Chương 1: Khái lƣợc về thi pháp văn xuôi tự sự và mảng truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tƣởng. Chương 2: Hệ thống nhân vật và tổ chức cốt truyện. Chương 3: Ngƣời kể chuyện và ngôn ngữ truyện kể. 10 z Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ THI PHÁP VĂN XUÔI TỰ SỰ VÀ MẢNG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN HUY TƢỞNG 1.
Khái lƣợc về thi pháp văn xuôi tự sự của Nguyễn Huy Tƣởng. Khái lược về thi pháp học. Trong việc định nghĩa thi pháp và thi pháp học, cũng như hầu hết các phạm trù cơ bản của khoa học nghiên cứu văn học và nhiều bộ môn của khoa học nhân văn, ta gặp phải một tình hình chung: ở trình độ phát triển hiện nay, các khoa học này chưa có khả năng đưa ra được những định nghĩa “đơn nghĩa” về đối tượng nghiên cứu của mình. Chính điều này đã liệt hầu hết khoa học nhân văn vào lớp các khoa học “chưa trưởng thành”.
Nếu như toán học hoặc vật lý học đã có thể xây dựng những định nghĩa “đúng duy nhất” về điểm, đường thẳng, vận tốc âm thanh, trị số mét,… thì ngược lại, có thể nói rằng có bao nhiêu nhà nghiên cứu về truyện kể và thi pháp văn xuôi thì có gần như bấy nhiêu định nghĩa về thể loại và về thi pháp với tư cách một phân ngành khoa học. Xét về mặt định nghĩa, “thân phận của thi pháp học không khác gì mấy so với thân phận tiểu thuyết”. Vì thế, cái dung sai mà viện sĩ M. Khrapchenco đã dành cho các định nghĩa về thi pháp học của ông lại phải cộng thêm những dung sai rất đa dạng mà mỗi người sử dụng.
Tuy nhiên, có thể nói định nghĩa của M. Khrapchenco vẫn là một trong những định nghĩa tổng quát nhất và thuyết phục nhất về thi pháp học. Ông viết: “Không hề kỳ vọng một định nghĩa thật đầy đủ, thật bao quát, tôi cho rằng có thể xác định thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu của các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [10, tr. Thi pháp học là khoa học về hình thức nghệ thuật.
Ngay luận điểm xuất phát đó đã chứa đựng một đặc trưng rất cơ bản của cách tiếp cận đối tượng 11 z trong bộ môn này. Thi pháp học cần phát hiện ra những quy luật chi phối cái thế giới hết sức đa dạng và phong phú các hiện tượng nghệ thuật. Với tư cách là một khoa học, sự tiếp cận của thi pháp học với các đối tượng của nó luôn có những xu hướng vươn đến tính hệ thống. Điều này tuyệt nhiên không phải do ngẫu hứng của các nhà nghiên cứu hay thôi thúc của thời thượng vì càng ngày tiếp cận hệ thống càng trở thành một phương pháp khoa học tiên tiến và hữu hiệu.
Tính hệ thống như là một đặc điểm cơ bản mang ý nghĩa phương pháp luận của thi pháp học có cơ sở từ trong bản thân đối tượng của khoa học này: những hiện tượng hình thức nghệ thuật. Thi pháp học có nhiệm vụ phát hiện ra những liên hệ đó dưới dạng các quy luật và trong những trường hợp sáng rõ nhất – các hệ thống. Khả năng hệ thống hóa – khả năng xây dựng và sắp xếp nhận thức trong một hệ thống, tức là một tổ chức chặt chẽ, nhất quán theo những nguyên tắc nhất định – là một đòi hỏi và một biểu hiện của sự trưởng thành khoa học. Mỗi trình độ nhận thức mới của khoa học lại được đánh dấu bởi những cấp độ mới, những tầm vóc mới của năng lực hệ thống.
Không chỉ có nhiệm vụ thống kê và mô tả đơn thuần các phương diện, các thành tố cụ thể hiện tồn của hình thức nghệ thuật. Nó còn phải nghiên cứu hình thức đó trong chức năng tổ chức và thể hiện nội dung. Đồng thời, nó cần đi ngược lên phát hiện ra những cơ sở và ảnh hưởng vô cùng phức tạp đã quy định sự lựa chọn của người nghệ sĩ, đã định hướng và dẫn dắt anh ta rốt cục đến những giải pháp hình thức cụ thể trong số vô vàn khả năng có thể có. Thi pháp học đồng thời là một kiểu “triết luận” về hình thức nghệ thuật.
Tựu trung, thi pháp học hiện thân như một khoa học về kỹ nghệ văn chương, lấy đối tượng nghiên cứu của mình không phải là văn học chung chung, mà nói như Jakobson, là “tính văn học của tác phẩm văn chương”. Nó giải thích vì sao một văn bản ngôn từ lại trở thành tác phẩm nghệ thuật. 12 z Thi pháp học phát triển theo ba hướng chính là thi pháp học quy phạm, thi pháp học lịch sử và thi pháp học cấu trúc. Căn cứ trên những thành tựu nghiên cứu về lý thuyết và kết quả ứng dụng vào khảo cứu, phê bình các hiện tượng văn học cụ thể, ngày nay chúng ta đã có một hệ thống điểm nhìn thi pháp mới, như: thi pháp thể loại, thi pháp tác giả, thi pháp tác phẩm, thi pháp trào lưu… Thi pháp học hiện đại đã khẳng định hướng nghiên cứu rất hiệu quả của nó trong lĩnh vực nghiên cứu văn xuôi tự sự.
Kết quả là tự sự học ra đời và phát triển theo xu hướng “xin ở riêng”, tách lập như một phân ngành khoa học độc lập bên cạnh thi pháp học truyền thống. Do vậy, thi pháp văn xuôi tự sự được hiểu một cách giản dị như là kỹ thuật kể, hay hệ thống thủ pháp, cách thức trần thuật và xây dựng hình tượng trong các thể truyện ngắn và tiểu thuyết. Thi pháp truyện kể cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng. Việc tiếp nhận và khảo cứu mảng truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có thể được tiến hành từ nhiều góc độ khác nhau.
Có một số nhà sử học (như Dương Trung Quốc) tiếp cận di sản văn chương của Nguyễn Huy Tưởng từ tiêu chí thẩm định về tư liệu lịch sử. Đối với các truyện lịch sử viết cho thiếu nhi, các nhà sử học cũng có thể trân trọng rút ra từ đó tính chân thực lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thống của văn chương Nguyễn Huy Tưởng. Nhiều công trình nghiên cứu văn học sử khi tiếp cận hiện tượng Nguyễn Huy Tưởng cũng chủ yếu đánh giá đóng góp của nhà văn về tính thời sự, ý nghĩa chính trị của đề tài và chủ đề tác phẩm. Phần lớn các nghiên cứu đó đã ghi nhận những đóng góp của nhà văn ở phương diện nội dung tư tưởng và tính hiện thực của tác phẩm.
Trong luận văn này chúng tôi quan tâm chủ yếu tới phương diện hình thức nghệ thuật như: ngôn ngữ, thủ pháp dàn dựng kết cấu, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, loại hình xây dựng 13 z nhân vật. Tạm thời chúng tôi có những đánh giá sơ bộ về đặc điểm thi pháp tự sự của Nguyễn Huy Tưởng gắn với các tác phẩm cụ thể sau: Ngôn ngữ trong truyện của Nguyễn Huy Tưởng viết cho thiếu nhi, có đặc điểm riêng khác để nhận ra với các tác giả cùng thời khác, một kiểu ngôn ngữ mộc mạc, dân dã, dễ hiểu, cú pháp đơn giản, cơ bản, mang đặc trưng chung của ngôn ngữ viết cho độc giả thanh thiếu niên, bộc lộ rõ nhất trong truyện Tìm Mẹ; Giọng kể chuyện thân tình, mang tính đối thoại trực tiếp thể hiện rõ trong truyện Hai bàn tay chiến sỹ; Chú trọng thông tin sự kiện, không thi vị hóa kiểu Tô Hoài - truyện Điện Biên Phủ của chúng em. Với truyện về đề tài lịch sử, ngôn ngữ và giọng điệu kể có thay đổi theo đối tượng, theo đề tài: thâm trầm, trang trọng hơn trong truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Về thủ pháp dàn dựng kết cấu, đặc điểm dễ nhận thấy trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng là ông tổ chức cốt truyện theo trình tự phát triển tự nhiên của thời gian theo lịch sử cụ thể, sự việc trong truyện xảy ra tuần tự từ đầu đến cuối và không bị đứt quãng, liên tục phát triển và tiếp diễn.
Những đặc điểm đó thể hiện rõ qua cốt truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung, Điện Biên Phủ của chúng em. Đó cũng là những truyện tuân thủ mẫu kết cấu chương hồi; mỗi chương hồi gắn với một giai đoạn phát triển nào đó của cốt truyện. Truyện Điện Biên Phủ của chúng em được tác giả xây dựng kết cấu làm ba phần: phần một “Đường lên Điện Biên Phủ”, phần hai “Điện Biên Phủ lịch sử”, phần ba “Điện Biên Phủ xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Ở mỗi phần nội dung của truyện được tác giả nêu cụ thể theo tiến trình thời gian của lịch sử dẫn dắt chúng ta con đường đi lên Điện Biên - những địa danh, những trận đánh và địa danh các trận đánh giành giật của bộ đội ta với địch và sự chiến thắng oai hùng của bộ đội.
Cuối câu chuyện tác giả đưa chúng ta tới một Điện Biên đang ngày đêm xây dựng chủ nghĩa xã hội. 14 z Nghệ thuật tổ chức cốt truyện các truyện viết cho thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng trên cơ sở khảo sát 12/12 truyện thì cốt truyện đơn tuyến theo trật tự thời gian tuyến tính, tác giả hạn chế sự hồi cố, hoài niệm vì trong các tác phẩm này thường chỉ có một nhân vật chính, đóng vai trò là trung tâm của cốt truyện; truyện phần nhiều ít kịch tính, và kết thúc có hậu (truyện Thằng Quấy, Tìm Mẹ). Kết thúc truyện có phân biệt rõ các giá trị “Thiện - Ác”, “Tốt - Xấu”, “Địch - Ta” như Cô bé gan dạ, hai bàn tay chiến sĩ, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung; Cốt truyện tổ chức trên nguyên tác các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn địch ta, tuy nhiên chưa phát triển thành xung đột cao trào. Về loại hình nhân vật: các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được hình thành qua ba tuyến nhân vật chính: nhân vật thiếu nhi tiêu biểu là nhân vật Trần Quốc Toản truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng, nhân vật cô Thứ truyện Cô bé gan dạ, nhân vật em Nhà và em Gạo truyện Tìm mẹ; nhân vật anh hùng như An Dương Vương - truyện An Dương Vương xây thành Ốc, nhân vật Quang Trung trong Kể chuyện Quang Trung, nhân vật từ thế giới loại vật như con Cóc – truyện Con cóc là cậu ông Giời, chim vàng anh truyện Tấm Cám… 1.
Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tƣởng. Vài nét về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 06/5/1912, tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Cha là một ông Tú nghèo, sống nhờ vợ tần tảo buôn bán.