phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc triển khai trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề về lời văn nghệ thuật và hành trình sáng tác cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh Chƣơng 2: Các nguyên tắc tổ chức lời văn nghệ thuật trong sáng tác viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh Chƣơng 3: Phƣơng tiện, biện pháp tổ chức lời văn nghệ thuật trong sáng tác viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh. 8 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỜI VĂN NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 1. Lí luận chung về lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học 1. Khái niệm lời văn nghệ thuật Văn học là một loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu sáng tác.
Nhà văn truyền tải nội dung, tƣ tƣởng, thông điệp qua tác phẩm văn học bằng ngôn từ. Chính vì lẽ đó mà tác phẩm văn học đƣợc coi là một sản phẩm nghệ thuật ngôn từ. Theo các tác giả cuốn Lí luận văn học: “Mọi tác phẩm văn học đều được viết hoặc kể bằng lời, gọi chung là lời văn. Lời văn thực chất cũng là một dạng của ngôn từ nhưng đã được tổ chức theo quy luật nghệ thuật về nội dung, phương pháp, phong cách của tác giả, thể loại tác phẩm” [32; tr.
Do đó, lời văn nghệ thuật là một phƣơng diện đƣợc quan tâm khi nghiên cứu một tác phẩm văn học hay phong cách sáng tác của tác giả. Để hiểu và làm sáng rõ về lời văn nghệ thuật thì điều trƣớc tiên là phải phân biệt khái niệm lời văn nghệ thuật với ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn học, ngôn từ nghệ thuật, trong một số trƣờng hợp chúng có thể thay thế đƣợc cho nhau, nhƣng chúng thực sự không giống nhau. Ngôn ngữ nghệ thuật là “hệ thống các phƣơng thức, phƣơng tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật”[32;tr. Đây là một thuật ngữ đƣợc thƣờng xuyên sử dụng trong các ngành nghệ thuật.
Trong các sáng tác của mình, nhà văn thƣờng dùng ngôn từ nhƣ một chất liệu để xây nên hình tƣợng nghệ thuật, đây cũng chính là một cơ sở để chúng ta có thể phân biệt tác phẩm văn học với các loại hình nghệ thuật khác. Xét về mặt bản chất, ngôn từ có khả năng biểu hiện “nhiều mặt của một hình tƣợng chủ thể lời nói”[32;tr.185] nhƣ địa vị xã hội, giới tính hay là quan điểm sống. Ngôn từ “là ngôn ngữ trong vận động, tức là lời nói đƣợc thể hiện qua các chủ thể phát ngôn khác nhau”[18;tr.185], tạo nên khả năng nghệ thuật của 9 ngôn từ. Nghệ thuật của ngôn từ và ngôn từ nghệ thuật không thực sự hoàn toàn đồng nhất.
Khái niệm ngôn từ nghệ thuật đƣợc đƣa ra để phân biệt với ngôn từ trong đời sống xã hội, ngôn từ nghệ thuật là chất liệu đƣợc nhà văn sáng tạo, tổ chức có dụng ý để xây dựng hình tƣợng nhằm phản ánh đời sống và thể hiện tƣ tƣởng, quan điểm của mình. Đó là ngôn ngữ toàn dân và đƣợc nghệ thuật hóa. Ngôn từ nghệ thuật vốn là kết quả của những biện pháp tu từ cùng những quy tắc tổ chức lời văn, nhằm góp phần bộc lộ những giá trị tƣ tƣởng - thẩm mĩ trong một tác phẩm cụ thể. Khi nói tới ngôn từ nghệ thuật là nói tới một hệ thống các phƣơng thức, phƣơng tiện tạo hình, biểu hiện hệ thống quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật, còn nói tới nghệ thuật ngôn từ là nhấn mạnh toàn bộ khả năng, đặc điểm của một kênh liên hệ mà văn học sử dụng.
Trong sáng tác văn chƣơng, chức năng thẩm mỹ của ngôn từ toàn dân đƣợc nghệ thuật hóa, bên cạnh đó, chức năng thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật cũng đƣợc đặc biệt chú ý. Chức năng thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật chính là việc sáng tạo ra thực tại nghệ thuật, khách thể thẩm mĩ, đồng thời sáng tạo ra bản thân các hình tƣợng ngôn từ, các biểu tƣợng nghệ thuật, các hình thức lời thơ, lời văn xuôi nghệ thuật để phục vụ nhu cầu giao tiếp nghệ thuật của nhà văn với độc giả. Nhƣ vậy, nếu nhƣ ngôn từ nghệ thuật là chất liệu thì lời văn nghệ thuật chính là thành quả trong một quá trình lao động sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ. Khái niệm lời văn nghệ thuật hẹp hơn so với ngôn từ nghệ thuật.
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, lời văn nghệ thuật là “dạng phát ngôn được tổ chức một cách nghệ thuật, tạo thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật”[22;tr. Để hiểu đƣợc lời văn nghệ thuật thì cần phải đặt nó trong toàn bộ ngữ cảnh mà văn bản nghệ thuật đó tồn tại. Có thể xem văn học là nghệ thuật diễn ngôn. Lời văn nghệ thuật là một chính thể nghệ thuật đƣợc cấu thành bởi một hoặc nhiều thành phần diễn ngôn.
Các thành phần diễn ngôn trong một tác phẩm văn học nhƣ diễn ngôn thơ, diễn ngôn văn xuôi, diễn ngôn trần thuật, diễn ngôn thoại (đối thoại - độc thoại) đều đƣợc xem là bộ phận của lời văn nghệ thuật. Nghiên cứu lời văn 10 nghệ thuật trên toàn bộ hệ thống diễn ngôn sẽ cho ta thấy đƣợc mối quan hệ giữa văn học và tính thẩm mĩ nghệ thuật. Lời văn nghệ thuật thực chất là lời nói tự nhiên đƣợc nhà văn tổ chức theo quy luật nghệ thuật và nó là bộ phận cơ bản để tạo nên văn bản ngôn từ. Có thể khẳng định lời nói là sản phẩm của cá nhân, là sự vận dụng kho tàng ngôn ngữ của từng ngƣời trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Ngôn từ trong tác phẩm là một kiểu lời nói (lời văn) nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên cơ sở sản phẩm xã hội mà nhà văn tiếp thu đƣợc. Lời văn nghệ thuật chính là đối tƣợng của sự tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học. Lời văn nghệ thuật có tính hình tƣợng, tính gợi cảm, tính chính xác, tính hàm súc. Đặc trƣng thứ nhất của lời văn nghệ thuật là tính hình tƣợng.
Tính chất này đƣợc thể hiện từ trong nội dung của lời nói. Trong lời văn, địa vị cao thấp, tình trạng giàu nghèo của tác giả phần nhiều không đóng vai trò quyết định. Ở đây, “lời văn là lời của một chủ thể hình tượng và sức mạnh của lời văn nằm ở tầm vóc khái quát của chủ thể ấy, ở khả năng đại diện cho tư tưởng, lương tâm của thời đại, cho giai cấp, thế hệ, non sông, đất nước”[32;tr. Nhƣ vậy, “tính hình tượng của lời văn nghệ thuật bắt nguồn từ lời của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định.
Chính vì vậy, nó dễ dàng đi vào lòng người, trở thành lời nói của muôn đời”[32;tr. Lời văn là lời của thế giới hình tƣợng muốn tự nói lên bằng ngôn từ. Những câu văn hay bao giờ cũng làm sống dậy sự vận động, biến đổi đầy ý nghĩa của sự vật trong những thời khắc nhất định. Vậy nên, tính hình tƣợng của lời văn còn bắt nguồn từ sự truyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới đƣợc nhà văn tái hiện lại trong tác phẩm của mình.
Đặc trƣng thứ hai của lời văn nghệ thuật là có tính tổ chức cao. Đặc trƣng này của lời văn nhằm giải phóng tính hình tƣợng của từ. Trong bất kì một thể loại văn bản nào, lời văn nghệ thuật phải có tính tổ chức cao chứ không phải sự rời rạc, chắp vá. Ví nhƣ trong thơ có niêm, liên, luật, đối,.
Hay trong văn xuôi, lời văn cũng phải có sự liên kết với nhau. Sự tổ chức đặc biệt đó đã tạo nên ý ở 11 ngoài lời, ý tại ngôn ngoại, hình thành một tính hình tƣợng mới thể hiện qua từ ngữ mà trong đó, “mỗi từ đều đóng vai trò khiêu gợi một cái gì đó lớn hơn nó, tràn ra ngoài nó”[32;tr. Chẳng hạn, trong truyện Cám ơn người lớn, để diễn tả suy nghĩ của trẻ thơ về thế giới, về cuộc sống, về sự khác nhau giữa ngƣời lớn và trẻ con, Nguyễn Nhật Ánh viết: “Người lớn kiếm được bao nhiêu tiền cũng cảm thấy không đủ, vì họ có quá nhiều nhu cầu, đã thế nhu cầu nào cũng ngốn cả đống tiền. Muốn chiếc xe gắn máy, cái computer, cái điện thoại di động đời mới.
Cho nên so với trẻ con, người lớn luôn cảm thấy đau khổ. “Ôi, đời tôi sao khổ thế này!” - đó là câu người lớn hay than, từ không đủ tiền mua một tấm áo đến người thiếu một khoản tiền nhỏ để mua một ngôi nhà lớn. Trẻ con không bao giờ than như thế, vì bọn tôi chỉ cần đủ tiền mua bánh kẹo, cà rem, xi-rô.Tóm lại, trẻ con chẳng có mơ ước gì cao xa. Nhờ vậy bọn trẻ không có nhiều khổ não, thất vọng hay bất đắc chí như người lớn”[12;tr.
Với việc sử dụng một loạt các từ ngữ, phép lập luận, liên kết giữa các đoạn, Nguyễn Nhật Ánh nhƣ khiến ngƣời đọc cảm nhận rõ đƣợc suy nghĩ của con trẻ, nhận ra cái nhìn thế giới, sự việc của con trẻ khác với ngƣời lớn đến nhƣờng nào. Nhƣ vậy, sự tổ chức lời nói thành lời văn để nâng lời nói lên mức nghệ thuật, nâng ý thức hàng ngày lên mức văn học. Nó làm cho ngƣời ta cảm thụ đời sống cũng nhƣ lời văn một cách mới mẻ. Lời văn nghệ thuật có tính hàm súc, đa nghĩa.
Ngƣời thời xƣa đã dạy trong văn chƣơng hay phải đạt đƣợc ý tại ngôn ngoại có nghĩa là ý ở ngoài lời. Diễn tả nỗi nhớ của những ngƣời ở hậu phƣơng bao gồm ông bà, cha mẹ, vợ con, họ hàng, làng xóm, quê hƣơng với ngƣời con ở mặt trận, nhà thơ Chính Hữu gói gọn trong câu thơ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính (Đồng chí ). Lƣu Hiệp viết: “Cái tâm (tinh thần) làm nảy sinh lời văn”. Luận điểm này có thể hiểu rằng: lời văn trong tác phẩm văn học chính là phần hình thức của tác phẩm nó gắn bó mật thiết không thể tách rời với phần nội dung và tƣ tƣởng mà nhà văn muốn biểu đạt.
Các đặc điểm của lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học thƣờng gắn với nội dung mà nhà văn phản ánh cùng với quá trình sáng tạo 12 nghệ thuật.