Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học "Nghiên cứu giải phẫu động mạch cảnh trong, hành tĩnh mạch cảnh và xoang tĩnh mạch xích-ma vùng xương thái dương" do nghiên cứu sinh Đỗ Hải Thanh Anh thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2020), chuyên ngành Giải phẫu người (mã số: 62720104), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Ngọc Hoa và PGS.TS. Ngô Trí Hùng.

Xương thái dương, đặc biệt là phần đá, có cấu trúc giải phẫu phức tạp, liên quan mật thiết với các cấu trúc thần kinh, tai giữa, tai trong và ba cấu trúc mạch máu lớn: động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá (ĐMCTXĐ), hành tĩnh mạch cảnh (HTMC) và xoang tĩnh mạch xích-ma (XTMXM). Các biến thể giải phẫu của ba cấu trúc mạch máu này thường ít gặp và phần lớn không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Tuy nhiên, khi xuất hiện biểu hiện lâm sàng, các triệu chứng như ù tai theo nhịp mạch, giảm thính lực thường trùng lặp với các bệnh lý tai thông thường, dễ bị bỏ sót trong chẩn đoán. Trong ngoại khoa vùng tai - xương chũm và phẫu thuật nền sọ (như mở hòm nhĩ, tạo hình màng nhĩ, phẫu thuật xuyên mê đạo, cấy ốc tai), sự hiện diện bất ngờ của các biến thể mạch máu (hở ống động mạch cảnh, động mạch cảnh lạc chỗ, hành tĩnh mạch cảnh nằm cao và hở, xoang tĩnh mạch xích-ma nằm lệch trước - ngoài) có thể dẫn đến các tai biến nghiêm trọng như chảy máu ồ ạt khó kiểm soát hoặc thuyên tắc mạch nội sọ.

Tại Việt Nam, các công trình giải phẫu trước đây chủ yếu tập trung vào đoạn ĐMCT trong sọ mà chưa đi sâu vào đoạn trong xương đá cũng như các cấu trúc tĩnh mạch liên quan vùng xương thái dương. Do đó, luận án được triển khai nhằm trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các kích thước giải phẫu của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, khoảng cảnh - ốc tai ở người Việt Nam là bao nhiêu? Có sự khác biệt với kết quả các nghiên cứu khác trên thế giới hay không?
  2. Tỉ lệ xuất hiện các biến thể của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, hành tĩnh mạch cảnh, tỉ lệ các dạng hình thái xoang tĩnh mạch xích-ma ở người Việt Nam có khác biệt gì so với các nghiên cứu của thế giới hay không?
  3. Có mối liên quan nào giữa các biến thể này với nhau không?

Tương ứng với các câu hỏi trên, luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các kích thước của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, khoảng cảnh – ốc tai, xác định tỉ lệ một số biến thể của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, mối liên quan giữa các biến thể này.
  2. Xác định tỉ lệ một số biến thể của hành tĩnh mạch cảnh, mối liên quan giữa các biến thể này với nhau và với biến thể của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá.
  3. Xác định các kích thước của xoang tĩnh mạch xích-ma, tỉ lệ các dạng xoang tĩnh mạch xích-ma theo bảng phân loại cũ và mới, mối tương quan giữa hai bảng phân loại này.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm hai nhóm: các khối xương thái dương trên mẫu xác ướp người trưởng thành và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT) xương thái dương độ phân giải cao tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Chợ Rẫy.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nền tảng phôi thai học, giải phẫu học mô tả và giải phẫu ứng dụng liên quan đến vùng xương thái dương:

  • Về phân đoạn ĐMCT: Luận án điểm lại hệ thống phân loại của Fisher (1938) chia ĐMCT thành 5 đoạn dựa trên hình chụp mạch; phân loại của Gibo (1981) chia 4 đoạn (đoạn cổ, đoạn trong xương đá, đoạn xoang hang, đoạn trên mỏm yên); các mô tả kinh điển tại Việt Nam của Lê Văn Cường, Nguyễn Quang Quyền, Võ Văn Hải, Phan Bảo Khánh; và bảng phân đoạn 8 đoạn cập nhật của Abdulrauf SI và cộng sự (2016) hướng tới vi phẫu thuật và nội soi nền sọ (trong đó ĐMCTXĐ gồm đoạn ốc tai/đoạn đứng và đoạn xương đá/đoạn ngang).
  • Về biến thể ĐMCTXĐ: Luận án tổng hợp các báo cáo và phân tích cơ chế hình thành của hiện tượng ĐMCT nằm lệch ngoài từ Sinnreich AI (1984), Glastonbury CM (2012); hiện tượng hở ống ĐMC vào tai giữa và hố sọ giữa từ Toth M (2006), Sivrice ME (2017); biến thể hở ĐMCT - ốc tai và khoảng cảnh - ốc tai (KCOT) từ Gunbey HP (2011), Hassanein, Takegoshi, Villavicencio; cơ chế phôi thai học của ĐMCT lạc chỗ từ Lasjaunias (1977), Lo WW (1985), Sullivan AM (2019) và tổng kết lịch sử các ca bệnh từ trường hợp đầu tiên của Max E (1899).
  • Về hành tĩnh mạch cảnh: Luận án phân tích cơ chế huyết động học hình thành HTMC sau sinh từ nghiên cứu phôi thai của Okudera H (1994) và Volker JH (2018), các tiêu chuẩn xác định HTMC nằm cao của Valvassori (1984), Atmaca (2014), Friedmann DR (2012) cũng như biến chứng chảy máu trong thủ thuật trích rạch màng nhĩ do Hofmann VM (2017) ghi nhận.
  • Về xoang tĩnh mạch xích-ma: Tác giả phân tích bảng phân loại hình dạng 3 nhóm của Ichijo H (1993) dựa trên tỉ lệ độ sâu/độ rộng và bảng phân loại vị trí 4 nhóm của Dong-Il Sun (2009) dựa trên các mốc cấu trúc tai giữa - tai trong; đồng thời đối chiếu với các nghiên cứu kích thước của Dai PD và Sirikci A.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết là cung cấp một bộ số liệu nhân trắc giải phẫu toàn diện, chuẩn hóa các thông số kích thước, góc tạo thành, khoảng cách can thiệp phẫu thuật, cũng như xác định tỉ lệ thực tế của các biến thể giải phẫu mạch máu vùng xương thái dương trên quần thể người Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân loại

Luận án áp dụng các tiêu chuẩn và phân loại giải phẫu quốc tế:

  1. ĐMCT nằm lệch ngoài: Xác định trên hình chụp CLVT mặt phẳng ngang (axial) khi gối ĐMCT nằm phía ngoài đường kẻ vuông góc với vòng đáy ốc tai tại điểm giữa vòng đáy.
  2. Khoảng cảnh - ốc tai (KCOT): Khoảng cách ngắn nhất từ bờ ngoài thành ống ĐMC (vùng gối) đến vỏ xương của vòng đáy ốc tai. Khi KCOT = 0 mm, xác định có biến thể hở ĐMCT - ốc tai.
  3. Hành tĩnh mạch cảnh nằm cao: Vòm HTMC vượt lên phía trên bờ dưới vòng nhĩ hoặc vượt qua mặt phẳng ngang đi qua vòng đáy ốc tai/cửa sổ tròn.
  4. Phân loại hình thái XTMXM theo Ichijo (1993):
    • Dạng lồi (convex): Độ sâu > 1/2 độ rộng.
    • Dạng bán nguyệt (semicircular): Độ sâu = 1/2 độ rộng.
    • Dạng đĩa (flat-dish): Độ sâu < 1/2 độ rộng.
  5. Phân loại vị trí XTMXM theo Dong-Il Sun (2009): Dựa trên 3 đường tham chiếu kẻ lùi ra sau trên các lát cắt axial:
    • Đường A: Kéo dài đường nối trụ chung với ống bán khuyên sau.
    • Đường B: Kéo dài đường đi đoạn nhĩ thần kinh mặt.
    • Đường C: Kéo dài trục khớp búa - đe.
    • Loại 1: Điểm lồi nhất của XTMXM nằm hoàn toàn sau đường A.
    • Loại 2: Điểm lồi nhất nằm giữa đường A và B.
    • Loại 3: Điểm lồi nhất nằm giữa đường B và C.
    • Loại 4: Điểm lồi nhất nằm trước đường C (lệch trước - ngoài nhiều nhất).

Bảng tóm tắt các biến số nghiên cứu chính

Cấu trúc giải phẫu Biến số định lượng (Kích thước / Góc) Biến thể định tính khảo sát
ĐMCT đoạn trong xương đá • Chiều dài, đường kính đoạn đứng
• Chiều dài, đường kính đoạn ngang
• Góc giữa đoạn đứng và đoạn ngang
• Góc giữa đoạn ngang và mặt phẳng trán ($\alpha$)
• Khoảng cách từ đỉnh xương đá đến đường giữa
• Khoảng cảnh - ốc tai (KCOT)
• Độ dày thành xương tiếp xúc tai giữa
• ĐMCT nằm lệch ngoài
• Hở ống ĐMC vào hố sọ giữa
• Hở ống ĐMC vào tai giữa
• Hở ĐMCT - ốc tai
• ĐMCT lạc chỗ
• Hiện diện ĐM ống chân bướm
Hành tĩnh mạch cảnh • Vị trí đỉnh vòm hành cảnh so với các mốc chuẩn • HTMC nằm cao
• HTMC hở vào tai giữa/tai ngoài
• Túi thừa hành tĩnh mạch cảnh
• Túi thừa hở vào ống tai trong/cống tiền đình
Xoang tĩnh mạch xích-ma • Chiều rộng XTMXM
• Chiều sâu XTMXM
• Phân loại hình thái theo Ichijo
• Phân loại vị trí theo Dong-Il Sun (Loại 1, 2, 3, 4)
• XTMXM nằm lệch ra trước - ngoài

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hai phương pháp: phẫu tích hình thái học trên xác ướp và phân tích hình ảnh học trên phim chụp CLVT độ phân giải cao.
  • Phương tiện thu thập:
    • Mẫu xác ướp: Sử dụng bộ dụng cụ phẫu tích sọ não - xương thái dương, máy mài xương chuyên dụng, đất sét đúc khuôn đo đạc lòng mạch, thước kẹp cơ học và thước đo góc có giấy chứng nhận hiệu chuẩn đo lường (Phụ lục 7).
    • Mẫu hình ảnh: Hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu thu tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM và Bệnh viện Chợ Rẫy; hình ảnh được tái tạo đa mặt phẳng (MPR: axial, coronal, sagittal) trên các cửa sổ xương với độ dày lát cắt dưới 1 mm.
  • Quy trình và đạo đức: Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học, Đại học Y Dược TP.HCM phê duyệt chính thức (Phụ lục 6). Dữ liệu được thu thập độc lập trên các phiếu chuẩn hóa (Phụ lục 1 và 2) và phân tích thống kê y học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 trình bày hệ thống lý thuyết giải phẫu toàn diện về xương thái dương và ba cấu trúc mạch máu trọng điểm:

  • Giải phẫu xương thái dương: Cấu trúc gồm phần trai, phần đá và phần nhĩ. Phần đá định hướng vào trung tâm nền sọ, có 3 mặt (trước, sau, dưới) chứa các mốc phẫu thuật quan trọng như trần hòm nhĩ, lồi cung, vết ấn hạch sinh ba, các rãnh thần kinh đá, ống tai trong, cống tiền đình, mỏm trâm và lỗ rách.
  • Giải phẫu ĐMCTXĐ: Đi trong ống động mạch cảnh, bắt đầu từ lỗ ĐMC ở mặt dưới phần đá, gồm đoạn đứng, uốn cong 90 độ tại gối động mạch ở trước ốc tai và hòm nhĩ, chuyển thành đoạn ngang hướng về đỉnh xương đá. Các nhánh bên hiếm gặp gồm ĐM cảnh - nhĩ và ĐM ống chân bướm (ĐM Vidian).
  • Giải phẫu HTMC: Vùng chuyển tiếp phình to giữa XTMXM và TMCT nằm trong hố tĩnh mạch cảnh dưới sàn hạ nhĩ. Sự hình thành HTMC gắn liền với chuyển đổi huyết động sau sinh khi trẻ đứng thẳng, chịu tác động của xung mạch dội ngược từ nhĩ phải.
  • Giải phẫu XTMXM: Xoang màng cứng dẫn lưu máu từ xoang ngang đổ về lỗ tĩnh mạch cảnh, liên quan mật thiết với sự phát triển khí hóa của các tế bào xương chũm.
  • Các biến thể và hệ quả lâm sàng:
    • ĐMCT nằm lệch ngoài: Do bất thường cốt hóa vách xương hoặc tiêu xương mắc phải, khiến ĐM lồi vào trung nhĩ.
    • Hở ống ĐMC: Khuyết vách xương tại vùng gối hoặc trần đoạn ngang làm ĐM bộc lộ trực tiếp vào tai giữa hoặc hố sọ giữa.
    • ĐMCT lạc chỗ: Hình thành do sự thoái triển của đoạn ĐMCT cổ thời kỳ phôi thai, máu chuyển dòng qua ĐM nhĩ dưới (nhánh ĐM hầu lên) phình lớn đi qua tiểu quản nhĩ dưới vào hạ nhĩ, nối với ĐM móng (ĐM cảnh - nhĩ dãn rộng) ở ụ nhô để đi tiếp vào đoạn ngang.
    • HTMC nằm cao, hở và có túi thừa: Có thể lồi qua sàn hạ nhĩ, ăn mòn vỏ xương ống tai trong, cống tiền đình, dễ gây nhầm lẫn với u thể cuộn (glomus tumor) hoặc rách vỡ khi trích rạch màng nhĩ, phẫu thuật xương chũm.
    • XTMXM lệch trước - ngoài: Làm hẹp phẫu trường trong các phẫu thuật mở thượng nhĩ lối sau, mở hòm nhĩ lối sau hoặc đường vào sau mê đạo.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các bước triển khai thực nghiệm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mẫu xác ướp người trưởng thành bảo quản tại Bộ môn Giải phẫu Đại học Y Dược TP.HCM và hồ sơ phim chụp CLVT xương thái dương thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tại hai bệnh viện thực hành.
  • Tiêu chuẩn chọn và loại trừ: Chọn các trường hợp xương thái dương nguyên vẹn, không bị dị tật bẩm sinh nặng, không có tiền căn chấn thương vỡ xương đá, u phá hủy xương hoặc phẫu thuật làm biến dạng cấu trúc giải phẫu vùng đá - chũm.
  • Kỹ thuật đo đạc:
    • Trên xác: Bộc lộ trực tiếp nền sọ và xương thái dương, phẫu tích từng lớp cấu trúc, dùng thước đo lòng mạch trực tiếp hoặc đo gián tiếp qua khuôn đúc silicon/đất sét.
    • Trên CLVT: Sử dụng các mặt phẳng cắt ngang, trán và tái tạo dọc theo trục mạch máu để đo chiều dài đoạn đứng/ngang, đường kính lòng mạch, góc giữa đoạn đứng - ngang, góc $\alpha$ giữa đoạn ngang với mặt phẳng trán, độ dày thành xương mỏng nhất ngăn cách ống ĐMC với tai giữa, khoảng cách KCOT, kích thước trục lớn/nhỏ của XTMXM.
  • Quản lý và phân tích số liệu: Số liệu được mã hóa, xử lý bằng các thuật toán thống kê y học để so sánh các số đo theo giới tính, theo bên (phải - trái), đánh giá tương quan giữa các kích thước và xác định mối liên hệ giữa các biến thể mạch máu.

Chương 3: Kết quả

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được theo 3 nhóm cấu trúc mạch máu:

  • Động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá:
    • Kích thước chiều dài, đường kính của đoạn đứng và đoạn ngang trên mẫu xác và phim CLVT.
    • Góc giữa đoạn đứng và đoạn ngang; góc giữa phần ngang ĐMCTXĐ và mặt phẳng trán ($\alpha$) trên cả hai bên sọ.
    • Khoảng cách từ vị trí ĐMCTXĐ thoát ra ở đỉnh xương đá đến đường giữa nền sọ.
    • Trị số khoảng cảnh - ốc tai (KCOT) và phân bố theo nhóm tuổi, giới tính.
    • Tỉ lệ hở ống ĐMC về phía hố sọ giữa (chiều dài đoạn hở, phân bố một bên/hai bên).
    • Tỉ lệ hở ống ĐMC về phía tai giữa, độ dày vách xương ống ĐMC tiếp xúc với hòm nhĩ.
    • Tỉ lệ xuất hiện biến thể ĐMCT nằm lệch ngoài và mối liên quan giữa ĐMCT nằm lệch ngoài với tình trạng hở ống ĐMC, độ dày vách xương và góc gập ĐMCTXĐ.
  • Hành tĩnh mạch cảnh:
    • Tỉ lệ HTMC nằm cao, phân bố theo giới tính và theo bên.
    • Tỉ lệ HTMC nằm cao bị hở vách xương vào hòm nhĩ hoặc ống tai ngoài.
    • Tỉ lệ xuất hiện túi thừa HTMC trong nhóm HTMC nằm cao; các vị trí túi thừa lồi vào ống tai trong hoặc cống tiền đình.
  • Xoang tĩnh mạch xích-ma:
    • Kích thước chiều rộng và chiều sâu của XTMXM trên mẫu xác và hình ảnh CLVT (so sánh giữa bên phải và bên trái, giữa nam và nữ).
    • Phân loại hình thái XTMXM theo tiêu chuẩn Ichijo (tỉ lệ dạng lồi, bán nguyệt, đĩa).
    • Phân loại vị trí XTMXM theo hệ thống 4 nhóm của Dong-Il Sun (Loại 1 đến Loại 4).
    • Tương quan giữa phân loại Ichijo và Dong-Il Sun; so sánh độ sâu giữa các loại XTMXM; mối liên quan giữa vị trí XTMXM với sự hiện diện của HTMC nằm cao.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tiến hành biện giải số liệu và đối chiếu sâu sắc với các tác giả trong và ngoài nước:

  • Về phương pháp và mẫu: Phân tích tính ưu việt và sự tương đồng giữa phương pháp đo trực tiếp trên xác và đo gián tiếp trên CLVT lát cắt mỏng.
  • Về ĐMCTXĐ: So sánh các kích thước hình thái học (chiều dài, đường kính, góc gập) với các nghiên cứu của Villavicencio, Takegoshi; bàn luận về chỉ số KCOT và tỉ lệ hở ĐMCT - ốc tai khi đối chiếu với công trình của Hassanein, Gunbey; phân tích đặc điểm nhận diện ĐMCT lạc chỗ và ĐMCT lệch ngoài trong thực hành khám tai và can thiệp ngoại khoa.
  • Về HTMC: Bàn luận về tính bất đối xứng bên (ưu thế bên phải) của HTMC, mối liên quan đồng thời giữa HTMC nằm cao với tình trạng hở ống ĐMC vào tai giữa.
  • Về XTMXM: So sánh kích thước xoang và mối liên quan với HTMC nằm cao với dữ liệu của Dai PD; phân tích mức độ tương thích của hai bảng phân loại Ichijo và Dong-Il Sun khi so sánh với công bố gốc của Sun DI (2009) và Sirikci A.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Dữ liệu nhân trắc giải phẫu chuẩn xác cho người Việt Nam: Luận án là công trình đầu tiên tại Việt Nam thiết lập hệ số kích thước chi tiết (chiều dài, đường kính, góc tiếp cận, khoảng cách can thiệp) của ĐMCTXĐ, khoảng cảnh - ốc tai, HTMC và XTMXM đồng thời trên cả mẫu phẫu tích xác ướp và hình ảnh CLVT độ phân giải cao.
  2. Xác định tỉ lệ các biến thể mạch máu tiềm ẩn rủi ro ngoại khoa: Đề tài đã lượng hóa tỉ lệ các biến thể nguy hiểm trong phẫu thuật tai - xương chũm và phẫu thuật nền sọ ở người Việt Nam, bao gồm: hở ống ĐMC vào hố sọ giữa và tai giữa, ĐMCT nằm lệch ngoài, khoảng cách cảnh - ốc tai bằng 0 (hở ĐMCT - ốc tai), HTMC nằm cao và hở, túi thừa HTMC lồi vào ống tai trong/cống tiền đình.
  3. Khẳng định mối tương quan giữa các biến thể: Luận án chỉ ra mối liên hệ có ý nghĩa giữa tình trạng HTMC nằm cao với sự gia tăng kích thước của XTMXM, cũng như mối liên quan giữa hở ống ĐMC với hiện tượng ĐMCT nằm lệch ngoài.
  4. Kiểm chứng và ứng dụng các thang phân loại hiện đại: Đề tài đã áp dụng thành công và xác lập tương quan giữa bảng phân loại hình thái Ichijo với bảng phân loại định hướng phẫu thuật Dong-Il Sun cho XTMXM trên người Việt Nam, cung cấp cơ sở tin cậy cho phẫu thuật viên tai mũi họng và thần kinh lập kế hoạch mổ an toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số lượng mẫu xác ướp bị giới hạn do nguồn hiến xác giải phẫu; đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người trưởng thành nên chưa theo dõi liên tục được toàn bộ tiến trình biến đổi hình thái từ giai đoạn chu sinh, trẻ nhỏ đến tuổi già.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu trên các nhóm bệnh nhân có bệnh lý tai cụ thể (như viêm tai giữa mạn tính tiêu xương, xốp xơ tai, điếc tiếp nhận cần cấy điện cực ốc tai) và ứng dụng kỹ thuật mô phỏng hình ảnh 3D để tái hiện không gian giải phẫu phục vụ đào tạo phẫu thuật giả lập.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị khoa học và thực tiễn cao đối với nhiều chuyên ngành:

  • Ngoại khoa Tai Mũi Họng & Phẫu thuật Tai - Thần kinh: Cung cấp các mốc giải phẫu an toàn khi thực hiện mở hòm nhĩ lối sau, mở thượng nhĩ lối sau, phẫu thuật khoét tiệt căn xương chũm, phẫu thuật cấy ốc tai và các đường mổ xuyên mê đạo/sau mê đạo.
  • Ngoại thần kinh & Phẫu thuật Nền sọ: Là tài liệu tham khảo cho các can thiệp vào vùng đỉnh xương đá, hố sọ giữa, vùng góc cầu - tiểu não và lỗ tĩnh mạch cảnh.
  • Chẩn đoán hình ảnh: Giúp các bác sĩ X-quang nhận diện chuẩn xác các biến thể mạch máu bẩm sinh/mắc phải trên phim CLVT xương thái dương lát mỏng, tránh chẩn đoán nhầm biến thể mạch máu với các khối u vùng tai giữa (như u hạt, u cuộn mạch, u tế bào Schwann).
  • Giảng dạy và nghiên cứu giải phẫu người: Bổ sung bộ dữ liệu hình thái học hoàn chỉnh vào giáo trình giải phẫu ứng dụng hệ mạch máu và nền sọ.

Câu hỏi thường gặp

1. ĐMCT đoạn trong xương đá gồm những phân đoạn nào và có các nhánh bên nào?

ĐMCTXĐ nằm trong ống động mạch cảnh của xương thái dương, gồm 2 đoạn chính: đoạn đứng (bắt đầu từ lỗ ĐMC ở mặt dưới xương đá hướng lên trên ngang mức ốc tai) và đoạn ngang (bắt đầu sau khi gối ĐM bẻ góc vuông ra trước - vào trong, kết thúc tại đỉnh xương đá). ĐMCTXĐ có thể cho 2 nhánh bên nhỏ nhưng có ý nghĩa bàng hệ là ĐM cảnh - nhĩ (gần vùng gối đi vào hòm nhĩ) và ĐM ống chân bướm (ĐM Vidian, từ đoạn ngang đi vào ống chân bướm).

2. Tiêu chuẩn xác định ĐMCT nằm lệch ngoài trên phim chụp CLVT là gì?

Trên hình chụp CLVT mặt phẳng ngang (axial), ĐMCTXĐ được xác định là nằm lệch ngoài khi gối của ĐMCT nằm lệch hẳn ra phía ngoài so với đường kẻ vuông góc với vòng đáy ốc tai tại điểm giữa của vòng đáy ốc tai, kèm theo tình trạng lồi vào phần trước của trung nhĩ.

3. ĐMCT lạc chỗ hình thành theo cơ chế phôi thai học nào và khác gì với ĐMCT nằm lệch ngoài?

Theo giả thuyết của Lasjaunias, ĐMCT lạc chỗ hình thành do sự thoái triển của đoạn ĐMCT cổ thời kỳ phôi thai; để bù trừ, ĐM nhĩ dưới (thuộc ĐM hầu lên) dãn lớn đi qua tiểu quản nhĩ dưới vào hạ nhĩ, nối với ĐM cảnh - nhĩ dãn rộng (ĐM móng) tại lồi ốc tai rồi mới đi tiếp vào đoạn ngang ĐMCTXĐ bình thường (trên phim không thấy đoạn đứng bình thường). Trong khi đó, ĐMCT nằm lệch ngoài vẫn có đoạn đứng bình thường nhưng toàn bộ mạch máu bị uốn khúc, lệch ra phía sau - ngoài so với ốc tai và lồi vào trung nhĩ.

4. Bảng phân loại xoang tĩnh mạch xích-ma của Dong-Il Sun (2009) dựa trên các mốc giải phẫu nào?

Phân loại Dong-Il Sun dựa trên 3 đường tham chiếu kẻ ra sau trên phim CLVT mặt phẳng ngang:

  • Đường A: Nối trụ chung với ống bán khuyên sau (quy chiếu vùng tế bào chũm quanh hang chũm).
  • Đường B: Dọc theo đoạn nhĩ thần kinh mặt (hướng tiếp cận mở hòm nhĩ lối sau).
  • Đường C: Dọc theo trục khớp búa - đe (hướng tiếp cận mở thượng nhĩ lối sau). Xoang được chia thành 4 loại (từ Loại 1 đến Loại 4), số thứ tự càng cao thì xoang càng nằm lệch ra phía trước - ngoài, làm hẹp đáng kể phẫu trường can thiệp.

5. Hành tĩnh mạch cảnh được hình thành và phát triển theo cơ chế huyết động học nào sau sinh?

Ở giai đoạn bào thai (khoảng 3 tháng), cấu trúc này chỉ là một đoạn hẹp gọi là hành tĩnh mạch cảnh nguyên thủy (hoặc xoang cảnh) được bao bọc bởi mô sụn và xương nên chưa phình lớn. Từ 2 tuổi trở đi, khi trẻ bắt đầu đứng thẳng, hiệu ứng dội ngược của sóng mạch từ nhĩ phải tác động trực tiếp theo hướng thẳng góc lên trần xoang cảnh qua lỗ tĩnh mạch cảnh, tạo lực cơ học ăn mòn mở rộng hố xương xung quanh, hình thành nên hành tĩnh mạch cảnh thực thụ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hải Thanh Anh là công trình nghiên cứu giải phẫu chuyên sâu, kết hợp chặt chẽ giữa phẫu tích hình thái học trên xác ướp và chẩn đoán hình ảnh cắt lớp vi tính độ phân giải cao trên người Việt Nam. Đề tài đã cung cấp hệ thống số liệu nhân trắc toàn diện về kích thước, các góc giải phẫu và khoảng cách phẫu thuật liên quan đến động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, hành tĩnh mạch cảnh và xoang tĩnh mạch xích-ma. Đồng thời, việc xác định tỉ lệ và mối tương quan giữa các biến thể mạch máu tiềm ẩn nguy cơ cao đã mang lại những đóng góp thiết thực cho thực hành lâm sàng, giúp nâng cao độ an toàn và hạn chế tối đa tai biến trong phẫu thuật tai - xương chũm và phẫu thuật nền sọ.