Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu hiệu quả của điện châm và acyclovir trong điều trị bệnh zona

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu đặc điểm lâm sàng yếu tố liên quan và hiệu quả của điện châm kết hợp acyclovir trong, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Viện Y học cổ truyền quân đội

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

168
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh zona và phương pháp điều trị

Bệnh zona, hay còn gọi là herpes zoster, là một bệnh lý do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi và những người có hệ miễn dịch yếu. Triệu chứng chính của bệnh là đau và phát ban da. Việc điều trị bệnh zona thường bao gồm việc sử dụng thuốc kháng virus như acyclovir để giảm triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng. Nghiên cứu cho thấy điện châm có thể là một phương pháp hỗ trợ hiệu quả trong điều trị bệnh này. Kết hợp điện châm với acyclovir có thể giúp giảm đau và rút ngắn thời gian hồi phục cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh zona

Bệnh zona thường khởi phát với triệu chứng đau nhức tại vùng da bị tổn thương trước khi xuất hiện phát ban. Đau có thể kéo dài và gây khó chịu cho bệnh nhân. Các tổn thương da thường xuất hiện theo đường đi của dây thần kinh cảm giác, tạo thành các mảng đỏ và mụn nước. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời và hiệu quả.

1.2. Tác dụng của acyclovir trong điều trị zona

Acyclovir là thuốc kháng virus được sử dụng phổ biến trong điều trị bệnh zona. Thuốc này giúp ức chế sự nhân lên của virus, từ đó giảm thiểu triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng acyclovir trong giai đoạn đầu của bệnh có thể làm giảm thời gian đau và thời gian lành tổn thương. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc này cần được kết hợp với các phương pháp điều trị khác để đạt hiệu quả tối ưu.

II. Hiệu quả của điện châm trong điều trị bệnh zona

Điện châm là một phương pháp điều trị trong y học cổ truyền, được sử dụng để giảm đau và cải thiện chức năng thần kinh. Nghiên cứu cho thấy điện châm có thể làm giảm cường độ đau và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân zona. Phương pháp này hoạt động bằng cách kích thích các điểm huyệt trên cơ thể, giúp tăng cường lưu thông máu và giảm viêm. Kết hợp điện châm với acyclovir có thể mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn so với việc chỉ sử dụng thuốc kháng virus.

2.1. Cơ chế tác động của điện châm

Cơ chế tác động của điện châm liên quan đến việc kích thích các dây thần kinh cảm giác, từ đó làm giảm cảm giác đau. Nghiên cứu cho thấy rằng điện châm có thể làm tăng nồng độ các chất giảm đau tự nhiên trong cơ thể như beta-endorphin. Điều này giúp giảm đau hiệu quả cho bệnh nhân zona, đặc biệt là trong giai đoạn đau tiền triệu.

2.2. Kết quả nghiên cứu lâm sàng

Kết quả từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng điện châm kết hợp với acyclovir có sự cải thiện rõ rệt về triệu chứng đau và thời gian hồi phục. Các chỉ số cận lâm sàng như nồng độ cortisol và beta-endorphin cũng cho thấy sự thay đổi tích cực sau khi điều trị. Điều này chứng tỏ rằng điện châm không chỉ giúp giảm đau mà còn hỗ trợ quá trình hồi phục của bệnh nhân.

III. Đánh giá tổng quan và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về hiệu quả của điện châm kết hợp với acyclovir trong điều trị bệnh zona đã chỉ ra rằng phương pháp này có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Việc kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu tác dụng phụ của thuốc. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị bệnh zona, đặc biệt là cho những bệnh nhân có nguy cơ cao hoặc đã có biến chứng.

3.1. Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh zona. Việc áp dụng điện châm như một phương pháp hỗ trợ có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần khẳng định vai trò của y học cổ truyền trong điều trị các bệnh lý hiện đại.

3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả và cơ chế tác động của điện châm trong điều trị bệnh zona. Các nghiên cứu này nên được thực hiện trên quy mô lớn hơn và đa dạng hơn về đối tượng để có thể đưa ra những khuyến nghị chính xác và hiệu quả cho việc điều trị bệnh này trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm về bệnh Zona BÖnh Zona (Shingle, Herpes Zoster) do Varicella - Zoster virus (VZV) g©y nªn. BÖnh cã tæn th¬ng liªn quan ®Õn h¹ch rÔ thÇn kinh vµ da [1], [4].

Bệnh gặp ở mọi giới, mọi chủng tộc cũng như mọi lứa tuổi trong đó gặp chủ yếu trên 50 tuổi [1], [2], [4], [5], [6]. Tû lÖ m¾c bÖnh 10 - 20% d©n sè trong thêi gian suèt cuéc ®êi vµ hµng n¨m ë MÜ cã kho¶ng 1.000 bÖnh nh©n bÞ Herpes Zoster [2]. BÖnh chiÕm 41,53% tæng sè bÖnh da do virus vµ chiÕm 5,33% tæng c¸c bÖnh da ®iÒu trÞ néi tró t¹i ViÖn Da liÔu ViÖt Nam tõ n¨m 1994 - 1998 [7]. Vi nhung mao Glycoprotein Vỏ lipid ADN Vỏ trong Vỏ ngoài Hình 1: Hình ảnh của virus varicella-zoster (Nguồn: 2005 Cambridge University Press) 1.

Căn nguyên Varicella Zoster Virus (VZV) là một trong 8 loại virus Herpes gây bệnh ở người (Human Herpes Virus- HHV), thuộc nhóm Alpha herpes virus. Human Herpes Virus Gây bệnh 1. HSV-1 (Herpes Simplex type 1) Herpes miệng 2. HSV-2 (Herpes Simplex type 2) Herpes sinh dục 3 luan an 3.

VZV (Varicella Zoster Virus) Thủy đậu, Zona 4. EBV (Epstein Barr Virus) Bệnh bạch cầu đơn nhân 5. CMV (Cytomegalo Virus) Bệnh bạch cầu đơn nhân do CMV 6. HHV-6 (Human Herpes Virus type 6) Hồng ban 7.

HHV-7 (Human Herpes Virus type 7) Chưa thấy gây bệnh trên người 8. Từ đầu thế kỷ XX, người ta đã thấy sự tương đồng về mặt tổ chức học của tổn thương Zona và thủy đậu. Virus phân lập từ bệnh nhân thủy đậu và Zona được nuôi cấy đã gây tổn thương tương tự nhau [9]. DNA (Deoxyribo Nucleic Acid) của virus bao gồm 125000 cặp ba zơ (base pairs- bp), mã hóa cho hơn 71 khung đọc mở (Open Reading Frame- ORF) VZV có đường kính 80-120 nm, trọng lượng phân tử 80000.

Chuỗi DNA xoắn kép được bao trong hình khối mà lớp vỏ capsid được mã hóa bởi ORF 20, 21, 23, 33, 40, 41. Lớp vỏ capsid lại được bao quanh bởi lớp áo mỏng ranh giới không rõ, được tạo bởi các protein có chức năng điều hòa, được mã hóa bởi ORF 9-12. Lớp ngoài cùng là lớp vỏ lipid có nguồn gốc từ màng tế bào liên kết khăng khít với glycoprotein của virus tạo nên phức hợp chặt chẽ [10]. Cơ chế bệnh sinh 1.

Cơ chế bệnh sinh bệnh Zona Năm 1991, Agut cho rằng VZV lây truyền qua đường hô hấp, nhân lên ở đó và được các lympho bào vận chuyển đến hệ liên võng nội mô rồi xâm nhập vào máu sau 5 ngày, gây nhiễm virus huyết lần đầu. Virus sẽ khu trú ở gan, lách, rồi vào máu gây nhiễm virus huyết lần 2 và gây bệnh thủy đậu. Thời gian ủ bệnh trung bình từ 10 đến 21 ngày sau khi tiếp xúc với virus. Khi tổn thương ngoài da cuối cùng đóng vảy là lúc bệnh không còn khả năng lây lan [11].

4 luan an Hạch cảm giác Rễ sau Bề mặt da Thương tổn Sợi cảm Zona giác Sợi thần kinh TK cảm Tuỷ giác sống TK hỗn hợp Virus tái hoạt động Thương tổn Sợi vận động rễ Thuỷ đậu trước Virus tiềm tàng Hình 2:Hình ảnh hoạt động của VZV Hình 3: Đường đi của VZV khi gây bệnh (Nguồn: 2005 Cambridge University Press) Virus sẽ theo các đầu mút của các dây thần kinh cảm giác di chuyển hướng tâm đến các hạch giao cảm và tiềm ẩn ở đó. Khi gặp điều kiện thuận lợi virus tái hoạt hóa và gây bệnh. Tổn thương Zona hay gặp nhất ở những vùng mà tổn thương thủy đậu xuất hiện với số lượng nhiều nhất, đó là nhánh mắt của dây thần kinh tam thoa, và thần kinh liên sườn ngực T1 đến thắt lưng L2 [10], [12]. Hình 4: Cơ chế sinh bệnh học của varicella zoster virus [12] 5 luan an VZV gắn với màng tế bào, cởi bỏ lớp áo protein và hợp nhất với tế bào và để DNA của virus sẽ xâm nhập vào nhân tế bào.

Tại thời điểm này, các gen tức thì sẽ được sản xuất, sau đó là gen sớm và các gen muộn. Lúc này, lớp vỏ nhân mới sẽ lại lắp ráp với DNA của virus và di chuyển ra khỏi nhân tế bào theo hình thức nảy chồi. Cuối cùng lớp áo ngoài sẽ bao lấy lớp trong, virus được vận chuyển ra khỏi tế bào [12]. Khi cơ thể suy giảm miễn dịch, VZV được tái hoạt hóa sẽ gây bệnh Zona.

Virus sẽ nhân lên tại hạch giao cảm, gây nên tình trạng thâm nhiễm và hoại tử tế bào thần kinh, là lúc bắt đầu triệu chứng đau ở bệnh nhân. Sau đó, virus di chuyển ly tâm theo dây thần kinh cảm giác, gây viêm dây thần kinh và đến da, gây tổn thương da. Tổn thương da khoanh vùng tương ứng với hạch giao cảm mà virus tiềm ẩn [13]. VZV gây tổn thương các tế bào thần kinh cảm giác tại vùng da bị bệnh, bám vào những sợi thần kinh có Myelin đường kính lớn, làm hủy bao Myelin, gây tổn thương đường dẫn truyền cảm giác vào của xung động thần kinh.

Như vậy triệu chứng đau trong và sau Zona là do căn nguyên thần kinh. Số lượng VZV trong giai đoạn tiềm ẩn phản ánh mức độ nhiễm virus tiên phát. Từ khi một người nhiễm virus đến cuối đời, số lượng virus tiềm ẩn luôn chịu tác động bởi các yếu tố ngoại lai, ví dụ do tiếp xúc với trẻ bị thủy đậu và với người bị Zona, hoặc do sự tái hoạt hóa VZV từng đợt [14]. Cơ chế bệnh sinh của đau Triệu chứng đau là do tổn thương thần kinh ngoại vi và các tế bào thần kinh ở hạch giao cảm và là triệu chứng thường gặp trong bệnh Zona.

Đau có thể có trước tổn thương da và kéo dài kể cả sau khi tổn thương da đã khỏi [15]. Nhiễm trùng ngoài da càng làm tăng cảm giác đau tại chỗ. Các acid amin và neuropeptide được giải phóng trong giai đoạn tiền triệu và giai đoạn bệnh toàn phát sẽ gây tổn thương dây thần kinh cảm giác và mất kiểm soát của các neuron trung gian ở sừng sau tủy sống, gây ra sự tăng cảm và tăng đáp ứng với kích 6 luan an thích đau. Đó là hậu quả của sự phá hủy neuron do quá trình viêm và giải phóng các cytokine [13].

Các xung thần kinh từ các đầu mút trên da sẽ phát tín hiệu truyền theo các sợi C không có bao myelin (màu vàng) và các sợi A nhỏ, đến hạch thần kinh rễ sau, đến sừng sau tủy sống. Các tế bào thần kinh ở đây chịu sự ức chế của não (màu xanh) thông qua các chất trung gian hóa học như serotonin và norepinephrine. Các thuốc làm tăng hoạt tính của các amine sinh học này, như thuốc chống trầm cảm 3 vòng sẽ làm tăng sự ức chế này nên có tác dụng giảm đau. Những kích thích từ ngoại vi theo chiều hướng tâm kết hợp với đường dẫn truyền ức chế tạo thành một hệ thống liên kết với các xung từ hệ gai- đồi thị đối bên (màu cam).

Thông tin từ hệ gai - đồi thị tích hợp với thông tin từ thân và vỏ não sẽ tiếp nhận các cảm giác đau [1]. Hình 5: Cơ chế bệnh sinh của đau [1] 1. Đau sau Zona (Postherpetic Neuralgia- PHN) Đau là biến chứng hay gặp nhất của bệnh Zona, khi Zona kéo dài trên 1 tháng thì gọi là đau sau Zona [4], [6], [16]. Bệnh nhân PHN có mất các tế bào 7 luan an thần kinh (neuron) và sẹo ở hạch giao cảm và sừng sau tủy sống tương ứng với vùng da tổn thương [16].

Các tế bào thần kinh ở hạch giao cảm bị chết và các tế bào bị tổn thương thứ phát ở sừng sau tủy sống gây nên những triệu chứng thay đổi cảm giác ở bệnh nhân. Đặc điểm lâm sàng bệnh Zona 1. Giai đoạn khởi phát Thường kéo dài một vài ngày, với nhiều kiểu đau khác nhau. BN có thể cảm giác ngứa, đau nhói, bỏng rát hoặc thậm chí đau xé thịt.

Cơn đau có thể kéo dài liên tục hoặc ngắt quãng, kèm theo tăng cảm ở vùng da sắp mọc tổn thương. Trong vòng 48-72 giờ sau đó, mảng viêm đỏ và mụn nước sẽ nhanh chóng xuất hiện. Các triệu chứng báo trước thường không rõ ở ở người dưới 30 tuổi, nhưng rất hay gặp ở người trên 60 tuổi [1]. Một số bệnh nhân có triệu chứng đau khoanh vùng thần kinh nhưng không có tổn thương da gọi là Zona không có mụn nước (Zona sine herpete) [17].

Giai đoạn toàn phát - Tổn thương cơ bản: Mảng da viêm đỏ, trên đó xuất hiện các mụn nước (1-2 mm), các bọng nước (1-2 cm), mọc thành từng chùm dọc theo đường dây thần kinh chi phối, dừng lại ở đường giữa cơ thể. Mụn nước hình thành trong 12-24 tiếng và tiếp tục xuất hiện trong vòng từ 1-4 ngày ở người bình thường, lúc đầu trong, căng, sau đục dần, có thể có dịch máu, dịch mủ. Người già, các mụn nước hình thành chậm, còn ở trẻ em tổn thương thường nhẹ và nhanh hơn. Hình 6: Hình ảnh lâm sàng tổn thương Zona.

8 luan an - Triệu chứng cơ năng: Triệu chứng đau xuất hiện sớm, trước tổn thương da, luôn thay đổi trong suốt thời gian tiến triển của bệnh và thậm chí còn kéo dài ở một số bệnh nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Triệu chứng đau phụ thuộc rất nhiều vào tuổi của người bệnh, vào diện tổn thương và vào thời điểm điều trị. Ở người trẻ thường đau ít. Nhưng ở người lớn tuổi (trên 50 tuổi) thì thường đau nhiều và kéo dài kể cả sau khi tổn thương ngoài da đã liền sẹo.

Các thể lâm sàng 1. Theo vị trí tổn thương - Zona liên sườn và ngực, bụng: Tổn thương sắp xếp theo dây thần kinh liên sườn. Hay gặp nhất là dây thần kinh ở khu vực T3 đến L3 [1]. - Zona ngực, cánh tay: Tổn thương sắp xếp ở phần trên ngực và chạy dọc theo mặt trong cánh tay [19].

- Zona cổ, cổ gáy, cổ cánh tay: Zona vùng này có thể gây yếu cơ hoành. - Zona đầu, mặt: Liệt dây thần kinh mặt thường gặp do Zona dây thần kinh số III, IV và VI. Zona dây VII gây liệt cùng bên với tổn thương da. Tổn thương ở lưỡi thường do tổn thương dây VII và gây mất vị giác.

Tổn thương nhánh II hoặc III của dây thần kinh V kèm theo có tổn thương trong khoang miệng. - Zona mắt: Zona mắt chiếm từ 10-25% các trường hợp [20]. Nếu không được điều trị thích hợp có thể gây viêm nhãn cầu mãn tính và giảm thị lực. - Tổn thương Zona nhánh hàm trên và hàm dưới của dây tam thoa có thể gây hoại tử xương và gây rụng răng [19].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hiệu quả của điện châm và acyclovir trong điều trị bệnh zona" của tác giả Vũ Ngọc Vương, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Viết Dự, được thực hiện tại Viện Y học cổ truyền quân đội vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp điện châm kết hợp với acyclovir trong điều trị bệnh zona, một căn bệnh gây ra bởi virus varicella-zoster. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả điều trị mà còn mở ra hướng đi mới trong việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, mang lại lợi ích cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu trong lĩnh vực y học cổ truyền, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Tác dụng của điện châm huyệt giáp tích L5 trong điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống", nơi nghiên cứu về tác dụng của điện châm trong điều trị đau lưng, và "Nghiên cứu miễn dịch và hiệu quả hỗ trợ điều trị bệnh zona bằng kem lô hội AL04", cung cấp cái nhìn về các phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh zona. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị trong y học cổ truyền và hiện đại.