Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài. Chương 2: Đặc điểm về nguồn gốc và đặc điểm ngữ pháp của từ Hán Việt trong văn kiện Đại hội Đảng. Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm về phong cách của từ Hán Việt trong văn kiện Đại hội Đảng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
Tiếp xúc ngôn ngữ Hán-Việt Tác giả Hồ Lê [28] cho rằng : tiếp xúc ngôn ngữ là tổng thể các mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ trong suốt một tiến trình lịch sử nhất định, thông qua vai trò của ngƣời song ngữ, ngƣời lƣỡng ngữ, bao gồm từ các quan hệ so sánh đối chiếu trong giai đoạn nhận thức- tiếp xúc đến các giai đoạn tác động- chịu tác động hoặc các quan hệ tƣơng tác giữa hai ngôn ngữ trong giai đoạn thực hành tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá Hán-Việt là quá trình tiếp xúc lâu dài và sâu đậm nhất trong lịch sử nƣớc ta. Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, các nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ Hán- Việt có quá trình tiếp xúc bắt đầu cách đây gần 2000 năm. Kết quả của quá trình tiếp xúc lâu dài ấy là trong tiếng Việt, cho đến tận ngày nay, vẫn đang tồn tại một số lƣợng rất lớn các từ Hán Việt.
Hệ thống các từ Hán Việt này đƣợc sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống: từ kinh tế chính trị đến văn hóa, xã hội. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến vay mƣợn từ ngữ Hán vào tiếng Việt diễn ra vô cùng phức tạp. Việc mô tả và phân chia các giai đoạn tiếp xúc Hán Việt của các nhà nghiên cứu từ trƣớc tới nay cũng rất khác nhau. Có thể kể ra một số quan điểm nhƣ: a) Vƣơng Lực [29, tr.290-406] chia làm 3 giai đoạn: đầu công nguyên đến thế kỷ VII; thế kỷ VII đến thế kỷ X, thế kỷ X về sau.
b) Nguyễn Tài Cẩn [7, tr.37-40] chia làm 2 giai đoạn: từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X và từ thế kỷ X về sau (trong đó mỗi giai đoạn lại chú ý đến các mốc có thể phân chia thành các khúc đoạn nhỏ hơn: thế kỷ VII và thế kỷ XIII). c) Tác giả Nguyễn Văn Khang [24, tr.65-73] lấy mốc sự kiện lịch sử là chiến thắng của Ngô Quyền trƣớc quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 và sự ra đời của nƣớc Đại Việt độc lập làm ranh giới phân chia quá trình 8 tiếp xúc Hán - Việt. Quan điểm này phù hợp với cách nhìn của các nhà sử học, coi thế kỉ X là "cái mốc vừa đánh dấu nhƣng cũng vừa là để phân đôi lịch sử Việt Nam thành hai giai đoạn": trƣớc và sau thế kỉ X. d) Lƣơng Văn Kế [21, tr.27-30] lại chia làm 4 giai đoạn: từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X; thế kỷ X đến thế kỷ XV; thế kỷ XV đến thế kỷ XX; từ đầu thế kỷ XX về sau.
Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhận quan điểm phân chia qúa trình tiếp xúc Hán - Việt thành 4 giai đoạn. Theo Lƣơng Văn Kế, sự tiếp xúc ngôn ngữ có thể diễn ra theo 2 phƣơng thức. Phƣơng thức thứ nhất là sự cọ xát trực tiếp của hai cộng đồng dân cƣ thông qua quá trình cộng cƣ, giao lƣu buôn bán; hoặc là tiếp xúc gián tiếp qua sách vở, thƣ tịch, qua những đại diện của cƣ dân là giới trí thức tiếp thu văn hoá Hán. Phƣơng thức thứ hai là phƣơng thức vay mƣợn.
Sự vay mƣợn có thể là phi hệ thống, lẻ tẻ, rời rạc; hoặc là có hệ thống, nhằm tiếp thu một cách tổng thể những tri thức cơ bản. Hai bình diện tiếp xúc trực tiếp và vay mƣợn có hệ thống này là có tƣơng quan nhƣng không đồng nhất với nhau. Các giai đoạn tiếp xúc Hán – Việt nhƣ sau: + Giai đoạn 1: Từ đầu Công nguyên đến thế kỷ X. Khi Việt Nam chƣa giành đƣợc độc lập, chính quyền còn nằm trong tay nhà nƣớc đô hộ, nhu cầu xây dựng, phát triển đất nƣớc về mọi mặt là chƣa thực sự bức thiết.
Suốt gần một thiên niên kỷ, ông cha ta chủ yếu dồn hết trí lực vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngƣời Việt Nam chƣa sẵn sàng tiếp thu ngôn ngữ, văn hoá Trung Quốc. + Giai đoạn 2: Thế kỷ X đến thế kỷ XV. Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lập nên nhà nƣớc phong kiến độc lập, có chủ quyền đầu tiên ở nƣớc ta.
Những tri thức cơ bản về xây dựng một nhà nƣớc phong kiến tập quyền, phát triển về mọi mặt là nột nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi giai cấp thống trị phải tìm kiếm, học tập ở các nƣớc tiên tiến xung quanh, mà hơn hết là Trung Quốc. 9 + Giai đoạn 3: Thế kỷ XV đến thế kỷ XX. Tuy ở giai đoạn 2, ngƣời Việt đã vay mƣợn những tri thức văn hoá trong đó có ngôn ngữ Trung Quốc một cách tổng thể và có hệ thống. Cho đến thế kỷ XV, mặc dù từ vựng tiếng Vịêt đã tƣơng đối phong phú, ổn định, những tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ vẫn tiếp tục diễn ra một cách gián tiếp nhƣng ở quy mô nhỏ và lẻ tẻ.
+ Giai đoạn 4: Từ đầu thế kỷ XX về sau. Sang thế kỷ XX, Việt Nam và Trung Quốc đứng trong bối cảnh chung bị đế quốc phƣơng Tây xâm lƣợc. Cả hai nƣớc đều có nhu cầu tự giải phóng mình, xây dựng nhà nƣớc độc lập dân chủ. Điều đó đòi hỏi phải trang bị một hệ thống lý luận, những khối kiến thức kinh tế, triết học, khoa học kỹ thuật du nhập từ phƣơng Tây.
Những từ ngữ, khái niệm mới thuộc các lĩnh vực trên đã du nhập qua Trung Quốc, Nhật Bản. bằng tiếng Hán và một lần nữa chuyển qua Việt Nam. Một đặc điểm quan trọng của quá trình tiếp xúc Hán - Việt là các giai đoạn làm tiền đề cho nhau, giai đoạn sau có kế thừa giai đoạn trƣớc.Nhƣ vậy, mỗi một giai đoạn tiếp xúc đều đem lại những kết quả khác nhau, diễn ra theo một cách thức khác nhau, tạo thành những đặc trƣng riêng của từng loại yếu tố và từ Hán Việt. Có nhiều nhân tố tác động đến quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt trong đó phải kể đến các nhân tố xã hội và ngôn ngữ.
Về nhân tố xã hội, trƣớc hết cần phải kể đến sự ảnh hƣởng của nhân tố địa lý: một điều tự nhiên là các quốc gia gần gũi nhau về địa lý thƣờng có điều kiện để có sự tiếp xúc ngôn ngữ. Việt Nam và Trung Quốc là hai nƣớc láng giềng có đƣờng biên giới dài giáp ranh nhau nên ngƣời dân của hai nƣớc đã mƣợn ngôn ngữ của nhau để giao tiếp. Do đó, trong tiếng Việt có số lƣợng từ Hán Việt không nhỏ. Chính trị, kinh tế cũng là nhân tố có ảnh hƣởng đến sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt.
Ngôn ngữ của các cộng đồng có nền chính trị, kinh tế lớn luôn ảnh hƣởng đến ngôn ngữ cộng đồng có nền kinh tế, chính trị thấp hơn.000 năm phong kiến phƣơng Bắc đô hộ nƣớc ta, tiếng Việt đã xuất hiện rất nhiều từ gốc Hán. Tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt còn diễn ra do tác động của nhân 10 tố văn hóa. Việt Nam và Trung Quốc có nền văn hoá với những nét khá tƣơng đồng. Phần lớn những từ diễn đạt văn hóa của ngƣời Hán đã đi vào ngôn ngữ tiếng Việt để tạo thành từ Hán Việt và hình thành sự ổn định với dung lƣợng khá nhiều.
Về nhân tố ngôn ngữ: Các ngôn ngữ có cùng một loại hình dễ vay mƣợn của nhau. Tiếng Việt và tiếng Hán là ngôn ngữ cùng loại hình (đơn lập: âm tiết tính, có thanh điệu, phƣơng tiện ngữ pháp đƣợc biểu thị ở ngoài từ) nên dễ vay mƣợn để hình thành nên từ Hán Việt. Cách đọc Hán Việt Henri Maspéro là ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm “Hán Việt”. Ông đã nghiên cứu, khảo sát sự tƣơng ứng âm đầu và thanh điệu giữa tiếng Hán trung cổ với tiếng Hán Việt nhằm chứng minh âm Hán Việt đƣợc phát triển trên cơ sở của hệ thống ngữ âm phƣơng ngữ Trƣờng An (kinh đô nhà Đƣờng) thế kỉ IX-X.
Tác giả Vƣơng Lực (1958) lại dùng thuật ngữ “Hán Việt ngữ”, trong đó chia làm ba loại: Cổ Hán Việt ngữ, Hán Việt ngữ và Hán Việt Việt hóa. Hiểu một cách đơn giản nhất cách đọc Hán Việt là lối đọc chữ Hán của ngƣời Việt Nam. Nhƣng đó là cách đọc vốn bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đƣờng vào khoảng thế kỷ VIII, IX. Nguyễn Tài Cẩn là nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đặt mốc quan trọng cho nghiên cứu cách đọc Hán Việt.
Trong chuyên luận Nguồn gốc hình thành cách đọc Hán Việt, tác giả đã lí giải một cách cặn kẽ các giai đoạn tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt dẫn đến các lớp từ mƣợn Hán du nhập vào tiếng Việt với các vỏ ngữ âm khác nhau. Mốc thời gian quan trọng phân kì tiếp xúc Hán Việt chính là thế kỉ X, khi nƣớc Việt giành đƣợc độc lập, kết thúc một nghìn năm Bắc thuộc. Những chữ Hán đƣợc mƣợn vào tiếng Việt từ đời Đƣờng trở về trƣớc đƣợc đọc theo âm Hán cổ. Sau thế kỉ X, ngƣời Hán rút về phƣơng Bắc.
Những chữ Hán cùng với âm đọc là ngữ âm đời Đƣờng còn ở lại. Ngƣời Việt sử dụng âm đọc đó để đọc chữ Hán mãi về sau này. Cách đọc đó gọi là cách đọc Hán Việt. Ông cho biết “nguồn gốc, xuất phát điểm của cách đọc Hán Việt hiện 11 nay chính là hệ thống ngữ âm tiếng Hán dạy lần cuối cùng ở Giao Châu, trƣớc khi Việt Nam đứng lên giành đƣợc hoàn toàn độc lập” [7, tr.
Nghĩa là, cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đƣờng, theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán mà cụ thể là hệ thống Đƣờng âm dạy ở Giao Châu (khoảng thế kỉ thứ 8 10). Hiểu một cách đơn giản nhất là nói đến cách đọc Hán Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà ngƣời Việt Nam gán cho hệ thống văn tự Hán, bất luận những chữ đó là chữ gì. Khái niệm Về khái niệm từ Hán Việt, hiện có nhiều quan niệm khác nhau. Cụ thể nhƣ sau: Theo nhóm tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến thì: “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn 2 (từ đời Đƣờng trở về sau) mà ngƣời Việt đã đọc âm chuẩn (Trƣờng An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [13, tr214].