CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu các dây chằng, lớp và khoang vùng mặt 1. Danh pháp các dây chằng, lớp và khoang vùng mặt 1. Nguyên tắc định danh Trong quá trình thu thập dữ kiện và hoàn thành cuốn sách BNA, hội đồng đã nhất trí đưa ra các nguyên tắc sau: 1.
Mỗi cấu trúc chỉ được đặt duy nhất một thuật ngữ. Tất cả các thuật ngữ phải bằng tiếng Latin. Mỗi quốc gia có quyền tự do dịch những thuật ngữ chính thống Latin đó thành tiếng bản xứ của riêng họ. Tất cả các thuật ngữ cần ngắn gọn và đơn giản.
Những thuật ngữ sẽ là các dấu hiệu chỉ điểm cho trí nhớ. Các cấu trúc liên quan mật thiết về mặt vị trí và hình thể sẽ phải có các tên gọi càng giống nhau càng tốt. Các tính từ phân biệt sẽ được sắp xếp thành từng cặp đối lập. Các từ chỉ về tên người sẽ không được sử dụng trong danh pháp giải phẫu đại thể và vi thể chính thống [1].
* Định nghĩa và phân loại Khái niệm “dây chằng” theo từ điển y khoa Dorland được định nghĩa là một dải mô sợi nối giữa xương và sụn, nhằm hỗ trợ và củng cố khớp [2]. Tuy nhiên, các dây chằng vùng đầu mặt lại được mô tả có nguyên ủy ở xương hoặc mạc và có bám tận ở da. Vì vậy, nhiều tác giả khi nghiên cứu về dây chằng đã sử dụng những thuật ngữ khác nhau để mô tả. là người đầu tiên sử dụng danh pháp “dây chằng nâng đỡ” khi ông mô tả các dây chằng nâng đỡ của vùng má.
Về mặt vi thể, ông ghi nhận cấu trúc của dây chằng có hình ảnh tương tự như cây, với gốc cây là vị trí dày 4 lên ở màng xương hoặc dày lên của mạc sâu, từ đó sẽ phân thành nhiều nhánh tiếp cận với lớp cân cơ nông và đến bám tận tại lớp da. Mạng lưới các sợi phân nhánh này được đặt tên là mô liên kết chân bì da, trong đó dây chằng là một phần của hệ thống các vách ngăn sợi lớn, phức tạp trong lớp dưới da [3]. Cấu tạo này cũng được Gosain A. mô tả trong cấu trúc “lớp mạc - mỡ” của khuôn mặt, những thành phần của các dây chằng nâng đỡ được mở rộng vào lớp dưới da nằm nông có thể đóng vai trò trong việc hình thành các vách và phân chia lớp này thành các khoang mỡ của mặt [4].
Khái niêm này đã nhận được sự đồng thuận của nhiều tác giả khác do cũng tìm thấy một số ranh giới vách nằm dưới da chồng lấp lên vị trí các các dây chằng nâng đỡ nằm sâu hơn và ghi nhận các dây chằng nâng đỡ cùng với các vách sợi dưới da tạo thành các vùng kết dính sẽ phân chia khuôn mặt thành các khoang nông và sâu [5]. Vị trí giải phẫu các dây chằng nâng đỡ trên mặt * Nguồn: theo Alghoul M. và cs (2013) [6] Theo Stuzin J. và cs, các dây chằng nâng đỡ được phân loại thành: (1) dây chằng da - xương xuất phát từ màng xương (như dây chằng gò má, dây chằng hàm dưới) và (2) dây chằng mạc - da (như dây chằng da cơ cắn, dây 5 chằng da tuyến mang tai), những dây chằng này sẽ kết hợp cùng với mạc nông và mạc sâu của mặt [7], [8].
cùng với Moss C. và cs đã mô tả cấu tạo vi thể của một dây chằng nâng đỡ thực sự là những mô sợi được sắp xếp thành hình trụ và có cấu trúc giống như mô liên kết chân bì da mà Furnas D. Với định nghĩa này, các tác giả đã xem dây chằng gò má và dây chằng cơ cắn chính là những dây chằng nâng đỡ thực sự [9], [10]. và cs cũng đã tìm thấy và mô tả thêm một số những dạng liên kết khác của dạng dây chằng như: vách hoặc các liên kết dính (chủ yếu được tìm thấy trong vùng thái dương và vùng quanh ổ mắt), nhưng ông cho rằng các vách và liên kết dính không phải là những dây chằng nâng đỡ thực sự vì chúng không bám tận trực tiếp vào lớp da mà thay vào đó các vách lại có liên kết trực tiếp lên hệ thống cân cơ nông vùng mặt (SMAS) và gián tiếp lên lớp da thông qua mô liên kết chân bì da [10].
Do đó, các tác giả đã đề xuất sử dụng một thuật ngữ khái quát hơn là “các dây chằng của lớp mô nông” để bao gồm những dây chằng nâng đỡ thật sự và các dạng liên kết khác [6]. Như vậy, những dây chằng nâng đỡ khuôn mặt có cấu tạo là những liên kết sợi rất chắc xuất phát từ màng xương hoặc lớp mạc sâu từ đó xuyên qua, thẳng góc với các lớp của mặt và bám vào lớp da. Những dây chằng này có vai trò làm các điểm cố định để nâng đỡ, ổn định da và lớp cân cơ nông (superficial musculoaponeurotic) vào các lớp mạc sâu nằm bên dưới cũng như phần sọ mặt tại một số vị trí giải phẫu nhất định [6].Vì vậy, đa số các tác giả đã sử dụng thuật ngữ “dây chằng nâng đỡ của khuôn mặt” để giải thích các dây chằng đề cập trước đó trên khuôn mặt [6], [11], [12], [13]. Danh pháp Bảng 1.
Danh pháp các dây chằng nâng đỡ mặt Danh pháp dây chằng Từ đồng nghĩa giả định 1. Vùng gò má - Mảng McGregor - D/C gò má (Furnas D. Vùng quanh tai - D/C cơ bám da cổ - tai - D/C tai - cơ bám da cổ (Botti G. 1989) [3] - D/C da - tuyến mang tai - Mạc cơ bám da cổ - tai (Furnas D.
1992) [7] - Mạc cơ bám da cổ - tai - D/C cơ bám da cổ - tai (Furnas D. - D/C da tuyến mang tai (Stuzin J. 1992) [7] 2008) [16] - Mạc cơ bám da cổ - tai (Furnas D. 1994) [19] - D/C cơ bám da cổ - tai (Botti G.
2012) [18] - D/C da - tuyến mang tai trước tai (Özdemir R. 2002) [15] - Mạc thái dương - tuyến - Mạc Lore (Labbé G. 2006) [20] mang tai (Lore 1973) [17] - Mạc thái dương - tuyến mang tai (Labbé G. Vùng quanh cơ cắn - D/C da cơ bám da cổ trước - D/C da cơ cắn (Stuzin J.
1989) [3] - D/C da tuyến mang tai - cơ cắn (Özdemir R. 2002) [15] - D/C da cơ bám da cổ - Vách xương hàm dưới (Reece E. Nguyên lý chung các lớp vùng mặt Các lớp của vùng mặt có thể được mô tả qua các chi tiết đặc trưng sau: - Lớp da đầu là cấu trúc đặc trưng căn bản giúp hiểu rõ giải phẫu vùng mặt, đây là phần ít biệt hoá nhất của mặt. Các lớp vùng mặt * Nguồn: theo Mendelson B.
(2009) [22] - Mặt được cấu tạo từ nhiều lớp mô mềm phủ lên nền xương phía dưới. Gồm 5 lớp: da, lớp dưới da, lớp cân cơ nông, lớp mô liên kết lỏng lẻo và lớp mạc sâu. Các lớp này không đồng nhất hay không cùng nguồn gốc, chúng được phân hoá thành từng vùng chức năng riêng biệt. - Vùng có chức năng quan trọng là những vùng nằm trên các hốc xương trên mặt như mi mắt, gò má và miệng.
- Cấu trúc mô sợi đan chéo giúp hỗ trợ kết dính các lớp da tại các vùng trên mặt vào xương sọ. Thành phần các sợi của hệ thống này xuyên qua tất cả các lớp của mặt [2]. - Tại vị trí chuyển tiếp giữa phần xương mặt và các hốc (ổ mắt và ổ miệng) đều có sự chuyển tiếp về cấu trúc giải phẫu. - Cấu trúc phức tạp của mặt có được là do sự cân bằng giữa các mô cử động được và các mô cố định, được hỗ trợ bởi hệ thống các dây chằng.
8 Cấu trúc giải phẫu phức tạp của vùng mặt đều do sự hiện diện của các hốc xương và các yêu cầu về chức năng của chúng. Có sự chuyển đổi về giải phẫu tại ranh giới của các hốc xương và nền xương mặt [23], [24], [25]. Cấu tạo chung năm lớp của vùng mặt 1. Lớp da Chiều dày của lớp da thay đổi tuỳ theo vùng chức năng và thường có xu hướng tỉ lệ nghịch với khả năng di động của vùng đó.
Lớp da mỏng nhất ở vùng mí mắt, dày nhất ở vùng trán và vùng đỉnh mũi. Các vùng da càng mỏng, nếu có nhiều cử động sẽ càng có xu hướng thay đổi [26]. Da có 2 lớp chính, phía trên là biểu bì, là lớp biểu mô lát tầng sừng hóa, tiếp theo là lớp bì tạo bởi mô liên kết sợi collagen có tính đàn hồi, có chứa mạch máu, thần kinh và các thụ thể cảm giác, có chức năng nâng đỡ lớp biểu bì. Bên dưới có lớp mô dưới da còn gọi là lớp hạ bì, gồm nhiều lớp mô mỡ.
Lớp này liền kề với cân sâu hoặc màng ngoài xương [27], [28], [29]. Lớp xơ – mỡ dưới da Gồm 2 phần: (1) lớp mỡ dưới da (tạo nên độ dày và khả năng cử động của da). (2) lớp mạng lưới mô sợi có nhiều mạng liên kết nối lớp da ở trên với SMAS phía dưới. Hai thành phần trên đều đa dạng về khối lượng, sự cân đối và cách bố trí tuỳ theo từng vùng cụ thể trên mặt.
Từng phân vùng của vùng giữa mặt sẽ có độ dày mô mỡ dưới da khác nhau: Lớp dưới da mỏng nhất ở phân vùng mí mắt - gò má, nơi nối với mí mắt; Phân vùng gò má có lớp dưới da tương đối dày và đồng nhất hơn, trong khi phân vùng mũi - môi có lớp mỡ dưới da dày nhất vùng mặt. Vùng có lớp mỡ dưới da càng dày thì mô sợi càng nhiều, càng có nhiều xu hướng chảy xệ và yếu đi theo thời gian [16], [30], [31]. Thuật ngữ “giữa mặt” để chỉ ⅓ giữa mặt, để phân biệt với ⅓ trên và dưới của mặt, được xác định bằng đường nằm ngang phía trên của cung gò má và 9 kéo dài bắt đầu ngay điểm trên bình tai đến khóe mắt ngoài, và đường ở dưới kéo dài từ điểm dưới bình tai đến ngay dưới mép miệng. Vùng giữa mặt có mặt trước và mặt bên * Nguồn: theo Mendelson B.
và cs (2008) [32] Vùng gò má giữa là một phần của vùng giữa mặt, ở mặt trước và có giới hạn trên là mí mắt dưới và giới hạn dưới là rãnh má môi và môi. Gò má giữa có hình tam giác, hẹp phía dưới do sự tạo góc của nếp mũi môi. Bên trong, gò má giữa kết hợp một phần nhỏ với cánh mũi. Bờ ngoài của gò má giữa liên tục với má ngoài, bao quanh phần nhô của xương gò má và phía dưới.
Gò má giữa được hình thành bởi sự hội tụ của 3 phần: phần mi, phần má và phần mũi môi.