Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hành vi ngôn ngữ và hành vi cảm thán ở việt Nam và trên thế giới 1. Về hành vi cảm thán và câu cảm thán Từ cuối những năm 80 trở lại đây, ở Việt Nam vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi cảm thán nói riêng đã được đưa vào giảng dạy trong các trường học.
Cảm thán trở thành vấn đề ngữ dụng quen thuộc. Câu cảm thán là một trong bốn kiểu câu phân theo mục đích nói năng: Câu tường thuật, Câu nghi vấn, Câu cảm thán và Câu cầu khiến. Việc phân chia như trên được đề cập nhiều trong các tác phẩm nghiên cứu về ngữ pháp học và cả trong ngữ dụng học. Đó là các công trình: Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân; Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, phần viết về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu; Dụng học Việt Ngữ của Nguyễn Thiện Giáp… Ngoài ra có nhiều bài nghiên cứu về từ cảm thán, câu cảm thán như: Sắc thái cảm thán qua một số từ cảm thán trong tiếng Việt và ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt thực hành (Tạp chí Khoa học - KHXH - ĐHQGHN, số 6/1999); Một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2003, Hà Nội).
Đặc biệt là luận án Tiến sĩ Câu cảm thán trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2004 nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, đặc điểm về hình thức của câu cảm thán trong tiếng Việt, nghiên cứu câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng để nêu lên được các giá trị cơ bản của câu cảm thán trong tiếng Việt, giúp hiểu thấu đáo các nét sắc thái cảm thán được thể hiện trong câu cảm thán và tầm tác động của câu cảm thán trong hành chức. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về hành vi cảm thán chưa nhiều. Theo tìm hiểu của chúng tôi có những công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Hà Thị Hải Yến, Phạm Kim Thoa, Phạm Thanh Vân, Nguyễn Thị Việt Lê và Bạch Quỳnh Hoa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hải Yến (2004): Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt.
Luận án đã nghiên cứu hành vi cảm thán, sự kiện, lời nói cảm thán trong hội thoại, cụ thể là trong cặp thoại, đoạn thoại và trong một số hình thức hội thoại đặc biệt như lời than khóc trong lễ tang, nhật kí, điếu văn, văn tế. Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu về hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng Việt. Luận án đã xây dựng định nghĩa về hành vi cảm thán, sự kiện lời nói cảm thán; chỉ ra được biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi của hành vi cảm thán trong sự kiện lời nói cảm thán, phân loại hành vi cảm thán, đồng thời đưa ra cấu trúc hình thức của sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt. Qua đó, luận án khẳng định vị trí, vai trò của hành vi cảm thán, sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng Việt.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Kim Thoa: Hành vi cảm thán trong Truyện Kiều (2009) đã chỉ ra các đặc trưng của hành vi cảm thán và tác dụng của hành vi cảm thán trong truyện Kiều. Từ đó tác giả tìm hiểu sâu thêm về vai trò của hành vi cảm thán trong việc xây dựng hình tượng nhân vật và thể hiện thái độ của tác gia Nguyễn Du. Luận văn đã mở ra một hướng nghiên cứu tác phẩm Truyện Kiều dưới góc độ ngữ dụng học. Luận văn thạc sĩ Hành động cảm thán trong tiếng Việt (2010) của tác giả Phạm Thanh Vân đã tiếp nhận và vận dụng những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học về vấn đề cảm thán, từ đó đặc trưng hóa các phương thức thể hiện hành động cảm thán trong tiếng Việt.
Đó là: phương thức thể hiện trực tiếp và phương thức thể hiện gián tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt. Luận văn thạc sĩ Hành vi cảm thán trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (2013) của tác giả Nguyễn Thị Việt Lê đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại để nghiên cứu các phương tiện biểu thị hành vi cảm thán, các loại hành vi cảm thán và chức năng của hành vi cảm thán trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Luận văn Hành vi cảm thán trong truyện ngắn Nguyễn thị Thu Huệ (2015) của tác giả Bạch Quỳnh Hoa đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại để nghiên cứu các phương tiện biểu thị hành vi cảm thán, các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại hành vi cảm thán và chức năng của hành vi cảm thán trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ. Trên đây là một số công trình nghiên cứu về hành vi cảm thán và câu cảm thán mà chúng tôi đã biết đến.
Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh Cho đến nay đã có một số công trình tìm hiểu, đánh giá nội dung - hình thức biểu hiện trong truyện thiếu nhi Nguyễn Nhật Ánh nhưng chủ yếu là đặc điểm chung, hoặc các bài nghiên cứu, đánh giá về truyện thiếu nhi này chỉ nằm xen kẽ trong nhận định cụ thể. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới từ góc độ văn học, chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ mà cụ thể là hành vi cảm thán trong tác phẩm của Nguyễn Nhật ánh. Như vậy căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về hành vi cảm thán và về tác giả Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi chọn đề tài: “Hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh”. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ 1.1 Khái niệm “hành vi ngôn ngữ” Nghiên cứu ngữ dụng học không thể không nhắc đến các hành động ngôn ngữ.
Có thể hiểu hành động ngôn ngữ hay hành vi ngôn ngữ là loại hành động đặc biệt mà phương tiện biểu hiện chính là ngôn ngữ, chúng được thực hiện khi ta nói năng. Theo các nhà nghiên cứu, người đầu tiên đặt nền móng cho lí thuyết về hành vi ngôn ngữ là J.L Austin một - nhà triết học người Anh. Công trình nghiên cứu của ông về hành vi ngôn ngữ đã được tổng hợp trong cuốn How to do things with word (Hành động như thế nào bằng lời nói) và sau này đã được phát triển bởi nhà triết học J. Searle với công trình Speech Acts.
Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, nghiên cứu về ngữ dụng học mà đặc biệt là vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Theo đó khi định nghĩa về “hành vi ngôn ngữ” 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày một số khái niệm như sau: Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [8; 88]. Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này.
Xảy ra hiện tượng đó vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất xã hội, được ước chế bởi xã hội” [13; 220]. Còn theo Nguyễn Thiện Giáp, ông gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ và cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ. Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [15; 337-338]. “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, đã định nghĩa hành vi ngôn ngữ là: "Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [46; 107].
Như vậy, có thể khẳng định “hành vi ngôn ngữ” chính là một hành động sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội. Các loại hành vi ngôn ngữ J.L Austin c h i a hành động ngôn ngữ thành ba loại hành vi lớn là acte locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hành vi tạo lời.
Là hành động nói tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nội dung mệnh đề (nội dung phán đoán) trong lời. Từ đó ý nghĩa của lời được xác lập. Đây là phần ý nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề. Hành vi mượn lời Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói.
Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúc động, yên tâm, bực mình, phấn khởi.), trong hành động vật lý có thể quan sát được gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh. Hành vi ở lời Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngôn ngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận. Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung) như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung. Đích ngôn trung và lực ngôn trung đều được dùng làm tiêu chí nhận diện hành động ngôn trung bởi vì cùng một mục đích ngôn trung lại có thể được thực hiện bằng những lời mang lực ngôn trung khác nhau.