Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu hệ thống cân cơ nông vùng mặt và mối liên quan với thần kinh mặt trên người Việt trưởng thành" do nghiên cứu sinh Lê Quang Tuyền thực hiện tại Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng), thuộc chuyên ngành Khoa học Y sinh (mã số: 9 72 01 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Đăng Diệu và GS.TS. Hoàng Văn Lương, bảo vệ năm 2019.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Trong thực tiễn y khoa, chấn thương vùng hàm mặt do tai nạn giao thông, tai nạn lao động và sinh hoạt có xu hướng gia tăng, thường để lại di chứng sẹo co kéo phức tạp do tổn thương hệ thống cân cơ nông. Đồng thời, quá trình lão hóa tự nhiên làm suy giảm tính đàn hồi của da, dẫn đến tình trạng giãn da, hình thành nếp nhăn và tích tụ mỡ dưới hệ thống cân cơ nông. Mặc dù chuyên ngành phẫu thuật tạo hình - thẩm mỹ và phẫu thuật hàm mặt phát triển nhanh chóng, các can thiệp ngoại khoa vùng mặt vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây tai biến nghiêm trọng như liệt mặt do tổn thương các nhánh thần kinh mặt (dây thần kinh sọ số VII) hoặc đứt ống tuyến nước bọt mang tai. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hụt các mốc giải phẫu học ứng dụng chuẩn xác của hệ thống cân cơ nông (Superficial Musculoaponeurotic System - SMAS) và các dây chằng nâng đỡ. Trên thế giới, các cấu trúc này đã được nghiên cứu sâu nhưng còn nhiều điểm chưa thống nhất về danh pháp và mốc định vị; trong khi tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ mô tả SMAS một cách đơn thuần như một lớp mạc nông vùng mặt, chưa có dữ liệu giải phẫu nhân trắc và vi thể chi tiết trên người Việt trưởng thành.

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Khảo sát đặc điểm giải phẫu một số cân cơ nông vùng mặt.
    2. Xác định sự liên quan đại thể và vi thể giữa các nhánh dây thần kinh mặt với hệ thống cân cơ nông vùng mặt.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống cân cơ nông vùng mặt (SMAS), các cơ bám da mặt (cơ trán, cơ vòng mắt, cơ vòng miệng, cơ bám da cổ), hệ thống dây chằng nâng đỡ, các khoang vùng mặt và các thành phần của dây thần kinh mặt (thân chính, các ngành, các nhánh phân chia ngoại vi).
    • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hình thái giải phẫu đại thể và cấu trúc vi thể trên thi thể người Việt Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải phẫu học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Học viện Quân y.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

  • Các hướng nghiên cứu trước trong y văn quốc tế và trong nước:

    • Nguyên tắc danh pháp và phân loại dây chằng: Danh pháp giải phẫu Basel Nomina Anatomica (BNA 1895) xác lập các nguyên tắc chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Latin. Furnas D. (1989, 1994) là tác giả đầu tiên đưa ra khái niệm "dây chằng nâng đỡ" (retaining ligaments) vùng má với cấu trúc mô sợi phân nhánh dạng cây, đồng thời mô tả dây chằng cơ bám da cổ - tai, dây chằng da cơ cắn trước, mạc cơ bám da cổ - tai (platysma auricular fascia - PAF) và dây chằng hàm dưới. Gosain A. mô tả cấu trúc "lớp mạc - mỡ" và vai trò của các dây chằng trong việc phân chia khoang mỡ vùng mặt. Stuzin J. và cs (1992) phân loại hệ thống dây chằng nâng đỡ thành hai nhóm: (1) dây chằng da - xương (osteocutaneous) xuất phát từ màng xương như dây chằng gò má, dây chằng hàm dưới; và (2) dây chằng mạc - da (fasciocutaneous) kết hợp với mạc nông và mạc sâu như dây chằng da cơ cắn, dây chằng da tuyến mang tai.
    • Khái niệm SMAS và 5 lớp vùng mặt: Mitz V. và Peyronie M. (1976) lần đầu tiên mô tả cấu trúc hệ thống cân cơ nông (SMAS) ở lớp thứ ba của vùng mặt. Mendelson B. và cs (2008, 2009, 2013) hệ thống hóa nguyên lý 5 lớp giải phẫu vùng mặt (da, mô dưới da, cân cơ nông, mô liên kết lỏng lẻo/khoang ảo, mạc sâu/màng xương), làm sáng tỏ cấu trúc các khoang trượt dưới SMAS (như khoang tiền cơ cắn) và hệ thống dây chằng thái dương (vách thái dương trên - STS, vách thái dương dưới - ITS, liên kết dính thái dương - TLA). Knize D. (1995, 1996) và Moss C. và cs (2000) nghiên cứu chi tiết các liên kết dính và vách vùng thái dương, quanh ổ mắt. Kikkawa D. và cs (1996) mô tả đại thể và vi thể dây chằng quanh ổ mắt (dây chằng ổ mắt - gò má).
    • Cấu trúc mảng McGregor và vùng trước tai: McGregor (1959), Kaye B. (1981), Owsley J. (1993) và Brandt M. và cs (2012) khảo sát "mảng McGregor" và "bộ ba McGregor" (gồm nhánh xuyên động mạch ngang mặt, ống tuyến nước bọt mang tai và nhánh gò má thần kinh mặt). Lore (1973), Botti G. (2008, 2012), Özdemir R. và cs (2002), Labbé D. và cs (2006), O'Brien J. và cs (2013) tranh luận về bản chất của mạc PAF, mạc Lore và mạc màng nhĩ - tuyến mang tai.
    • Khoang mỡ và khoang mặt: Rohrich R. và Pessa J. (2007, 2008) phân định các khoang mỡ má (má trong, má giữa, thái dương ngoài - má). Reece E. và cs (2008) xác định vách xương hàm dưới.
    • Giải phẫu thần kinh mặt: Myint K. và cs (1992), Kwak H. và cs (2004), Upile T. và cs (2007) khảo sát vị trí thoát ra của thân chính thần kinh mặt tại lỗ trâm chũm và khoảng cách tới góc hàm. Tsai S.C-S và cs (2002) phân loại kiểu phân chia thân chính thần kinh mặt thành 3 nhóm (Nhóm 1: 24,7%; Nhóm 2: 42,0%; Nhóm 3: 33,3%). Davis R. và cs (1956) xây dựng bảng phân loại kinh điển gồm 6 dạng phân nhánh và thông nối của thần kinh mặt. Kandari Q. (2011) mô tả chi tiết đường đi của ngành thái dương - mặt và ngành cổ - mặt.
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án tập trung giải quyết khoảng trống dữ liệu giải phẫu nhân trắc, đại thể và mô học vi thể về hệ thống cân cơ nông (SMAS), các dây chằng nâng đỡ, khoang tiền cơ cắn và sự phân nhánh, đường đi của thần kinh mặt trên đối tượng người Việt trưởng thành; đối chiếu các bảng phân loại quốc tế (Tsai S., Davis R.) với đặc điểm thực tế trên người Việt nhằm phục vụ ứng dụng ngoại khoa an toàn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

    • Mô hình 5 lớp cấu trúc vùng mặt: Lớp 1 (Da), Lớp 2 (Mô mỡ - xơ dưới da), Lớp 3 (Hệ thống cân cơ nông - SMAS và các cơ bám da mặt có nguồn gốc phôi thai từ cung mang thứ hai), Lớp 4 (Mô liên kết lỏng lẻo, khoang trượt vô mạch và hệ thống dây chằng nâng đỡ), Lớp 5 (Mạc sâu và màng ngoài xương).
    • Khái niệm dây chằng nâng đỡ vùng mặt (retaining ligaments): Phân định giữa dây chằng da - xương (osteocutaneous) và dây chằng mạc - da (fasciocutaneous), cấu trúc mô sợi phân nhánh dạng cây kết nối từ màng xương/mạc sâu xuyên qua SMAS đến chân bì da.
    • Khái niệm khoang mặt (facial spaces) và khoang tiền cơ cắn (premasseter space) như các khoảng trượt vô mạch an toàn phục vụ phẫu tích.
    • Hệ thống phân loại hình thái phân chia và thông nối thần kinh mặt theo Tsai S.C-S và Davis R.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp phẫu tích đại thể: Phẫu tích từng lớp theo trình tự chuẩn hóa trên thi thể người Việt trưởng thành: rạch da theo các đường rạch giải phẫu quy ước; bóc tách lớp mô dưới da; bộc lộ và xác định ranh giới mạc PAF, lớp SMAS, các cơ trán, cơ vòng mắt, cơ vòng miệng, cơ bám da cổ; phẫu tích hệ thống dây chằng (dây chằng góc mắt ngoài, dây chằng ổ mắt, dây chằng gò má, các dây chằng cơ cắn, dây chằng hàm dưới, bộ ba McGregor); bộc lộ khoang tiền cơ cắn; phẫu tích thân chính thần kinh mặt từ lỗ trâm chũm, các ngành phân chia và toàn bộ các nhánh ngoại vi (nhánh trán, nhánh ổ mắt, nhánh gò má, nhánh má, nhánh bờ hàm dưới, nhánh cổ).
    • Phương pháp đo đạc nhân trắc giải phẫu: Sử dụng bộ dụng cụ đo đạc chuyên dụng (thước kẹp cơ học, compa đo độ cong, thước milimet) để đo chiều dày da, chiều dày mô dưới da, kích thước các cơ bám da, kích thước diện tích SMAS, chiều dài và đường kính thân chính thần kinh mặt, khoảng cách từ góc xương hàm dưới đến điểm phân chia thân chính, góc tạo bởi ngành trên và ngành dưới, chiều dài và đường kính các ngành phân nhánh.
    • Phương pháp khảo sát vi thể (Mô học): Thu thập các mẫu mô đại diện tại các vị trí giải phẫu (da, mô dưới da, SMAS, các dây chằng nâng đỡ, các nhánh thần kinh mặt tại cung gò má và phía trên cung gò má 1 cm, 2 cm). Mẫu mô được cố định, đúc khối parafin, cắt lát tiêu bản và nhuộm Hematoxylin - Eosin (H-E) cũng như nhuộm ba màu Masson (Masson's trichrome). Quan sát, chụp ảnh và phân tích cấu trúc sợi collagen, mô mỡ, sợi cơ và bao bó thần kinh bằng kính hiển vi quang học kỹ thuật số Olympus DP73.
    • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được quản lý và xử lý thống kê y học bằng phần mềm SPSS (Statistical Product and Services Solutions), tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm và so sánh đối chiếu với các nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Mẫu nghiên cứu gồm các nửa mặt thi thể người Việt trưởng thành được bảo quản và xử lý tại Bộ môn Giải phẫu học, phục vụ nghiên cứu hình thái học y sinh học.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu giải phẫu vùng mặt trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Danh pháp và cấu trúc 5 lớp vùng mặt: Phân tích nguyên tắc danh pháp BNA, cấu trúc 5 lớp mô mềm mặt, bản chất phôi thai học của các cơ bám da mặt phát sinh từ cung mang thứ hai kéo theo sự phân bố của dây thần kinh mặt đi ngay dưới da. Mô tả định nghĩa SMAS của Mitz V. và Peyronie M. (1976) tại lớp thứ 3 và cấu trúc mô liên kết lỏng lẻo ở lớp thứ 4 đóng vai trò như mặt phẳng trượt.
  • Hệ thống dây chằng nâng đỡ và cấu trúc liên kết: Tổng hợp các nghiên cứu của Furnas D., Stuzin J., Mendelson B., Moss C., Alghoul M. về mảng McGregor (kích thước khoảng 3 cm x 3,5 cm), mạc cơ bám da cổ - tai (PAF), dây chằng quanh tai, dây chằng da cơ cắn, dây chằng da gò má (kích thước đo đạc của Furnas D., Özdemir R., Brandt M.), dây chằng quanh ổ mắt (Kikkawa D., Muzaffar A.), hệ thống dây chằng vùng thái dương (vách thái dương trên, vách thái dương dưới, liên kết dính thái dương theo Knize D. và Moss C.) và dây chằng hàm dưới (cách bờ dưới xương hàm dưới 1 cm).
  • Các khoang vùng mặt: Mô tả khoang tiền cơ cắn (gồm khoang dưới, giữa và trên tiền cơ cắn), mối liên quan với mạc cơ cắn và các cấu trúc giải phẫu quan trọng (nhánh gò má, thùy phụ tuyến mang tai, ống tuyến mang tai) cùng cấu trúc các khoang mỡ má (má trong, má giữa, thái dương ngoài - má theo Rohrich R.).
  • Giải phẫu thần kinh mặt: Tổng thuật đường đi của thân chính thần kinh mặt sau khi rời lỗ trâm chũm (nằm sâu 1 - 2 cm dưới da), mối liên quan với tuyến mang tai, động mạch cảnh ngoài, tĩnh mạch sau hàm; các kiểu phân chia thân chính theo Tsai S.C-S (3 dạng); 6 dạng phân nhánh và thông nối theo Davis R.; đường đi và các mốc nguy hiểm của ngành thái dương - mặt (nhánh trán, nhánh ổ mắt, nhánh gò má) và ngành cổ - mặt (nhánh má, nhánh bờ hàm dưới, nhánh cổ), đặc biệt là mối tương quan giữa nhánh bờ hàm dưới với động mạch mặt và bờ dưới xương hàm dưới.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương tiện, quy trình phẫu tích và kỹ thuật xét nghiệm vi thể:

  • Phương tiện nghiên cứu: Bộ dụng cụ phẫu tích phẫu thuật chuyên dụng; bộ dụng cụ đo đạc nhân trắc giải phẫu; hệ thống kính hiển vi quang học Olympus DP73 truyền hình ảnh kỹ thuật số; hóa chất cố định và phẩm nhuộm mô học (H-E, phẩm nhuộm ba màu Masson).
  • Quy trình phẫu tích đại thể: Thực hiện các đường rạch da vùng mặt chuẩn; bóc tách lớp mô dưới da (lớp thứ 2); phẫu tích lớp PAF đi vào tuyến mang tai tìm thân chính thần kinh mặt; bóc tách lớp SMAS và các cấu trúc nằm dưới SMAS; phẫu tích tỉ mỉ các nhánh thần kinh mặt; khảo sát các dây chằng góc mắt ngoài, ổ mắt, gò má, cơ cắn, bộ ba McGregor và dây chằng hàm dưới; phẫu tích bộc lộ khoang tiền cơ cắn; xác định ranh giới và đo đạc kích thước SMAS; đo chiều dài, đường kính thân chính và các ngành thần kinh mặt; đo khoảng cách từ góc hàm đến điểm phân chia thân chính; xác định mối liên quan giữa tam giác thái dương với tĩnh mạch liên lạc.
  • Quy trình khảo sát vi thể: Lấy các mẫu mô tại các vị trí quy định (da, mô dưới da, các cơ bám da, các dây chằng, các mẫu mô thần kinh mặt tại cung gò má, 1 cm và 2 cm phía trên cung gò má); xử lý mô học, nhuộm H-E và Masson; quan sát, đối chiếu và đọc kết quả mô bệnh học vi thể.
  • Xử lý số liệu: Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU GIẢI PHẪU ĐẠI THỂ VÀ VI THỂ                   |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| [1. Phẫu tích đại thể 5 lớp vùng mặt]                                            |
|    Rạch da -> Lớp 2 (xơ mỡ) -> Lớp 3 (SMAS, cơ bám da) -> Lớp 4 (khoang, TK VII)  |
|                                                                                   |
| [2. Đo đạc nhân trắc giải phẫu]                                                  |
|    - Chiều dày da, mô mỡ; Kích thước cơ trán, vòng mắt, vòng miệng, cơ bám da cổ  |
|    - Kích thước SMAS; Chiều dài/đường kính thân chính & các ngành thần kinh mặt    |
|    - Khoảng cách góc hàm - điểm chia; Góc phân chia ngành trên/dưới               |
|                                                                                   |
| [3. Khảo sát vi thể mô học (Olympus DP73)]                                       |
|    - Cắt mẫu mô dây chằng, cơ, SMAS, thần kinh mặt (tại cung gò má, +1cm, +2cm)   |
|    - Nhuộm Hematoxylin-Eosin (H-E) và nhuộm ba màu Masson                         |
|                                                                                   |
| [4. Phân tích & Xử lý số liệu]                                                    |
|    - Tổng hợp thống kê bằng phần mềm SPSS                                         |
|    - Phân loại hình thái theo Davis R. và Tsai S.; Đề xuất phân nhóm ứng dụng    |
+-----------------------------------------------------------------------------------+

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ hệ thống số liệu định lượng và phát hiện hình thái học:

  • Đặc điểm kích thước các lớp và cơ vùng mặt: Cung cấp bảng số liệu về chiều dày da, chiều dày mô dưới da tại từng vùng chức năng trên mặt; kích thước cơ trán, cơ vòng mắt, cơ vòng miệng và cơ bám da cổ ở 1/3 dưới.
  • Đặc điểm hệ thống SMAS và dây chằng: Xác định kích thước lớp cân cơ nông vùng mặt; mô tả hai dạng hình thái của SMAS (Dạng 1 và Dạng 2); xác định vị trí sợi dày lên ở vách thái dương, dây chằng góc mắt ngoài, dây chằng gò má, các dây chằng cơ cắn và dây chằng hàm dưới; mô tả hình thái và các thành phần cấu trúc nằm trong khoang tiền cơ cắn (lớp đệm khối mỡ má).
  • Hình thái và kích thước thần kinh mặt:
    • Chiều dài và đường kính thân chính thần kinh mặt; khoảng cách từ góc xương hàm dưới tới vị trí phân chia thân chính.
    • Số lượng ngành tách ra từ thân chính (tỷ lệ phân chia thành 2 ngành và tách 3 ngành ở hai bên); số ngành trung bình; góc tạo bởi ngành trên và ngành dưới; chiều dài và đường kính của ngành trên và ngành dưới.
    • Tỷ lệ các dạng phân nhánh và thông nối thần kinh mặt theo phân loại Davis R. và phân loại Tsai S.
    • Đặc điểm phân nhánh từ ngành trên (nhánh trán, nhánh ổ mắt, nhánh gò má, nhánh thái dương trong hố thái dương) và từ ngành dưới (nhánh má, nhánh bờ hàm dưới, nhánh cổ).
  • Mối tương quan đại thể và vi thể giữa thần kinh mặt và SMAS:
    • Nhánh trán: đi qua mạc PAF trước bình tai, đi dưới SMAS và mạc thái dương đỉnh, đi qua/dưới dây chằng góc mắt ngoài hướng về cung mày và cơ trán, có liên quan mật thiết với tĩnh mạch liên lạc vùng thái dương; cấu trúc vi thể của nhánh trán tại mức cung gò má, 1 cm và 2 cm phía trên cung gò má.
    • Nhánh ổ mắt: đi trên xương gò má chạy vào mặt sâu cơ vòng mắt.
    • Nhánh má: đi vào tuyến mang tai, chui qua dây chằng cơ cắn, đi dưới cơ gò má lớn và liên quan chặt chẽ với bộ ba McGregor.
    • Nhánh bờ hàm dưới: bắt chéo động mạch mặt, tương quan vị trí so với bờ dưới thân xương hàm dưới.
Hạng mục cấu trúc giải phẫu Chi tiết hình thái và mốc liên quan ghi nhận trong nghiên cứu
Hệ thống SMAS Phân định Dạng 1 và Dạng 2; liên tục với cơ trán ở trên, cơ bám da cổ ở dưới, che phủ tuyến mang tai và cơ cắn.
Mạc PAF Mạc cơ bám da cổ - tai vùng trước bình tai, cấu trúc chuyển tiếp kết nối SMAS với bao tuyến mang tai.
Khoang tiền cơ cắn Khoang trượt vô mạch nằm dưới SMAS, trên mạc cơ cắn; chứa lớp đệm mỡ má.
Bộ ba McGregor Nhánh gò má thần kinh mặt, ống tuyến nước bọt mang tai và nhánh xuyên động mạch ngang mặt.
Thân chính thần kinh VII Thoát lỗ trâm chũm, phân nhánh thành 2 ngành chính (ngành trên, ngành dưới) hoặc 3 ngành.
Nhánh trán (TK VII) Đi qua PAF trước bình tai, dưới dây chằng góc mắt ngoài, bắt chéo cung gò má (khảo sát vi thể tại mốc 1 cm, 2 cm).
Nhánh má (TK VII) Chui qua dây chằng cơ cắn, chạy dưới cơ gò má lớn, thông nối mạng lưới phong phú.
Nhánh bờ hàm dưới (TK VII) Bắt chéo phía nông hoặc sâu so với động mạch mặt tại vùng bờ dưới xương hàm dưới.

Chương 4: Bàn luận

Chương này phân tích, đối chiếu kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Về cấu tạo 5 lớp và hệ thống SMAS: Khẳng định tính tương đồng về cấu trúc 5 lớp trên người Việt với mô hình của Mendelson B. và Stuzin J.; phân tích ý nghĩa của cấu trúc dạng cây của các liên kết sợi và vai trò của lớp mô liên kết lỏng lẻo ở lớp thứ 4 trong việc tạo mặt phẳng bóc tách phẫu thuật.
  • Về các dây chằng nâng đỡ và khoang mặt: Phân tích sự thống nhất và khác biệt về danh pháp mạc PAF, mạc Lore, dây chằng da cơ cắn và dây chằng gò má giữa các tác giả (Furnas D., Stuzin J., Özdemir R., Seo Y.); nhấn mạnh giá trị phẫu thuật của khoang tiền cơ cắn như một "khoảng an toàn" vô mạch.
  • Về đặc điểm nhân trắc và phân nhánh thần kinh mặt:
    • So sánh số thân chính thần kinh mặt, tỷ lệ có ngành thứ ba tách ra từ thân chính và chiều dài thân chính thần kinh mặt giữa người Việt với người da trắng, người Hàn Quốc và người Malaysia trong các nghiên cứu của Kwak H., Upile T., Tsai S., Kandari Q.
    • So sánh tỷ lệ các dạng phân nhánh theo phân loại Davis R. và Tsai S.; thảo luận về tính đặc thù hình thái trên người Việt và đề xuất phân nhóm dạng phân nhánh thần kinh mặt của tác giả.
  • Ứng dụng ngoại khoa lâm sàng:
    • Đề xuất áp dụng lâm sàng đường rạch trước PAF để tiếp cận an toàn vào khoang dưới SMAS.
    • Xác định đường vẽ định vị trên da của nhánh trán khi bắt chéo cung gò má và hướng đi về phía cung mày dựa trên phân tích thiết đồ vi thể cắt ngang tại vị trí 1 cm và 2 cm phía trên cung gò má.
    • Đưa ra khuyến cáo bảo vệ nhánh bờ hàm dưới khi can thiệp vùng góc hàm và mạch máu mặt, cũng như bảo tồn nhánh má khi bóc tách qua dây chằng cơ cắn và bộ ba McGregor.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:

    • Cung cấp hệ thống dữ liệu nhân trắc giải phẫu và mô học vi thể đầy đủ, chuẩn xác đầu tiên trên người Việt trưởng thành về kích thước 5 lớp vùng mặt, độ dày da, mô dưới da, kích thước các cơ bám da mặt (cơ trán, cơ vòng mắt, cơ vòng miệng, cơ bám da cổ) và diện tích, ranh giới hệ thống SMAS.
    • Làm sáng tỏ cấu trúc mô học và mối tương quan giải phẫu đại thể - vi thể giữa hệ thống SMAS, mạc PAF, hệ thống dây chằng nâng đỡ (gò má, cơ cắn, góc mắt ngoài, hàm dưới) và các khoang mặt (khoang tiền cơ cắn) với các nhánh của dây thần kinh mặt.
    • Xác lập dữ liệu đối chiếu về tỷ lệ các dạng phân chia thân chính (theo Tsai S.) và các dạng phân nhánh, thông nối ngoại vi của thần kinh mặt (theo Davis R.) trên người Việt; đề xuất bảng phân nhóm dạng phân nhánh thần kinh mặt có giá trị phân loại học.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng:

    • Xác định chính xác các mốc giải phẫu an toàn: mốc trước bình tai qua mạc PAF, mốc khoang tiền cơ cắn vô mạch, mốc bắt chéo cung gò má của nhánh trán (tại các khoảng cách 1 cm, 2 cm trên cung gò má) và điểm bắt chéo động mạch mặt của nhánh bờ hàm dưới.
    • Đề xuất kỹ thuật ứng dụng đường rạch trước PAF để đi vào mặt phẳng dưới SMAS trong phẫu thuật căng da mặt trẻ hóa và phẫu thuật tạo hình vùng mặt, giúp phẫu thuật viên thao tác nhanh, chuẩn xác, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương các nhánh thần kinh mặt (gây liệt mặt) và ống tuyến nước bọt mang tai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu thi thể người Việt trưởng thành được xử lý và bảo quản theo quy trình giải phẫu, do đó độ co rút và thể tích mô mềm, lớp mỡ dưới da có thể có sai khác nhất định so với cơ thể sống trong điều kiện phẫu thuật thực tế.
    • Số lượng mẫu khảo sát vi thể tập trung tại một số vị trí mốc chuyển tiếp trọng điểm (như vùng cung gò má và thái dương), chưa bao phủ toàn bộ mọi biến thể vi thể trên toàn bộ diện tích khuôn mặt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Ứng dụng và kiểm chứng các mốc giải phẫu định vị, kỹ thuật bóc tách qua đường rạch trước PAF vào phẫu thuật lâm sàng trên người sống (phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ căng da mặt, phẫu thuật cắt tuyến mang tai, phẫu thuật kết hợp xương hàm mặt).
    • Mở rộng nghiên cứu đối chứng hình thái giải phẫu hệ thống SMAS và các khoang mỡ theo các nhóm lứa tuổi khác nhau nhằm lượng hóa chi tiết mức độ biến đổi cấu trúc do quá trình lão hóa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Phẫu thuật viên Tạo hình - Thẩm mỹ: Nắm vững các mốc bóc tách an toàn dưới SMAS, mốc định vị nhánh trán và nhánh bờ hàm dưới nhằm phòng ngừa tai biến liệt mặt trong phẫu thuật căng da mặt trẻ hóa.
    • Phẫu thuật viên Hàm mặt, Tai Mũi Họng và Ngoại Chấn thương: Tham khảo các mốc nhận diện bộ ba McGregor, đường đi thần kinh mặt trong tuyến mang tai và khoang tiền cơ cắn để thực hiện an toàn phẫu thuật cắt tuyến mang tai, xử trí vết thương chấn thương hàm mặt và tái tạo sẹo co kéo.
    • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên chuyên ngành Giải phẫu học, Khoa học Y sinh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về nhân trắc giải phẫu học hình thái vùng đầu mặt cổ trên người Việt Nam.
  • Phần nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:

    • Chương 2 và Chương 3: Quy trình phẫu tích 5 lớp vùng mặt, số liệu nhân trắc chi tiết của SMAS, các cơ bám da và các chỉ số đo đạc thân chính, ngành, nhánh thần kinh mặt.
    • Chương 4: Bàn luận đối chiếu quốc tế về phân loại thần kinh mặt theo Davis R., Tsai S. và các phân tích giải phẫu ứng dụng đường rạch trước PAF, thiết đồ vi thể nhánh trán trên cung gò má.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống cân cơ nông vùng mặt (SMAS) nằm ở lớp nào trong cấu trúc giải phẫu 5 lớp của mặt và có mối liên hệ như thế nào với các cơ bám da?
Trong cấu trúc 5 lớp của vùng mặt, SMAS nằm ở lớp thứ ba. Về nguồn gốc phôi thai, SMAS và các cơ bám da mặt cùng phát triển từ cung mang thứ hai. Ở vùng trán, SMAS liên tục với cơ trán và cân trên sọ (galea aponeurotica); ở vùng mi mắt liên tục với cơ vòng mắt; ở 1/3 dưới mặt liên tục với cơ bám da cổ (platysma).

2. "Bộ ba McGregor" là gì và phẫu thuật viên cần lưu ý điều gì khi tiếp cận vùng này?
Bộ ba McGregor là phức hợp giải phẫu nằm tại vùng mảng McGregor (dây chằng gò má), gồm 3 thành phần chính: (1) nhánh xuyên của động mạch ngang mặt, (2) ống tuyến nước bọt mang tai, và (3) nhánh gò má của dây thần kinh mặt. Khi bóc tách vạt da hoặc SMAS qua vùng này, phẫu thuật viên phải nhận diện chính xác để tránh làm đứt ống tuyến mang tai và tổn thương nhánh gò má gây liệt vận động cơ vùng mặt.

3. Thân chính thần kinh mặt sau khi rời lỗ trâm chũm thường phân chia như thế nào?
Thân chính thần kinh mặt sau khi chui ra khỏi lỗ trâm chũm (nằm sâu dưới da khoảng 1 - 2 cm) sẽ đi vào tuyến mang tai và phân chia thành 2 ngành chính: ngành trên (ngành thái dương - mặt, kích thước lớn hơn) và ngành dưới (ngành cổ - mặt), hoặc trong một số trường hợp tách thành 3 ngành. Vị trí phân chia này nằm cách góc xương hàm dưới một khoảng xác định (khoảng 21 - 35 mm trong y văn) và chủ yếu nằm phía trên góc hàm.

4. Mạc cơ bám da cổ - tai (PAF) có ý nghĩa ứng dụng lâm sàng như thế nào theo đề xuất của luận án?
Mạc PAF là cấu trúc mạc kết nối giữa SMAS và bao tuyến mang tai ở vùng trước bình tai. Luận án đề xuất ứng dụng đường rạch trước PAF để đi thẳng vào mặt phẳng vô mạch dưới SMAS. Lớp da phủ trên PAF không di động do dính chắc, việc rạch trước bờ trên PAF cho phép tiếp cận nhanh chóng, chuẩn xác vào khoang trượt an toàn mà không làm tổn thương các nhánh thần kinh mặt nằm sâu bên dưới.

5. Nhánh bờ hàm dưới của thần kinh mặt có mối tương quan giải phẫu như thế nào với động mạch mặt và xương hàm dưới?
Nhánh bờ hàm dưới (thuộc ngành cổ - mặt) chạy hướng ra trước và bắt chéo qua động mạch mặt. Vị trí đi của nhánh này có thể nằm ở phía trên hoặc phía dưới bờ dưới thân xương hàm dưới tùy thuộc vào vị trí tương quan với động mạch mặt; ở người cao tuổi có tình trạng sa trễ mô mềm, nhánh này có thể nằm thấp hơn bờ dưới xương hàm dưới. Do có rất ít nhánh thông nối bù trừ, nhánh bờ hàm dưới là một trong những nhánh dễ bị tổn thương nhất trong các can thiệp ngoại khoa vùng hàm dưới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Lê Quang Tuyền là công trình nghiên cứu hình thái học toàn diện về hệ thống cân cơ nông (SMAS), hệ thống dây chằng nâng đỡ, các khoang vùng mặt và mối liên quan với thần kinh mặt trên người Việt trưởng thành. Bằng phương pháp phẫu tích đại thể kết hợp khảo sát vi thể mô học và đo đạc nhân trắc giải phẫu trên thi thể, tác giả đã cung cấp bộ dữ liệu định lượng chuẩn xác và làm sáng tỏ cấu trúc các lớp giải phẫu vùng mặt. Công trình xác lập cơ sở khoa học cho các mốc định vị ngoại khoa quan trọng và đề xuất đường rạch trước PAF vào dưới SMAS, góp phần nâng cao hiệu quả và tính an toàn trong phẫu thuật tạo hình - thẩm mỹ và phẫu thuật hàm mặt tại Việt Nam.