chi và các nhà thầu, các đơn vị là đối tượng nhận chi ngân sách cấp xã các cấp, thì chủ thể thanh tra chi ngân sách xã chỉ bao gồm các UBND xã, nơi được pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ và hoạt động theo quy định pháp luật.
Về đối tượng: Đối tượng của thanh tra tài chính là các cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và chịu sự quản lý của nhà nước; còn đối tượng của kiểm tra tài chính rộng hơn, bao gồm tất cả các đối tượng thuộc quyền quản lý của chủ thể kiểm tra tài chính. - Về thời gian tiến hành: Thông thường, thời gian tiến hành một cuộc thanh tra chi ngân sách dài hơn thời gian tiến hành một cuộc kiểm tra hoạt động chi ngân 11 sách. Điều này xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu của mỗi loại hình và được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Nghị định số 61/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ thì thời gian tiến hành một cuộc kiểm tra tài chính tối đa không quá 5 ngày.
Theo quy định tại Luật Thanh tra thì thời gian tiến hành cuộc thanh tra hành chính (trong đó bao gồm thanh tra chi ngân sách xã) tối đa là 45 ngày. - Về tính chất pháp lý: Thanh tra hoạt động chi ngân sách xã tuân theo pháp luật để phát hiện, xử lý sai phạm nên tính chất pháp lý cao hơn, kết luận yêu cầu phải chặt chẽ hơn; còn kiểm tra hoạt động chi ngân sách xã ch ủ yếu để đánh giá và nhận xét, điều chỉnh các quyết định quản lý nên tính chất pháp lý thấp hơn. Trong quản lý chi ngân sách, Nhà nước có ba chức năng cơ bản là: (1) Ban hành các cơ chế, chính sách, pháp luật về chi ngân sách; (2) Tổ chức triển khai thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật về chi ngân sách và (3) thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật về chi ngân sách (thanh tra chi ngân sách). Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với ngân sách nhà nước.