Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương này trình bày một cách ngắn gọn tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến ngôn ngữ trẻ em, đồng thời, trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm: một số vấn đề lý thuyết về giao tiếp tương tác và ngôn ngữ học xã hội tương tác, lý thuyết về xưng hô và hành động ngôn ngữ, một số vấn đề ngôn ngữ trẻ em. Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”) Chương này đi sâu khảo sát, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”), bao gồm: chủ đề và vai giao tiếp, đặc điểm xưng hô của trẻ em, đặc điểm hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp gia đình. Từ kết quả thu được, luận án chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ riêng khác của trẻ em thể hiện qua chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em, từ ngữ xưng hô và hành động ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình. Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”) Trong chương 3, chúng tôi đi sâu khảo sát, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã hội (qua bộ truyện “Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi”), bao gồm: chủ đề và vai giao tiếp, từ ngữ xưng hô của trẻ em, các hành động ngôn ngữ của trẻ em trong giao tiếp ngoài xã 7 hội, so sánh đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em giữa giao tiếp trong gia đình với giao tiếp ngoài xã hội.
Từ kết quả thu được, luận án đã chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ khác biệt của trẻ em thể hiện qua chủ đề và vai giao tiếp của trẻ em, xưng hô và hành động ngôn ngữ trong giao tiếp ngoài xã hội, đồng thời khẳng định ở mỗi môi trường giao tiếp, trẻ em sử dụng ngôn ngữ khác nhau. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Ngôn ngữ của trẻ em từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và nghiên cứu.
Qua thu thập và tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em, chúng tôi nhận thấy có một số hướng nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em như sau: Thứ nhất, nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em từ góc độ tâm lí học Nghiên cứu về ngôn ngữ gắn với quá trình phát triển tâm lí trẻ em tiêu biểu phải kể đến tác giả Piaget, J với nhiều nghiên cứu nổi bật như: công trình Ngôn ngữ và tư duy ở trẻ (1923) đi sâu phân biệt các quá trình ngôn ngữ và tư duy của trẻ em - người lớn. Trong tương tác giao tiếp, người lớn luôn tư duy về mặt xã hội và liên tục để ý đến thái độ của người đối diện nên ngôn ngữ bị chi phối và sử dụng có chọn lọc. Ngược lại, trẻ em trong tương tác giao tiếp dường như nói nhiều hơn người lớn. Tư duy của trẻ phần lớn mang tính cảm tính cá nhân, ít chịu sự chi phối của xã hội và ít quan tâm đến người đối diện.
Nói cách khác, đứa trẻ khi sử dụng ngôn ngữ thường không chú ý quá nhiều đến ý nghĩa của sự vật và bỏ qua các nhân tố liên quan đến việc nhìn nhận sự vật, hiện tượng. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra ở những trẻ 7-8 tuổi, các giao tiếp ngoài xã hội không mang tính bền vững cao và ngôn ngữ thường sử dụng đi kèm với các ngôn ngữ cử chỉ [52]. Đặc biệt trong công trình Kiến tạo Thực tại ở Trẻ em (Sự xây dựng Cái thực tại ở trẻ do dịch giả Hoàng Hưng dịch), tác giả Piaget.J đã mô tả một đứa trẻ như một nhà khoa học cô độc tự tạo ra cảm giác riêng của nó về thế giới. Đồng thời, ông cũng đưa ra các giai đoạn nhận thức của trẻ gắn với từng độ tuổi và sự phát triển của ngôn ngữ như: Giai đoạn cảm giác vận động (0 – 2 tuổi), trẻ không có khả năng tư duy mà chủ yếu là hoạt động phản thân; Giai đoạn tiền hoạt động (2-7 tuổi), tư duy của trẻ tiếp tục phát triển và khả năng ngôn ngữ cũng phát triển mạnh.
Trẻ tư duy trực quan, thường lấy mình làm trung tâm nên trong suy nghĩ có tính cứng nhắc và suy diễn tuỳ tiện; Giai đoạn hoạt động cụ thể (7-11 tuổi), trẻ biết dùng các quy tắc logic để giải quyết vấn đề và tư duy của trẻ trở nên linh hoạt, hiệu quả hơn. Cùng bàn đến vấn đề này, tác giả còn có nhiều công trình khác như: Phê phán và lập luận ở trẻ (1924); Quan niệm của trẻ em về Thế giới (1926); Quan niệm của trẻ em về tính nhân quả vật lý (1927); Phán xét của trẻ em về đạo đức (1932),. Cùng nghiên cứu về sự phát triển tâm lí, nhận thức và ngôn ngữ của trẻ nhưng Vygotsky (Nhà tâm lí học nổi tiếng người Nga) lại quan niệm ngôn ngữ phụ thuộc và có vai trò to lớn đối với sự phát triển tư duy, đồng thời, ông cũng nhấn mạnh đến sự tác động của văn hoá, nhân tố xã hội đến sự phát triển tư duy của trẻ và chỉ ra: “Ngôn ngữ đóng hai vai trò trong sự phát triển nhận thức: 1. Nó là phương tiện chính để người lớn chuyển giao thông tin cho trẻ em.
Bản thân ngôn ngữ trở thành một công cụ rất mạnh cho sự thích nghi trí tuệ” [dẫn theo 80]. Từ nhận định trên, Vygotsky phân biệt ba hình thức ngôn ngữ: 1) Diễn ngôn xã hội là truyền thông hướng ngoại dùng để trò chuyện với người khác (điển hình là từ 2 tuổi); 2) Diễn ngôn riêng tư (điển hình là từ 3 tuổi) trực tiếp với cái bản ngã và dùng như một chức năng trí tuệ; 3) Diễn ngôn riêng tư đi xuống tầng ngầm, dường như không nghe thấy khi nó thực hiện chức năng tự điều chỉnh và biến thành diễn ngôn nội tâm thầm lặng (điển hình từ 7 tuổi). Ông cũng là người đầu tiên ghi nhận tầm quan trọng của diễn ngôn riêng tư - “diễn ngôn riêng tư là biểu thị sớm nhất của diễn ngôn nội tâm” - “là việc sử dụng ngôn ngữ để tự điều chỉnh hành vi" [dẫn theo 80]. Từ đó, tác giả khẳng định: ngôn ngữ là một nhân tố tăng tốc cho sự suy nghĩ/ hiểu.
Cùng quan điểm này với Vygotsky có thể kể đến các nhà nghiên cứu như: Frauenglass & Diaz (1985), Berk (1986), Berk & Landau, 1993, Winsler (2007),. (2009) trong “First Language Acquisition" (Tiếp nhận ngôn ngữ đầu tiên) cung cấp một cách khái quát toàn diện về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em từ những ngày đầu đến khi họ học được ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, bao gồm cả cách thức trẻ em học và sử dụng ngôn ngữ. Quá trình này bao gồm các giai đoạn khác nhau, từ sơ sinh cho đến khi đạt được sự thành thục trong việc sử dụng ngôn ngữ, với sự phát triển từ ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, đến kỹ năng xử lý ngôn ngữ phức tạp [115]. (2010) trong nghiên cứu "The developing lexicon: A multimodal perspective" (Từ vựng đang phát triển: Một quan điểm đa phương thức) tập trung 10 vào việc nghiên cứu sự phát triển của từ vựng ở trẻ em từ khi sinh ra đến khoảng 3 tuổi, bao gồm cả việc sử dụng ngôn ngữ phi ngôn ngữ như cử chỉ và biểu hiện khuôn mặt.
Kết quả cho thấy: trẻ em từ khi sinh ra đến khoảng 3 tuổi sử dụng các kỹ năng đa phương tiện, chẳng hạn như: ngôn ngữ cơ thể và các biểu hiện tay chân, để tạo ra các từ mới và học ngôn ngữ. Nghiên cứu của bà cho thấy rằng các từ được học thông qua nhiều kênh thị giác, nghe và chạm, và việc sử dụng nhiều kênh này cùng một lúc giúp trẻ em học từ mới nhanh chóng và hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giải thích ý nghĩa của từ mới trong ngữ cảnh văn hóa của trẻ em rất quan trọng trong quá trình học từ vựng [128]. (2015) trong "The emergence of grammar: Early verbs and beyond" (Sự xuất hiện của ngữ pháp: Động từ sớm và nhiều hơn thế) nghiên cứu sự phát triển của ngữ pháp sớm ở trẻ em, tập trung vào việc hình thành động từ sớm và các khía cạnh ngữ pháp khác nhau.
Họ đã phân tích dữ liệu từ các nghiên cứu trên ngôn ngữ của trẻ em và đưa ra kết luận rằng sự phát triển của ngữ pháp ở trẻ em là một quá trình phức tạp và đa dạng, liên quan đến nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài như bối cảnh xã hội và tình huống giao tiếp. Họ cũng đưa ra các khuyến nghị để phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ em, bao gồm việc thúc đẩy hoạt động tương tác ngôn ngữ và cung cấp cho trẻ nhiều kinh nghiệm ngôn ngữ khác nhau [112]. Thứ hai, nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em từ góc độ văn học Tuy không trực tiếp nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em nhưng các nhà nghiên cứu văn học khi đi sâu lí giải các khía cạnh thuộc về văn học trẻ em cũng đã đề cập đến ngôn ngữ của trẻ trong các tác phẩm văn học, chẳng hạn: Tác giả Marshall, M. khi định nghĩa về Văn học thiếu nhi đã dựa trên độ tuổi và phát biểu: "Một số người cho rằng văn học thiếu nhi là từ độ tuổi sơ sinh đến 18 tuổi.
Tuy nhiên, không học sinh trung học nào tự cho rằng mình là trẻ em. Vì vậy, tôi định nghĩa văn học cho lứa tuổi 13 đến 18 tuổi là văn học thanh niên và văn học cho tuổi từ sơ sinh đến 13 tuổi là văn học thiếu nhi. Các trường tiểu học truyền thống nhận trẻ từ 6 tuổi và những đứa trẻ này sẽ hoàn thành cấp tiểu học tới 12 hoặc 13 tuổi" [dẫn theo 85]. Tác giả cũng nhận ra thực tế không phải bất cứ tác phẩm nào viết cho thiếu nhi cũng phản ánh đúng độ tuổi của các em bởi trong các tác phẩm đó 11 chuyển tải các nội dung liên quan đến những vấn đề gai góc của cuộc sống ẩn sâu trong những nhân vật trẻ em độ tuổi thiếu nhi trong sáng, hồn nhiên và đầy cảm xúc.