Chương 1 TỎNG QUAN VÁN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Một số van dé lý luận về thi pháp và thi pháp học 1. Thi pháp Thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, dé tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm 4n của tác phẩm: ý nghĩa mỹ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học. “Thi pháp là một hệ thong các phương tiện và phương thức thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [159; tr.
Thi pháp là ý thức nhà văn khi sáng tạo ra hình thức nghệ thuật. Hệ thống thi pháp là tập hợp của nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố có quan hệ với nhau, giá trị của hệ thong không phải là tổng của phép cộng các yếu tố với nhau mà là giá trị tong hợp; giá trị của từng yếu tô khi tồn tai trong hệ thống không phải do tự thân yếu tô quyết định mà do hệ thống quy định trên cơ sở giá trị tổng hợp toàn hệ thống và mối quan hệ giữa các yếu tô trong hệ thống đó. Hệ thống nghệ thuật là tập hợp các quan niệm, các thủ pháp, biện pháp. quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong đó, giá trị của từng yếu tô do hệ thống quy định và các yếu tố phát huy giá trị, ý nghĩa của chúng trong hệ thống. Tính hệ thống của nghệ thuật tồn tại ở nhiều cấp độ như trong một tác phẩm, hệ tác phẩm, một tác phẩm lớn có nhiều tác phẩm nhỏ. Nghệ thuật có những phương diện hình thức như các thủ pháp nghệ thuật, biện pháp nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, phương cách xây dựng nhân vật, miêu tả và tường thuật, quan niệm nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật. tất cả đều mang tính nội dung.
Tính nội dung của các phương diện nghệ thuật khác với tính nội dung xã hội mà hiện tượng văn học phản anh. Chang hạn quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù thê hiện cái dep, tài hoa, tinh cách, ứng xử, triết lý sống phối kết với ý thức về cái đẹp, trân trọng va nâng niu cái đẹp như một sự phủ nhận cái xấu, cái ác trong xã hội thời thực dân, phong kiến. 10 Hiện tượng văn hoc trong một giai đoạn van học, một trào lưu, một tac gia, một hệ tác phẩm hoặc một tác phẩm. có những đặc trưng trên cơ sở quan hệ nội tại và như là hệ quả của lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, tình hình văn học, sáng tác của nhà văn và mỹ cảm của người đọc.
Ví dụ, Thơ Mới Việt Nam 1930 - 1945, văn học cách mạng miền Nam trong vùng tạm chiếm thời chống Mỹ, sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Tuyển tập truyện ngắn của Tchekhov, Thơ tình của Tagor, Tiếng gọi nơi hoang dã của Jack London, Lá cổ của Whitman.2 Thi pháp học Thi pháp học lẫy Thi pháp làm đỗi tượng nghiên cứu, nghĩa là nghiên cứu hệ thống nghệ thuật của hiện tượng văn học. Thi pháp học nghiên cứu các hình thức nghệ thuật như: kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú phap., nó yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thé, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống, dé biểu đạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan. tức là cái đẹp của thế giới, con người. Điểm xuất phát của thi pháp là sự coi tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ.
Nếu mỹ học là lý luận của các nghệ thuật, thì thi pháp học là mỹ học của văn học. Có nhiều cách định nghĩa thi pháp học, như: Viện sĩ Avêrinxép cho rang: “Thi pháp học là hệ thống nguyên tắc sáng tao cua một tác giả, một trường phải, một thời đại văn học” [211; tr. Vinôgrađốp: “Thi pháp hoc là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm sáng tác ngôn từ, các kiểu cầu trúc và các thể loại tác phẩm van học” [212; tr. Nhà lý luận văn học Nga V.
Girmunxki: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật” [211; tr.Ivanov quan niệm: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các tác phẩm văn chương và hệ thống các phương tiện thấm mỹ mà chúng sử dụng” [213; tr. Từ điển Bách khoa văn học giản yếu của Nga ghi: “Thi pháp hoc là khoa học về cấu tạo của các tac phâm văn học và hệ thong các phương tiện thâm mỹ mà 11 chung sử dụng” [213; tr. Như vậy, thi pháp học được hiểu là một bộ môn khoa học và là một khuynh hướng phê bình. Thi pháp là lý luận về đặc trưng nghệ thuật của văn chương, quan niệm về các thủ pháp nghệ thuật, hệ thống các nguyên tắc, biện pháp của sáng tác nghệ thuật, thé hiện gia tri đặc sắc của sang tác nghệ thuật đó.
Tzvetan Tôđôrốp xác định: “Doi twong của thi pháp học cau trúc không phải là tự thân tác phẩm văn học, mà là các thuộc tính của một kiểu ngôn từ vốn có của văn bản văn hoc. Ông xác lập một định nghĩa về thi pháp học theo tinh thần của chủ nghĩa cấu trúc: “Thi pháp học phá vỡ tính đối xứng giữa sự giải thích và khoa hoc trong phạm vi các công trình nghiên cứu văn học ” [126; tr.Khrapchenko đã định nghĩa về thi pháp học: “Không hé kỳ vọng một định nghĩa thật đầy du, thật bao quát, tôi cho rằng có thể xác định thi pháp học như một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc song bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [131; tr. Có thé nói định nghĩa của M.Khrapchenko là một trong những định nghĩa tổng quát và thuyết phục về thi pháp học. Trong đời sống hiện tại, thi pháp học gan liền với văn hóa, văn học, bởi các hình thức văn học là sản phẩm của văn hóa nghệ thuật va đặt trong các truyền thống văn hóa nhất định mới có thê lý giải được.
Thi pháp học nghiên cứu kỹ thuật văn học, thủ pháp nghệ thuật, sáng tạo văn học, tư duy nghệ thuật của chủ thể. Thi pháp học đa dạng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ở thế kỷ XX, thi pháp học có vị trí khác biệt với các bộ môn khoa học khác trong lĩnh vực văn học ở điểm nghiên cứu cấu trúc và nghệ thuật. Đến nay thi pháp học không còn bó hẹp ở việc nghiên cứu nghệ thuật thơ ca mà trở thành một ngành khoa học với phạm vi nghiên cứu tương đối rộng rãi, đó là Thi pháp học đại cương, Thi pháp học lịch sử và Thi pháp học chuyên biệt.
Bakhtin cho răng: “Thi pháp phải bắt dau với thể loại” và ông xem thé loại là trung tâm của lịch sử văn học: “Thể loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ biểu hiện nghệ thuật" (Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn chương) [128, tr. Thi pháp học thé loại cũng rất phô biến, chiếm ty lệ công 12 trình nhiều nhất so với các khuynh hướng khác, bên cạnh thê loại thì ngôn ngữ cũng là yêu tố quan trọng hàng đầu của tác phẩm văn chương: “Ngôn ngữ là yếu to thứ nhất của văn chương” (M. Những công trình khởi đầu thi pháp học hiện đại cũng tập trung nghiên cứu ngôn ngữ. Khi xây dựng một bài thơ Đường, nhà thơ phải dùng loại ngôn ngữ cổ kính, trang trọng, khi xây dựng một cuốn tiêu thuyết, nhà văn phải dùng rất nhiều ngôn ngữ văn xuôi thông tục, nên việc nghiên cứu thê loại thường đi kèm với nghiên cứu ngôn ngữ.
Không phải ngẫu nhiên mà thi pháp học lại dành được sự quan tâm lớn, thôi thúc các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam tìm hiểu và nó đã trở thành một phương pháp nghiên cứu khoa học tiên tiến và hữu hiệu. Điều đó cho thấy, thi pháp học đang mở ra một chân trời rộng lớn cho ngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam; có thé liệt kê một số công trình nghiên cứu được nhiều người biết đến như: Tim hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiéu” của Phan Ngọc [134]; Thi pháp thơ Tổ Hữu, Thi pháp “Truyện Kiểu” của Trần Dinh Sử [157], [160]; Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính [114]; Tim hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thi Dao [53]. Nghiên cứu thi pháp là vấn dé chính của các tài liệu như: Khái niệm về hình thức và kết cấu trong phê bình văn nghệ thế kỷ XX của Rene Wellek (Hoài Anh dịch), Thi hoc và ngữ hoc, lý luận văn học phương Tây hiện đại (Trần Duy Châu biên dịch), Lý luận văn học, những vấn dé hiện đại (La Nguyên biên dich), Ly luận và thi pháp tiểu thuyết của M. Đó là những công trình thi pháp học Âu - Mỹ đã được giới thiệu ở Việt Nam.
Khi nghiên cứu cũng như giảng dạy văn học trong nhà trường, thi pháp học giúp chúng ta khám phá một cách chính xác các cầu trúc hình thức cũng như nội dung các tác phẩm văn học. Trong thực tế, hệ thống nghệ thuật trong văn học ton tại ở nhiều cấp độ, như tác gia, tác phẩm, trào lưu, giai đoạn. mặt khác, ở các dòng văn học như văn học dân gian, văn học viết có những đặc trưng thi pháp khác nhau. Do vậy, việc tìm 13 hiểu, nghiên cứu có thể được tiến hành ở nhiều cấp độ, bình diện khác nhau.
Với dòng van học dân gian và văn học viết, các bình diện của Thi pháp học là Thi pháp văn hoc dân gian và Thi pháp văn học viết. Thi pháp văn học dân gian gồm có thi pháp truyện cô dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn), thi pháp thơ dân gian (ca dao, vé), thi pháp câu đồ. Thi pháp văn học viết gồm có: thi pháp các thé loại thơ (thơ, truyện, ký, kịch), thi pháp văn học các thời kỳ, các giai đoạn (trung đại, hiện đại, hậu hiện đại). Thị pháp hệ thống tác phẩm của một tác gia (thi pháp thơ Nguyễn Du, thi pháp Nhật ký trong từ của Hồ Chi Minh, thi pháp thơ Tố Hữu, thi pháp truyện Nam Cao, thi pháp tiểu thuyết O.
Thi pháp của một tác pham (thi pháp 7ruyện Kiểu của Nguyễn Du, thi pháp bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, thi pháp truyện Thudc của Lỗ Tan, thi pháp truyện Ong già và biển cả của Hêminhuây. Quá trình phát triển của Thi pháp học được các nhà nghiên cứu thể hiện ở các chặng đường phát triển như: Thi pháp học cổ điển, Thi pháp học hiện đại, Thi pháp hoc cấu trúc.