CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm về tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp tỉnh 1. Khái niệm, đặc điểm về tổ chức cơ quan thanh tra cấp tỉnh 1. Khái niệm tổ chức của cơ quan thanh tra cấp tỉnh Tổ chức thường được hiểu như là tập hợp của nhiều người cùng làm việc vì những mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định.
Đó có thể là một trường học, một bệnh viện, một doanh nghiệp, một cơ quan nhà nước, một đơn vị quân đội, một hiệp hội, một nhà thờ. Cơ cấu của tổ chức chính là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu hiện qua việc sắp xếp các bộ phận cấu thành theo một trật tự nhất định và xác lập mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau. Việc xác định cơ cấu của tổ chức của mỗi cơ quan chính là việc thiết lập các bộ phận và liên kết chúng lại với nhau thành một hệ thống [19; tr. Theo quy định tại Điều 20 Luật Thanh tra 2010, thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Thanh tra tỉnh có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên. Thanh tra tỉnh chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ.2 Đặc điểm tổ chức của cơ quan thanh tra cấp tỉnh Tổ chức của cơ quan thanh tra cấp tỉnh có đặc điểm chung giống các cơ quan thanh tra nhà nước khác là được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc; mỗi cơ quan Thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan 5 quản lý nhà nước cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn của cơ quan Thanh tra nhà nước cấp trên về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra. Cụ thể, cơ quan thanh tra tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh mà trực tiếp là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ. Thanh tra tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở đặt tại tỉnh.
Bên cạnh đặc điểm chung của cơ quan thanh tra khác, cơ quan thanh tra cấp tỉnh có đặc điểm riêng về tổ chức gồm: - Cơ quan thanh tra cấp tỉnh có quan hệ ngang cấp với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đó là vì thanh tra cấp tỉnh là một trong những cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nên quan hệ giữa Thanh tra cấp tỉnh với các cơ quan chuyên môn khác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là mối quan hệ hợp tác và phối hợp trên cơ sở bình đẳng, theo chức năng nhiệm vụ, dưới sự điều hành chung của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. - Cơ quan thanh tra cấp tỉnh có quan hệ cấp trên với cơ quan thanh tra cấp huyện. Quan hệ cấp trên thể hiện ở điểm thanh tra tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn Thanh tra cấp huyện xây dựng kế hoạch, chương trình thanh tra cho thanh tra cấp huyện và Chánh thanh tra cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra cấp tỉnh.2 Khái niệm, đặc điểm về hoạt động của cơ quan thanh tra cấp tỉnh 1.1 Khái niệm hoạt động của cơ quan thanh tra cấp tỉnh Từ điển Tiếng Việt định nghĩa hoạt động là “tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”, hoặc “thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể”.
Về hoạt động, thuật ngữ thanh tra hiện chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất mà vẫn có sự khác nhau nhất định. Theo từ điển Tiếng Anh, thanh tra là kiểm tra để phát hiện, xem xét hiện trạng của đối tượng bị kiểm tra hay xem xét sự tuân 6 thủ pháp luật hay nhiệm vụ được thực hiện có được thực hiện một cách hợp lý không [8, tr. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thanh tra được hiểu “là hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của cơ quan, tổ chức cá nhân và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền” [24, tr. Tuy nhiên thực tế trong hoạt động quản lý nhà nước, nhiều người vẫn đồng nhất và hiểu đơn thuần kiểm tra cũng là thanh tra do gắn liền với hoạt động quản lý.
Để tránh nhầm lẫn, chúng ta cần phân biệt rõ hai khái niệm này. Khái niệm Thanh tra như đã nêu ở phần trên, còn kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [29, tr. Theo giải thích thuật ngữ thanh tra nhà nước trong Luật thanh tra năm 2004, hoạt động thanh tra là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện theo hình thức thanh tra hành chính hoặc thanh tra chuyên ngành. Khoản 1 Điều 3 Luật thanh tra năm 2010 cụ thể hóa hơn, hoạt động thanh tra được hiểu “là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [10].
Khái niệm thanh tra cũng đã được nghiên cứu và đề cập nhiều trong các bài nghiên cứu trên các tạp chí pháp luật, trong các bài nghiên cứu của đề tài khoa học ở các cấp. Theo tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền (2009) “Hoàn thiện pháp Luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay”, thanh tra là việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý nhà nước, nhằm phát hiện sai sót trong hoạt động quản lý nhà nước, kiến nghị với cơ quan nhà nước biện pháp khắc phục, phòng ngừa và xử lý vi phạm; phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [5, tr. Về bản chất, thanh tra là một phương thức kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước bên trong hệ thống hành pháp. Các cơ quan thanh 7 tra nằm trong hệ thống hành pháp nhưng hoạt động có tính độc lập tương đối.
Hoạt động thanh tra là hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Đối tượng thanh tra cũng là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp. Do đó, người ta quan niệm thanh tra một chức năng của quản lý nhà nước, là cơ chế tự kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp [24, tr. Qua các khái niệm ở trên, hoạt động của thanh tra cấp tỉnh được hiểu là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách pháp luật để kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.
Đây là một chức năng không thể thiếu của hoạt động quản lý, là một khâu của chu trình quản lý của Nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan thanh tra cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [14, tr. Đặc điểm hoạt động của cơ quan thanh tra cấp tỉnh Giống như đặc điểm chung của thanh tra, hoạt động thanh tra cấp tỉnh có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, hoạt động của thanh tra cấp tỉnh luôn gắn với quản lý nhà nước. Với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, hoạt động của thanh tra nhà nước cấp tỉnh gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau (quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra).
Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý nhà nước thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà nước. - Thứ hai, hoạt động của thanh tra cấp tỉnh mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền uy – phục tùng, một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước, được thể hiện: + Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với đối tượng thanh tra về những vấn đề đã bị thanh tra; 8 + Trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần thiết trong quá trình thanh tra; + Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; + Yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật… - Thứ ba, hoạt động của thanh tra cấp tỉnh có tính khách quan. Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật.
Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra. Mọi nhận định, đánh giá trong quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự kiện thực tế, không bình luận chủ quan. Tính khách quan đảm bảo hoạt động thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng. - Thứ tư, hoạt động của thanh tra cấp tỉnh có tính độc lập tương đối.
Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Luật Thanh tra 2010 đã tập trung tăng cường các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra cũng như người đứng đầu các cơ quan này.