Tổng quan luận án

Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến hàng đầu trên thế giới. Theo số liệu thống kê từ GLOBOCAN 2018, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư thường gặp ở cả hai giới (đứng thứ ba ở nam giới và thứ hai ở nữ giới), đồng thời là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai trên phạm vi toàn cầu. Tại châu Âu, vào năm 2012 ghi nhận khoảng 447.000 ca mắc mới. Ung thư trực tràng chiếm từ 27% đến 58% tổng số các trường hợp ung thư đại trực tràng, với tần suất ghi nhận tại Hoa Kỳ và châu Âu đạt khoảng 40 ca trên 100.000 dân. Tiên lượng của ung thư trực tràng phức tạp do nguy cơ tái phát tại chỗ và di căn xa ở mức cao; đặc biệt có khoảng 55% trường hợp được phát hiện ở giai đoạn II và III – thời điểm bắt buộc phải áp dụng phác đồ điều trị đa mô thức.

Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ tư ở nam giới và thứ hai ở nữ giới về tỷ lệ mới mắc cũng như tỷ lệ tử vong do ung thư, với dự báo sẽ trở thành loại ung thư phổ biến thứ hai tính chung cho cả hai giới. Khám lâm sàng bằng tay, nội soi trực tràng và sinh thiết mô bệnh học chỉ xác định được bản chất khối u mà không thể đánh giá chính xác độ xâm lấn xuyên thành, mức độ xâm lấn mạc treo trực tràng, tổn thương cơ thắt hay tình trạng di căn hạch vùng. Các phương tiện hình ảnh như siêu âm trong lòng trực tràng và chụp cắt lớp vi tính tồn tại nhiều hạn chế về trường nhìn, nguy cơ nhiễm xạ hoặc độ tương phản mô mềm. Chụp cộng hưởng từ với chuỗi xung độ phân giải cao và cuộn thu bề mặt đa kênh cho phép quan sát giải phẫu các lớp thành trực tràng, mạc của mạc treo trực tràng và hệ thống cơ thắt. Tuy nhiên, các dữ liệu nghiên cứu toàn diện đối chiếu giữa cộng hưởng từ và giải phẫu bệnh sau mổ phẫu thuật triệt để tại Việt Nam vẫn còn thiếu hụt.

Luận án "Nghiên cứu giá trị cộng hưởng từ trong chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng giữa và dưới được phẫu thuật triệt để" do nghiên cứu sinh Phạm Công Khánh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hoàng Bắc tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Ngoại tiêu hóa, mã số: 62720125, năm 2021), nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của cộng hưởng từ trong chẩn đoán giai đoạn ung thư trực tràng giữa và dưới được phẫu thuật triệt để.
  2. Xác định tính khả thi của phẫu thuật triệt để điều trị ung thư trực tràng giữa và dưới dựa trên cộng hưởng từ và liên quan giữa hình ảnh cộng hưởng từ với giải phẫu bệnh sau mổ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư trực tràng tầng giữa và tầng dưới, được chụp cộng hưởng từ tiền phẫu và thực hiện phẫu thuật triệt để có đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về mặt lịch sử giải phẫu và ngoại khoa, khái niệm "mạc của mạc treo trực tràng" lần đầu tiên được Maunsell đề cập vào năm 1892 và sau đó được Heald chuẩn hóa, phổ biến vào năm 1982 thông qua kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (Total Mesorectal Excision - TME). Kỹ thuật này đã tạo nên sự thay đổi lớn trong kết quả ngoại khoa, hạ tỷ lệ tái phát tại chỗ xuống dưới 10% và giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến ung thư trực tràng từ 16% xuống còn 9%. Tiếp đó, Quirke (1986, 2009) và Nagtegaal (2002) đã chứng minh vai trò then chốt của việc đánh giá bệnh phẩm mạc treo trực tràng và diện cắt vòng quanh (Circumferential Resection Margin - DCVQ). Các thử nghiệm lâm sàng lớn như nghiên cứu của Hà Lan và thử nghiệm CLASSICC đã chuẩn hóa quy trình đánh giá bệnh phẩm sau mổ, khẳng định tình trạng DCVQ dương tính (khoảng cách từ mô u hoặc hạch di căn đến DCVQ $\le$ 1mm) là yếu tố dự báo tái phát tại chỗ độc lập.

Về chẩn đoán hình ảnh, phân tích gộp 21 nghiên cứu của Bipat và cộng sự cho thấy cộng hưởng từ có độ đặc hiệu chẩn đoán xâm lấn mạc của mạc treo trực tràng đạt 94%, độ đặc hiệu xâm lấn xuyên thành đạt 75% và di căn hạch đạt 71%; tỷ số chênh chẩn đoán (Diagnostic Odds Ratio) lần lượt là 56,1; 20,4 và 8,3. Các nghiên cứu của Brown G. (2004), Beets-Tan (2001), Oberholzer (2008), Salerno G. (2006), Horvat N. (2019) và Grone J. (2018) đã xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá giải phẫu mạc treo trực tràng, mạc Denonvilliers, nếp phúc mạc và hình thái hạch ác tính trên chuỗi xung T2WI độ phân giải cao.

Phương thức chẩn đoán hình ảnh Độ chính xác đánh giá T (%) Độ chính xác / Độ nhạy đánh giá N (%) Hạn chế chính được ghi nhận
Siêu âm trong lòng trực tràng (SATLTT) 75 – 95 62 – 83 Khó thực hiện khi u to gây hẹp lòng trực tràng; phụ thuộc kỹ năng người làm.
Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) 53 – 94 54 – 73 Nhiễm tia xạ; độ phân giải tương phản mô mềm vùng chậu kém.
Cộng hưởng từ cuộn thu trong lòng 85 Độ nhạy: 90,9; Độ đặc hiệu: 55,5 Trường khảo sát hẹp, làm biến dạng mô, gây khó chịu, không qua được chỗ hẹp.
Cộng hưởng từ cuộn thu bề mặt 59 – 95 39 – 95 Cần máy từ lực cao, chuyên môn đọc hình thái hạch nhỏ và phân biệt xơ hóa.

Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình chủ yếu tập trung vào siêu âm nội trực tràng hoặc khảo sát bước đầu về chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ đơn thuần. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện và đối chiếu chặt chẽ giữa hình ảnh cộng hưởng từ độ phân giải cao với giải phẫu bệnh vi thể về mức độ xâm lấn mạc của mạc treo trực tràng, ranh giới cơ thắt và khả năng thực hiện phẫu thuật triệt để ở nhóm bệnh nhân ung thư trực tràng giữa và dưới. Luận án của tác giả Phạm Công Khánh được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật và thực tiễn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và giải phẫu ứng dụng trên hình ảnh học

Luận án dựa trên cơ sở phân loại giải phẫu và bệnh học tiêu chuẩn quốc tế:

  • Phân đoạn trực tràng: Xác định theo chiều dài 15cm từ rìa hậu môn qua nội soi ống cứng, chia thành: trực tràng dưới (0 – 5cm), trực tràng giữa (5,1 – 10cm) và trực tràng trên (10,1 – 15cm).
  • Cấu trúc thành trực tràng trên CHT: Về mô học có 5 lớp, nhưng trên chuỗi xung T2WI phân giải được 3 lớp: lớp niêm mạc (tín hiệu thấp trong cùng), lớp dưới niêm (tín hiệu cao ở giữa) và lớp cơ (tín hiệu thấp ngoài cùng).
  • Mạc của mạc treo trực tràng (Mesorectal Fascia - MRF): Dải mỏng giảm tín hiệu trên T2WI bao bọc quanh mỡ mạc treo trực tràng, tương ứng với mặt phẳng phẫu tích vô mạch trong phẫu thuật TME.
  • Các mốc giải phẫu liên quan: Mạc Denonvilliers ở phía trước; mạc cùng - trực tràng (mạc Waldeyer) ngang mức đốt sống cùng 4 (S4); khoang sau trực tràng; nếp phúc mạc với dấu hiệu "chim mòng biển" trên mặt phẳng cắt ngang; phức hợp cơ thắt trong, cơ dọc kết hợp, cơ thắt ngoài và cơ nâng hậu môn.
  • Phân loại mô bệnh học: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phân độ mô học ung thư biểu mô tuyến (biệt hóa tốt G1 >95% tuyến; biệt hóa vừa G2 50–95%; biệt hóa kém G3 5–50%; không biệt hóa G4 <5%). Dạng tiết nhầy (>50% chất nhầy) và tế bào nhẫn được xếp vào nhóm biệt hóa kém.
  • Hệ thống dẫn lưu bạch huyết: Theo phân vùng của Hiệp hội Ung thư Đại Trực tràng Nhật Bản (JSCCR) cho ung thư trực tràng thấp bao gồm các nhóm hạch chậu bên (263P, 263D, 283, 273, 293, 260, 270, 280).

Tiêu chuẩn đánh giá trên cộng hưởng từ và giải phẫu bệnh

  1. Đánh giá xâm lấn diện cắt vòng quanh (DCVQ):
    • Khoảng cách từ u/hạch đến mạc của MTTT $< 1\text{ mm}$: DCVQ bị xâm lấn (+).
    • Khoảng cách từ 1 đến 2 mm: Nguy cơ đe dọa xâm lấn DCVQ.
    • Khoảng cách $> 2\text{ mm}$: DCVQ an toàn (-).
  2. Tiêu chuẩn diện cắt dưới an toàn: Bờ dưới thành trực tràng cách u tối thiểu 1,5cm và giới hạn dưới mạc treo trực tràng cách u tối thiểu 4cm (theo Zhao và cộng sự).
  3. Tiêu chuẩn đánh giá hạch ác tính: Dựa trên sự kết hợp giữa kích thước (đường kính trục ngắn) và các đặc điểm hình thái học (bờ không đều, tín hiệu mô hạch không đồng nhất, hoại tử hoặc chứa chất nhầy).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc theo quy trình phẫu thuật và đối chiếu giải phẫu bệnh sau mổ.
  • Quy trình kỹ thuật CHT: Sử dụng máy cộng hưởng từ từ lực cao với cuộn thu bề mặt đa kênh vùng chậu. Chuỗi xung T2WI được thực hiện trên 3 mặt phẳng không gian: đứng dọc (sagittal), đứng ngang (coronal) và mặt phẳng ngang chéo (axial oblique) vuông góc với trục của đoạn trực tràng mang khối u; kết hợp chuỗi xung khuếch tán (DWI) và bản đồ hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC).
  • Quy trình giải phẫu bệnh: Mẫu bệnh phẩm sau phẫu thuật TME được cố định, quan sát đại thể, đánh giá độ nguyên vẹn của mạc treo theo phân loại Quirke (nguyên vẹn, gần nguyên vẹn, không nguyên vẹn), nhuộm mực bề mặt diện cắt, cắt lát ngang liên tục cách nhau 5mm để khảo sát vi thể tình trạng xâm lấn thành (T), số lượng hạch và hạch di căn (N), diện cắt dưới và DCVQ.
  • Phân tích dữ liệu: Sử dụng các thuật toán dịch tễ học lâm sàng để tính độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp), độ chính xác (Acc), giá trị tiên đoán dương (PPV), giá trị tiên đoán âm (NPV) và chỉ số đồng thuận Kappa giữa hai bác sĩ đọc kết quả độc lập.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Tác giả đặt vấn đề về gánh nặng y tế của ung thư trực tràng trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Phân tích sự cần thiết của chẩn đoán chính xác giai đoạn T, N, tình trạng xâm lấn mạc của mạc treo trực tràng và hệ thống cơ thắt hậu môn trước mổ nhằm cá thể hóa điều trị đa mô thức, quyết định chỉ định xạ trị/hóa xạ trị tiền phẫu và lựa chọn phương pháp phẫu thuật bảo tồn cơ thắt hoặc phẫu thuật triệt căn.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Nội dung chương 1 tổng hợp các cơ sở lý thuyết và thực tiễn từ y văn:

  • Giải phẫu chi tiết vùng chậu, trực tràng, khoang sau trực tràng, các lớp mạc nội chậu, nếp phúc mạc và giải phẫu hệ thống cơ thắt hậu môn trên hình ảnh cộng hưởng từ chuỗi xung T2WI.
  • Phân loại mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến, ung thư tuyến nhầy, tế bào nhẫn, tiêu chuẩn phân độ mô học G1–G4 và phân loại chất lượng bệnh phẩm TME theo Quirke.
  • Các nguyên lý kỹ thuật CHT: chuỗi xung T2WI độ phân giải cao định hướng 3 mặt phẳng, hình ảnh khuếch tán DWI/ADC, vai trò của chất tương phản từ tĩnh mạch và CHT toàn thân.
  • Phân tích chi tiết các dấu hiệu CHT đánh giá giai đoạn T, N, xâm lấn mạch máu ngoài thành (EMVI), xâm lấn quanh thần kinh và tương quan với mạc của MTTT.
  • Tổng quan các phương pháp ngoại khoa: phẫu thuật nội soi cắt u qua ngả hậu môn (TEM/TAMIS), cắt trước thấp (LAR), cắt trước cực thấp (uLAR), cắt gian cơ thắt (ISR), cắt trực tràng qua đường bụng - tầng sinh môn (Miles) và kỹ thuật TME.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân ung thư trực tràng giữa và dưới được chỉ định phẫu thuật triệt để:

  • Định nghĩa rõ ràng các biến số nghiên cứu lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh.
  • Chuẩn hóa quy trình chụp CHT vùng chậu với các thông số kỹ thuật lát cắt mỏng.
  • Quy trình phẫu thuật triệt để kèm nạo vét hạch theo nguyên tắc TME.
  • Quy trình xử lý mẫu bệnh phẩm giải phẫu bệnh theo chuẩn quốc tế: đánh giá độ nguyên vẹn đại thể của mạc treo, kỹ thuật cắt lọc hạch vi thể liên tục lát cắt 5mm.
  • Phương pháp kiểm định thống kê y học, đánh giá độ tin cậy và sự phù hợp giữa các quan sát viên qua hệ số đồng thuận.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập từ quần thể nghiên cứu:

  • Đặc điểm dân số: Phân bố lứa tuổi, giới tính, vị trí giải phẫu của u (trực tràng giữa và trực tràng dưới), kích thước u và hình thái khối u.
  • Giá trị CHT trong chẩn đoán giai đoạn T: Tỷ lệ tương đồng giữa CHT và giải phẫu bệnh ở từng giai đoạn T1, T2, T3, T4a; xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm và độ chính xác chung.
  • Giá trị CHT trong chẩn đoán giai đoạn N: Đối chiếu phân loại N0, N1, N2 trên CHT với kết quả mô bệnh học số lượng hạch vét được; xác định các chỉ số giá trị chẩn đoán của hạch di căn theo kích thước và hình thái.
  • Giá trị CHT trong chẩn đoán xâm lấn mạc của MTTT: Tương quan giữa khoảng cách u - mạc MTTT $< 1\text{ mm}$ trên CHT với diện cắt DCVQ dương tính trên bệnh phẩm; chỉ số đồng thuận giữa hai người đọc độc lập.
  • Tính khả thi của phẫu thuật triệt để: Tỷ lệ thực hiện các loại phẫu thuật (cắt trước thấp, cắt trước cực thấp, cắt gian cơ thắt, phẫu thuật Miles), tỷ lệ thay đổi phương pháp mổ trong phẫu thuật, đánh giá chất lượng mô mạc treo trực tràng và tỷ lệ diện cắt an toàn.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đi sâu phân tích cơ chế và đối chiếu kết quả của luận án với các nghiên cứu quốc tế:

  • So sánh độ chính xác của CHT trong chẩn đoán giai đoạn T và N với kết quả của các tác giả Brown, Beets-Tan, Bipat. Phân tích nguyên nhân gây chẩn đoán quá giai đoạn (overstaging) hoặc dưới giai đoạn (understaging) do hiện tượng viêm, xơ hóa quanh u hoặc vi di căn trong hạch nhỏ $< 5\text{ mm}$.
  • Đánh giá vai trò của CHT độ phân giải cao trong việc tiên lượng xâm lấn diện cắt vòng quanh, từ đó chứng minh tính khả thi của việc lập kế hoạch mổ bảo tồn cơ thắt và cắt toàn bộ mạc treo trực tràng.
  • Bàn luận về chất lượng bệnh phẩm TME, tỷ lệ diện cắt âm tính và sự liên quan giữa vị trí u ở thành trước, u trực tràng thấp với nguy cơ tổn thương diện cắt.
  • Nêu rõ các điểm mạnh, điểm mới mang tính ứng dụng thực tiễn của công trình, đồng thời phân tích các hạn chế nội tại của nghiên cứu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu đối chiếu mô bệnh học và hình ảnh học cộng hưởng từ có quy mô và phương pháp luận chặt chẽ tại Việt Nam về ung thư trực tràng giữa và dưới.
  • Xác định rõ giá trị của các dấu hiệu hình ảnh trên chuỗi xung T2WI độ phân giải cao trong việc đánh giá mức độ thâm nhiễm qua lớp cơ thành trực tràng, ranh giới mạc của mạc treo trực tràng và giải phẫu phức hợp cơ thắt hậu môn.
  • Làm sáng tỏ mối liên quan giữa các đặc điểm hình thái hạch (bờ không đều, tín hiệu không đồng nhất) với bản chất di căn ác tính trên vi thể, khắc phục nhược điểm của việc chỉ dựa vào tiêu chí kích thước hạch đơn thuần.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng

  • Xây dựng và chuẩn hóa quy trình chụp và đọc cộng hưởng từ trực tràng đa bình diện, phục vụ trực tiếp cho việc hội chẩn đa chuyên khoa trước phẫu thuật.
  • Khẳng định giá trị của CHT trong việc dự đoán chính xác khả năng thực hiện phẫu thuật triệt để, giúp phẫu thuật viên lựa chọn đường mổ, phương pháp phẫu thuật (bảo tồn cơ thắt hay phẫu thuật Miles) và xác định diện cắt an toàn.
  • Đưa ra khuyến nghị áp dụng thường quy CHT vùng chậu độ phân giải cao cho tất cả bệnh nhân ung thư trực tràng giữa và dưới trước khi quyết định phác đồ điều trị đa mô thức hoặc can thiệp ngoại khoa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Việc phân biệt bản chất giữa mô xơ hóa sau viêm quanh u với mô ung thư xâm lấn thực sự trên chuỗi xung T2WI vẫn gặp khó khăn trong một số trường hợp, dẫn đến hiện tượng chẩn đoán quá giai đoạn T.
  • Chẩn đoán di căn hạch đối với các hạch có kích thước nhỏ ($< 3\text{ mm}$) chứa ổ vi di căn vẫn là một thách thức kỹ thuật đối với độ phân giải của CHT hiện tại.
  • Khả năng phát hiện xâm lấn các nhánh thần kinh tự động nhỏ vùng chậu trên hình ảnh học còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng máy và kinh nghiệm của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng các chuỗi xung T2WI siêu mỏng kết hợp định lượng bản đồ ADC trên chuỗi xung khuếch tán để nâng cao độ chính xác phát hiện hạch di căn vi thể.
  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá giá trị của CHT trong việc theo dõi đáp ứng mô học sau hóa xạ trị tân hỗ trợ nhằm định hướng chiến lược phẫu thuật bảo tồn hoặc theo dõi không mổ (Watch and Wait) ở nhóm bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Bác sĩ ngoại tiêu hóa và phẫu thuật viên ung bướu: Tham khảo quy trình đối chiếu giải phẫu CHT để lập kế hoạch phẫu thuật TME, cắt gian cơ thắt và bảo tồn chức năng cơ thắt hậu môn.
  • Bác sĩ chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo chi tiết các mốc giải phẫu vùng chậu (mạc Denonvilliers, mạc Waldeyer, nếp phúc mạc, mạc của MTTT) và quy chuẩn bảng mô tả kết quả CHT trực tràng chuẩn quốc tế.
  • Bác sĩ giải phẫu bệnh: Tham khảo quy trình xử lý, cắt lọc và đánh giá chất lượng đại thể mẫu bệnh phẩm TME theo tiêu chuẩn Quirke.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu cắt ngang đối chiếu chẩn đoán hình ảnh và mô bệnh học chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định khoảng cách an toàn từ u đến mạc của mạc treo trực tràng trên CHT là bao nhiêu để tiên lượng DCVQ âm tính?

Theo các tiêu chuẩn được luận án phân tích và áp dụng, khoảng cách từ u hoặc hạch di căn đến mạc của mạc treo trực tràng $> 2\text{ mm}$ được xem là an toàn (DCVQ không bị xâm lấn). Khi khoảng cách này từ 1 đến 2 mm được xếp vào nhóm có nguy cơ bị đe dọa, và khi khoảng cách $< 1\text{ mm}$ thì khả năng cao DCVQ bị xâm lấn trên giải phẫu bệnh.

2. Tiêu chuẩn nào trên CHT được sử dụng để phân biệt hạch mạc treo trực tràng di căn và hạch lành tính?

Luận án chỉ ra rằng tiêu chuẩn kích thước đơn thuần không mang lại độ chính xác cao do đa số hạch mạc treo trực tràng (kể cả hạch di căn) đều có kích thước nhỏ ($< 5\text{ mm}$). Việc kết hợp tiêu chuẩn kích thước với đặc điểm hình thái học gồm: bờ hạch không đều, cấu trúc mô hạch không đồng nhất, có ổ hoại tử hoặc chứa chất nhầy giúp nâng độ nhạy lên 85% và độ đặc hiệu lên 98% đối với các hạch có đường kính $\ge 3\text{ mm}$.

3. Vị trí giải phẫu của u ở thành trước trực tràng ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ tái phát theo y văn được luận án trích dẫn?

Theo y văn được tác giả tổng quan (nghiên cứu của Lee và cộng sự), ở nam giới, khối u nằm ở thành trước trực tràng có nguy cơ tái phát tại chỗ và tử vong cao hơn. Nguyên nhân do đặc điểm giải phẫu tại vị trí này có lượng mô mỡ và mô liên kết giữa thành trực tràng với mạc của mạc treo trực tràng ít hơn so với các vị trí khác, làm tăng nguy cơ diện cắt vòng quanh bị xâm lấn.

4. Quy cách bảo đảm an toàn diện cắt dưới đối với ung thư trực tràng được xác định ra sao?

Dựa trên kết quả nghiên cứu của Zhao và cộng sự được trích dẫn trong luận án, diện cắt dưới an toàn của thành trực tràng cần cách bờ dưới u tối thiểu 1,5cm và giới hạn dưới của phần mạc treo trực tràng cần lấy bỏ phải cách bờ dưới u tối thiểu 4cm nhằm bảo đảm loại bỏ triệt để các ổ u vệ tinh và dòng di căn bạch huyết ngược dòng trong mạc treo.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Công Khánh đã khảo sát toàn diện và chuẩn hóa giá trị của chụp cộng hưởng từ vùng chậu độ phân giải cao trong chẩn đoán giai đoạn trước mổ ở bệnh nhân ung thư trực tràng giữa và dưới được phẫu thuật triệt để. Nghiên cứu đã chứng minh sự phù hợp cao giữa hình ảnh cộng hưởng từ với kết quả giải phẫu bệnh vi thể về mức độ xâm lấn thành, di căn hạch và tình trạng mạc của mạc treo trực tràng. Công trình cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng phục vụ chỉ định điều trị đa mô thức, nâng cao tỷ lệ phẫu thuật triệt để và tăng khả năng bảo tồn cơ thắt cho người bệnh.