Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ 1.1 Hành vi ngôn ngữ Trong đời sống hằng ngày con người thực hiện nhiều hành động (hành vi) khác nhau, được chia ra làm hai loại cơ bản là hành động vật lí như: đi, đứng, quét nhà, nấu nướng, viết, đóng bàn,.Và hành động tinh thần như: suy nghĩ, tư duy, lo lắng,. Trong số các hành động của con người có một loại hành động đặc biệt được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ, đó là hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ, hành động nói). Năm 1955, tai trường đại học tổng hợp Harvard Mĩ J.L Austin, nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề.
Nói về vấn đề hành động bằng lời nói như thế nào. Đến năm 1962, các chuyên đề này được tập hợp lại và xuất bản thành sách với nhan đề How to do things with words. Có thể xem công trình của J.L Austin là nền tảng cho việc nghiên cứu và phát triển hành vi ngôn ngữ. Không giống với các nhà lôgic và nhà ngôn ngữ học cùng thời chỉ quan tâm đến những câu khảo nghiệm xem chúng là đối tượng nghiên cứu cơ bản, với việc đánh giá về mặt ngữ nghĩa của câu theo tiêu chuẩn lôgic đúng – sai.L Austin nhận thấy có những phát ngôn khác, mặc dù rất giống với phát ngôn khảo nghiệm (constatifs) về mặt hình thức nhưng không thể đánh giá nội dụng theo tiêu chuẩn đúng – sai lôgic.
Ví dụ: Trời ơi! Bây giờ là mấy giờ rồi? Tôi cá với anh là Việt Nam sẽ vô địch! Theo tiêu chuẩn lôgic đúng – sai chúng được xem là những câu giả – khẳng định hoặc những câu vô nghĩa.L Austin cho rằng những phát ngôn này không phải là phát ngôn giả – khẳng định, cũng không vô nghĩa. e 8 Những phát ngôn này được phát ngôn ra nhằm làm một việc gì đó như để hỏi, để bộc lộ cảm xúc, để cá cược. của người nói.L Austin gọi những phát ngôn như vậy là phát ngôn ngữ vi (performatives, performatifs). Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi chúng ta nói chúng ra cũng chính là chúng ta đang thực hiện việc được biểu thị trong phát ngôn.
Nhờ phân biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi, J.L Austin đã phát hiện ra bản chất hành động của ngôn ngữ. Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, Chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt bằng một phương tiện đặc biệt đó là ngôn ngữ.L Austin, hành vi ngôn ngữ có ba loại lớn (Theo cách dịch của tác giả Đỗ Hữu Châu): hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire), hành vi ở lời (acte illocutoire). Hành vi tạo lời (acte locutoire): là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu. để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung [8, tr.
Để thực hiện các hành vi tạo lời thì bản thân người nói phải nắm chắc được hình thức và ý nghĩa của các yếu tố của ngôn ngữ (từ vựng, cú pháp). Hành vi mượn lời (acte perlocutoire): là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói [8, tr. Sẽ có rất nhiều hiệu quả khác nhau ở các nhân vật giao tiếp khác nhau. Vì hiệu quả giao tiếp còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc điểm của từng nhân vật giao tiếp như: nghề nghiệp, tâm lí, quê quán, xã hội,.Nên hiệu quả của hành vi mượn lời là không thể tính hết được.
Ví dụ: Khi nghe dự báo thời tiết “ngày mai sẽ có mưa to”. Người đi làm bằng xe máy và ở xa cơ quan sẽ có thái độ không vui. Còn người ở gần cơ quan và đi làm bằng xe ô tô có thể sẽ cảm thấy vui vì cuối cùng trời cũng đã e 9 dễ chịu hơn. Người nông dân sẽ cảm thấy hạnh phúc vì vụ mùa bao ngày khô hạn cuối cùng cũng đã được tưới tắm.
Nhưng các bác thợ xây sẽ cảm thấy rất bực tức vì sẽ không thể làm việc vì trời mưa. Hành vi ở lời (acte illocutoire): Là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu lực của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [8, tr. Trong hoạt động giao tiếp bình thường, các phát ngôn kế tiếp nhau của các nhân vật giao tiếp không chỉ liên kết với nhau về nội dung giao tiếp mà còn phải liên kết với nhau về hành vi ở lời.
Trong quá trình giao tiếp các nhân vật giao tiếp luân phiên thực hiện các hành vi ở lời. Chuỗi các hành vi ở lời trong giao tiếp có tính quy ước mà quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận và tuân theo. Ví dụ: Hành động hỏi, yêu cầu hay ra lệnh sẽ đòi hỏi một hành động nào đó được thực hiện. Nếu người nghe không thực hiện sẽ bị coi là thiếu lịch sự, nó trở thành một nguyên tắc giao tiếp bất thành văn trong công đồng xã hội.
SP1: Mấy giờ rồi Lan? SP2: Tám giờ rồi. Ducrot, hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ “Chúng ta có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Chúng đặt người nói và người nghe vào nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó” [8, tr. 90] Ví dụ, khi ra lệnh cho ai đó, chúng ta phải chịu trách nhiệm về các lệnh của mình và đặt ngay người nghe vào tình trạng phải thực hiện (hay không thực hiện, nếu không thực hiện thì ít ra là cảm thấy áy náy) lệnh của chúng ta.
Việc phát hiện ra hành vi ở lời là một thành tựu mới, một đóng góp vô cùng quan trọng của J.L Austin trong việc nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp. Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có tính quy ước và có thể chế dù những quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy e 10 tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Vì vậy, nắm được ngôn ngữ, chúng ta không chỉ nắm được âm, từ ngữ, câu. mà còn nắm được quy tắc điều khiển hành vi ở lời của ngôn ngữ đó.
Chính là chúng ta nắm được các quy tắc để có thể thực hiện các hành vi như chào, mời, hứa, hỏi, xin,. phù hợp với ngữ cảnh, đúng lúc, đúng chỗ để hành vi nói ra đạt hiệu quả cao nhất.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ Các hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong thực tiễn giao tiếp vô cùng phong phú và đa dạng. Việc phân loại các hành vi ngôn ngữ trong truyền thống nghiên cứu ngữ dụng học gặp không ít khó khăn, có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không thể phân loại được các hành vi ngôn ngữ. Hiện nay vẫn chưa đi đến được thống nhất trong việc phân loại các hành vi ngôn ngữ, vẫn còn tồn tại rất nhiều cách phân loại khác nhau.
Trong đó có hai cách phân loại tiêu biểu và có phần đầy đủ nhất, là cách phân loại của Austin và Searle. Trong luận văn này chúng tôi chọn cách phân loại của Austin và Searle làm cơ sở nghiên cứu.L Austin, Wittgenstein đã nói tới các hành vi ngôn ngữ với thuật ngữ trò chơi ngôn ngữ. Ông đã liệt kê hàng loạt hành vi ngôn ngữ nhưng ông lại cho rằng không thể phân loại được chúng. Dựa vào sự liệt kê các hành vi ngôn ngữ của Wittgenstein, Austin đã thử nghiệm thực hiện việc phân loại các hành vi ngôn ngữ.
Và đã phân các hành vi ngôn ngữ ra thành 5 phạm trù: + Phán xử (verditives): Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét, đánh giá về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên nhưng chứng cớ hiển nhiên hoặc những lí lẽ vững chắc như: phân tích, đánh giá, phân loại, nêu đặc điểm, miêu tả,. + Hành xử (exercitives): Đây là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lời hay chống lại một chuỗi hành động nào đó như: van xin, giới thiệu, ra lệnh, chỉ huy, khuyến cáo, đặt hàng, khẩn cầu, biện hộ, đặt tên, cảnh cáo,. e 11 + Cam kết (commissives): Là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi những hành động nhất định như: đảm bảo, thề nguyền, hứa hẹn, giao ước,. + Trình bày (expositives): Là những hành vi dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như: phủ định, khẳng định, nhân nhượng, phản bác, trả lời, chối, báo cáo,.
+ Ứng xử (behabitives): Đây là những hành vi phản ứng cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với các hành vi hay số phận của người khác: cảm ơn, xin lỗi, khen ngợi, chào mừng, thách thức, phê phán, ban phước, nguyền rủa, nghi ngờ,. Bảng phân loại của Austin về cơ bản là phân loại từ vựng các động từ ngữ vi. Nhưng chính Austin lại nhận thấy rằng bảng phân loại của mình còn nhiều thiếu sót, chưa được hoàn thiện. Tiếp sau Austin cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu khác đi theo hướng phân loại của ông như Vendler (1972), Ballmer và Brennenstuhl (1981) hay Weirzbicka (1987).
Các nhà nghiên cứu này đã kế thừa và bổ sung vào bảng phân loại của Austin, Vendler đã thêm hai phạm trù mới đó là phạm trù thao tác và phạm trù nghi vấn, Ballmer và Brennenstuhl đã tập hợp 4.800 động từ nói năng chia thành 600 nhóm thuộc 24 kiểu phân phối trong 8 phạm trù, Weirzbicka đã dùng ngôn ngữ ngữ nghĩa do chính mình tạo nên để giải nghĩa 270 động từ nói năng sau đó quy chúng về 37 nhóm. Đến Searle, ông đã chỉ ra được những hạn chế trong phân loại các động từ ngữ vi của Austin. Searle cho rằng Austin vì không định ra các tiêu chí phân loại nên dẫn đến kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau. Ông cho rằng trước tiên cần phải đi phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng.
Searle đã đưa ra 12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ dùng làm tiêu chí phân loại như sau: e 12 + Đích ở lời (the point of the illocution): một miêu tả phải hướng tới sự cung cấp một sự diễn biến sự vật vốn có của nó. + Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến (direction of fit). + Trạng thái tâm lí thể hiện (expressed psychological states).