phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Nhà văn Đoàn Lƣ và cảm hứng sáng tác trong văn xuôi vi. Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật tiêu biểu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 NHÀ VĂN ĐOÀN LƢ VÀ CẢM HỨNG SÁNG TÁC TRONG VĂN XUÔI VIẾT CHO THIẾU NHI 1. Giới thiệu nhà văn Đoàn Lƣ 1.
Người con của mảnh đất đầu nguồn cách mạng, giàu truyền thống văn hoá, văn học Nhà văn Đoàn Lƣ dân tộc Tày, sinh 1959 tại Bản Lằng, xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng - một tỉnh miền núi có truyền thống cách mạng và văn chƣơng thật đáng tự hào. Huyện Hòa An quê hƣơng ông là một vùng đất thiêng nơi địa đầu Tổ quốc. Lịch sử đã chạm khắc vào đây những trang vàng. Theo truyền thuyết dân tộc Tày, từ thế kỉ thứ III trƣớc Công nguyên, Hòa An là trung tâm văn hóa chính trị ngay từ thời lập quốc.
Đến thế kỉ XI, vùng đất này tiếp tục trở thành trung tâm quốc gia tự trị Trƣờng Sinh của cha con thủ lĩnh Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao. Cuối thế kỉ XVI, vùng đất thêm một lần rộng tay chào đón nhà Mạc khi dòng họ này thất thế dạt lên Cao Bằng - một vƣơng triều mới đƣợc thiết lập với lịch sử gần một trăm năm. Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lâm Tiến trong cuốn Về một mảng văn học dân tộc (NXB Văn hóa dân tộc, 1999) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của vùng đất Hòa An trong mối quan hệ với tộc ngƣời Tày: “Người Tày có một trung tâm văn hóa, theo lịch sử tộc người thì vùng Hòa An, Cao Bằng đã từng là thủ phủ của người Tày qua nhiều triều đại. (…) Đây có thể coi như một cái mốc giao lưu văn hóa Kinh - Tày quan trọng nhất để văn hóa Tày phát triển sang một giai đoạn mới ” [52, tr.
Vùng đất Hòa An có những ngƣời con ƣu tú. Họ là những quan văn, tƣớng võ có tài làm giàu thêm truyền thống quê hƣơng. Nhân kiệt về hàng “võ” từ thuở xa xƣa là các tƣớng trấn thủ biên thùy nhƣ Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao (biệt hiệu Khâu Sầm Đại Vƣơng), là những anh hùng võ hiệp giết giặc, trừ gian bảo vệ bản làng. Sau này là những anh hùng cách mạng đã có công lớn trong công cuộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc.
Về chính trị, phải kể đến Hoàng Đình Giong, bí danh Võ Đức, nguyên chỉ huy bộ đội Nam tiến, nguyên tƣ lệnh Quân khu 7. Ông là ngƣời chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Cao Bằng - Ủy viên ban thƣờng vụ Trung Ƣơng Đảng khóa I, là nhà chính trị quân sự ngoại giao xuất sắc của Đảng và nhà nƣớc. Đó là đồng chí Hoàng Nhƣ (Hoàng Văn Nọn), nguyên là Bí thƣ xứ ủy Bắc Kì; Hoàng Đức Nghi, nguyên Bộ trƣởng Bộ Vật tƣ. Về quân sự, trong hai cuộc kháng chiến Hoà An có nhiều tƣớng lĩnh tài giỏi của quân đội nhân dân Việt Nam: thƣợng tƣớng Vũ Lập đƣợc Bác Hồ đặt tên; trung tƣớng Nam Long (tên thật Đoàn Văn Ƣu); thiếu tƣớng Lê Thùy; thiếu tƣớng Chu Phƣơng Đới.
Hiện tại có chuẩn đô đốc Bế Hùng; trung tƣớng Bế Xuân Trƣờng;… Bởi thế, nhà thơ Y Phƣơng trong bài viết Đoàn Lư - một sự lạ cũng đã chú ý đến yếu tố quê hƣơng tác giả: “Anh sinh ra và lớn lên trong một vùng quê có nhiều người tham gia làm cách mạng ngay từ những ngày đầu thế kỉ XX (…). Một huyện nhỏ mà có đến hàng chục người đeo lon tướng, hàng vài chục người giữ các trọng trách từ tỉnh đến trung ương Đảng” [50, tr. Từ xa xƣa, dân gian đã truyền tụng câu chuyện về Bế Văn Phụng (nhiều tài liệu viết là Phủng) làm quan Tƣ thiên quản nhạc (trông coi về thiên văn và đội ca nhạc của nhà vua) thời nhà Mạc; đƣợc nhân dân tôn là Trạng. Bế Văn Phụng còn đƣợc coi là ông tổ hát Then Tày và là ngƣời góp phần đặt nền móng cho thời kì sáng tác truyện thơ Tày ghi bằng chữ Nôm (chữ Nôm Tày).
Ông có tác phẩm nổi tiếng: Tam nguyên luận. Đầu thế kỉ XX có Hoàng Đức Hậu (1890- 1945) - nhà thơ lớn của dân tộc Tày, quê xã Hồng Việt, Hòa An. Theo nhà nghiên cứu phê bình văn học Lâm Tiến: “Hoàng Đức Hậu là một hiện tượng văn hóa độc đáo của dân tộc Tày nói riêng và của văn hóa Việt Nam nói chung” [52, tr. Trong cuốn lịch sử văn học Việt Nam tập V.
1930-1945, ông đƣợc xếp là nhà thơ hiện đại cùng với Bùi Huy Phồn và Tú Mỡ. “Toàn bộ thơ của ông là tiếng nói, tư tưởng tình cảm của dân tộc Tày trong thời kì nhất định, là tình yêu mãnh liệt đối với con người, cuộc sống và thiên nhiên miền núi.” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Thế hệ sau có Vi Hồng và Triều Ân đã để lại dấu ấn sâu đậm trong dòng văn học thiểu số Việt Nam hiện đại. Các thế hệ nhà văn, nhà thơ tiếp bƣớc: Hữu Tiến - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội văn học thiểu số Việt Nam, Hội viên Hội văn học nghệ thuật Cao bằng; nhà thơ, dịch giả Triệu Lam Châu - Hội viên Hội nhà văn Việt Nam… Từ lịch sử phong phú của mình, Hòa An nói riêng và quê hƣơng Cao Bằng nói chung đã trở thành vùng đất sản sinh nhiều nhân tài góp công vào sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc; đồng thời là vùng đất có truyền thống văn hoá, văn học.
Trong số những cây bút văn học của Hoà An góp phần tô đậm truyền thống quê hƣơng có nhà văn Đoàn Lƣ. Một trí thức vùng cao tiêu biểu, một nghệ sĩ đa tài Sinh ra trong một gia đình có cha là cán bộ lão thành cách mạng, lại sẵn có tƣ chất thông minh nên đƣờng học vấn của Đoàn Lƣ rộng mở. Học hết cấp hai tại quê nhà, năm 1974 ông đƣợc chọn đi học trƣờng vùng cao Việt Bắc. Đối với nhiều bạn bè cùng trang lứa nơi vùng quê núi bấy giờ, việc một cậu học sinh từ tỉnh nghèo miền núi tìm đƣờng đến với “mẹ chữ” nhƣ vậy giống cánh chim nhỏ đƣợc bay ra trời rộng.
Hoàn cảnh và môi trƣờng học tập mới đã giúp cho Đoàn Lƣ sớm có đƣợc bản lĩnh và tính cách tự lập. Tiếp đó, từ 1979 – 1984, ông học Đại học Y Bắc Thái, Đại học Y Hà Nội và trở thành bác sĩ chuyên khoa nhi. Thời gian sau đó, Đoàn Lƣ đã từng “thử sức” ở nhiều lĩnh vực và đảm nhiệm nhiều trọng trách khác nhau trong các ban ngành của tỉnh Cao Bằng. Ông làm trong ngành y 13 năm và là Trƣởng khoa Nhi bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, Trƣởng Bộ môn Nhi - Lây trƣờng Trung cấp Y tế Cao Bằng; 5 năm là Trƣởng phòng Khoa giáo - Ban tuyên giáo tỉnh; Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng (từ 2003 đến 2013).
Ngoài ra, từ năm 1998 đến nay, ông là thành viên của Hội đồng khoa học tỉnh, trƣởng ban Khoa học xã hội và nhân văn. Hiện nay, ông giữ cƣơng vị Chủ tịch Hội Nhà báo Cao Bằng. Những trọng trách trên cho thấy, Đoàn Lƣ là một nhà quản lí có uy tín, một trí thức tiêu biểu trong hoạt động khoa học, nghệ thuật và công tác xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Xét riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, Đoàn Lƣ là nghệ sĩ đa tài.
Bút danh của ông đƣợc kí dƣới nhiều bức họa sơn dầu. Dù chỉ nhận mình là “ngƣời vẽ” nghiệp dƣ nhƣng sáng tác mĩ thuật cũng đem đến cho ông những thành công nhất định. Tranh Đoàn Lƣ đã nhiều lần đƣợc tham gia triển lãm khu vực 3, tiêu biểu là bức BigBang - tiểu vũ trụ; Tình mẹ; Sự diệu kì. Đoàn Lƣ cũng am hiểu về nghệ thuật nhiếp ảnh.
Dẫu chỉ là công việc đƣợc làm nhƣ một sự yêu thích và ngẫu hứng nhƣng ông đã có đƣợc nhiều tấm ảnh có giá trị ghi lại vẻ đẹp của quê hƣơng, đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam. Về lĩnh vực sƣu tầm, nghiên cứu: Đoàn Lƣ cũng có đóng góp. Công trình lớn nhất của ông là cuốn: Văn học yêu nước và cách mạng ở Cao Bằng trước năm 1945 (NXB Văn hóa dân tộc, 2008) viết chung với nhà văn, nhà nghiên cứu văn học dân gian Hoàng Triều Ân đƣợc Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp viết lời tựa. Ông cũng là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về y học, lịch sử, văn hóa, ẩm thực dân tộc,… đăng trên báo trung ƣơng và địa phƣơng.
Đến nay, Đoàn Lƣ đã có 27 đầu sách đƣợc xuất bản và có tác phẩm đƣợc in trong hơn 20 tuyển tập. Về lĩnh vực sáng tác: ông viết truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, làm thơ. Đến nay, Đoàn Lƣ đã xuất bản đƣợc năm tập thơ: Mùa khẩu lam, NXB Văn hóa dân tộc (1997); Dòng sông nghiêng, NXB Văn hóa dân tộc (2003); Ổi trái mùa, NXB Văn học (2013); Tiếng lạ, NXB Thanh Niên (2013); Dự cảm, NXB Hội nhà văn (2013). Một số bài thơ hay đƣợc đăng trong các tuyển tập: Hoa giọt nắng trong Đà Lạt thơ; Cối giã gạo trong Tuyển tập những bài thơ hay viết cho thiếu nhi dân tộc miền núi và Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi.
Đọc thơ Đoàn Lƣ, ngƣời ta có thể nhận thấy yếu tố truyền thống và hiện đại cùng hòa quyện. Thơ ông chất chứa bao trăn trở và những “dự cảm” đầy ám ảnh về những vấn đề con ngƣời ngày nay đang phải đối mặt. Những bài thơ còn đi vào lòng ngƣời đọc bởi cảm hứng nhân văn, chất triết lí trải nghiệm và giọng điệu trữ tình sâu lắng. Trong văn xuôi, Đoàn Lƣ bắt đầu bằng tác phẩm Lão Lìm in trên báo Thiếu niên Tiền phong (1995) và tập truyện thiếu nhi Miếng hiểm cuối cùng (1995).
Sau đó, những sáng tác “ngƣời lớn” cũng đƣợc nhà văn chú trọng: Ông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ thâm nhập vào mảng văn học này với những tác phẩm viết về tình yêu, tình đời, ca ngợi cái đẹp của chân - thiện - mĩ trong cuộc mƣu sinh nhọc nhằn, tất bật. Ngòi bút của Đoàn Lƣ còn đi sâu vào những “mảng tối” của đời sống hiện thực hay những vấn đề nóng trên diễn đàn kinh tế chính trị. Ông phê phán, đấu tranh vạch trần những tệ nạn xã hội, những tiêu cực, tha hóa, giả dối. nhƣ cơn sóng ngầm, lốc dữ đã và đang diễn ra nơi vùng biên cƣơng.