Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Động mạch chủ bụng (abdominal aorta) là thân động mạch lớn nhất trong ổ bụng, bắt đầu từ lỗ động mạch chủ của cơ hoành ở bờ dưới đốt sống ngực XII, chạy dọc trước cột sống thắt lưng và tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng IV bằng cách chia đôi thành hai động mạch chậu chung phải và trái. Trên đường đi, động mạch chủ bụng cấp máu cho toàn bộ các tạng trong ổ bụng thông qua các nhánh tạng (động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên, động mạch mạc treo tràng dưới, động mạch thận, động mạch sinh dục) và cấp máu cho thành bụng qua các nhánh thành (động mạch hoành dưới, các động mạch thắt lưng, động mạch cùng giữa). Cấu trúc giải phẫu của động mạch chủ bụng và các nhánh bên có mức độ biến đổi rất lớn về số lượng, nguyên ủy, đường đi và kích thước, ảnh hưởng trực tiếp đến chẩn đoán bệnh lý, lập kế hoạch phẫu thuật ổ bụng cũng như can thiệp nội mạch.
Trong lịch sử nghiên cứu y học, các phương pháp kinh điển khảo sát giải phẫu mạch máu chủ yếu dựa trên phẫu tích thi thể ướp formol hoặc đúc khuôn ăn mòn tạng tươi bằng hóa chất. Dù đóng góp nền tảng kiến thức quan trọng, các phương pháp này bộc lộ nhược điểm cơ bản: mẫu ướp bảo quản trong dung dịch formol bị co rút các cấu trúc giải phẫu, khiến kích thước đo đạc thường giảm đi so với kích thước thực tế trên người sống. Phương pháp chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) tuy là tiêu chuẩn vàng nhưng lại là thủ thuật xâm lấn, mang nguy cơ tai biến và gây phơi nhiễm bức xạ tia X cho cả bệnh nhân lẫn thầy thuốc. Sự ra đời của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT), đặc biệt là thế hệ máy 64 dãy lát cắt mỏng dưới 1 mm cùng các phần mềm xử lý hình ảnh ba chiều (3D), đã mở ra khả năng đánh giá chính xác, khách quan các biến thể giải phẫu và kích thước lòng mạch trên người sống mà không cần can thiệp xâm lấn. Tại Việt Nam, các công trình trước đây của PGS.TS. Lê Văn Cường (1994, 2012) chủ yếu thực hiện trên xác ướp, trong khi các công bố về toàn bộ hệ thống động mạch chủ bụng và các nhánh bên trên hình ảnh cắt lớp vi tính ở người Việt còn hạn chế.
Trước yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Thành Trung thực hiện khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa khóa 2017-2023 tại Trường Đại học Y Hà Nội với đề tài: "Nghiên cứu kích thước động mạch chủ bụng và số lượng nhánh bên qua hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy trên người Việt Nam" (tên trang bìa: "Mô tả giải phẫu động mạch chủ bụng và số lượng các nhánh các trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy"). Đề tài xác định 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định chiều dài, đường kính một số đoạn của động mạch chủ bụng trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy.
- Xác định số lượng các nhánh của động mạch chủ bụng.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Bệnh nhân được chỉ định chụp cắt lớp vi tính ổ bụng có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch và dựng hình hệ động mạch chủ bụng tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Hình ảnh động mạch chủ bụng và các nhánh được bác sĩ chẩn đoán hình ảnh kết luận bình thường, không có tổn thương bệnh lý (hẹp, phình, tắc) và hình ảnh hiện rõ nét.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Phim chụp bị nhiễu ảnh hoặc bệnh nhân có tổn thương hẹp, tắc, phình động mạch chủ bụng.
- Phạm vi không gian: Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu hồi cứu từ tháng 11 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng
Khóa luận tổng quan hệ thống giải phẫu kinh điển của động mạch chủ bụng dựa trên các tài liệu giải phẫu quốc tế (Gray's Anatomy, Lipshutz, Michels, Skandalakis) và các công trình y học Việt Nam (GS. Đỗ Xuân Hợp, PGS.TS. Lê Văn Cường, GS. Trịnh Văn Minh). Cơ sở lý thuyết tập trung vào các đặc điểm:
- Động mạch thân tạng (celiac trunk): Nhánh tạng lớn tách ra ngay dưới lỗ cơ hoành, ngang mức mép dưới đốt sống ngực XII đến bờ dưới thắt lưng I, chia 3 nhánh kinh điển gồm động mạch vị trái, động mạch gan chung và động mạch lách. Y văn ghi nhận nhiều dị dạng phân nhánh (thân chung gan - mạc treo tràng, thân chung vị - lách, hoặc động mạch hoành dưới xuất phát từ thân tạng).
- Động mạch mạc treo tràng trên (superior mesenteric artery - SMA): Tách từ mặt trước động mạch chủ bụng dưới thân tạng khoảng 22 mm, tương ứng mức đĩa gian đốt sống thắt lưng I-II, cấp máu từ đoạn dưới tá tràng đến nửa phải đại tràng ngang.
- Động mạch mạc treo tràng dưới (inferior mesenteric artery - IMA): Tách từ mặt trước động mạch chủ bụng, cách chỗ chia đôi động mạch chậu khoảng 3-4 cm, cấp máu cho 1/3 trái đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng xích ma và trực tràng.
- Các động mạch thận (renal arteries): Gồm 2 động mạch tách từ mặt bên động mạch chủ bụng ngay dưới động mạch mạc treo tràng trên, tương ứng mức đốt sống thắt lưng I hoặc đĩa gian thắt lưng I-II; phân nhánh thành 5 phân thùy mạch máu và hình thành đường vô mạch Hyrtl/Brödel ở bờ ngoài nhu mô thận.
- Động mạch sinh dục (tinh hoàn/buồng trứng): Tách từ mặt trước bên động mạch chủ bụng, dưới mức động mạch thận.
- Các nhánh thành bụng: Gồm 2 động mạch hoành dưới (tách từ động mạch chủ bụng hoặc động mạch thân tạng), 4 đôi động mạch thắt lưng (tách từ mặt sau bên, chạy áp sát thân đốt sống) và động mạch cùng giữa.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập thông tin theo phương pháp hồi cứu từ các dữ liệu số lưu trữ trên hệ thống máy tính và đĩa CD tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Tâm Anh Hà Nội. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 24 bệnh nhân, lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
Quy trình kỹ thuật và phương tiện thu thập dữ liệu gồm:
- Thiết bị chụp: Hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính 64 dãy LightSpeed VCT 64 (GE Healthcare - Hoa Kỳ), máy bơm thuốc cản quang tĩnh mạch tự động, sử dụng thuốc cản quang không ion hóa.
- Giao thức chụp và tái tạo ảnh: Thực hiện chụp cắt lớp xoắn ốc ổ bụng theo protocol chuẩn. Dữ liệu thể tích thô được xử lý trên trạm làm việc chuyên dụng bằng hai kỹ thuật tái tạo hình ảnh chính:
- MIP (Maximum Intensity Projection - Hình chiếu đậm độ tối đa): Chiếu các điểm ảnh có tỷ trọng cao nhất trong khối thể tích để làm nổi bật hệ thống mạch máu cản quang.
- VR (Volume Rendering - Xử lý thể tích không gian ba chiều): Dựng hình giải phẫu 3D toàn bộ hệ mạch máu, cho phép xoay đa hướng, bộc lộ rõ nguyên ủy, đường đi, liên quan không gian và các nhánh phụ.
- Biến số nghiên cứu: Chiều dài động mạch chủ bụng (đo từ nguyên ủy đến chỗ chia đôi nhánh tận, đơn vị mm); đường kính tại nguyên ủy và đường kính trước chỗ chia đôi (mm); đối chiếu vị trí nguyên ủy và tận cùng lên các đốt sống ngực và thắt lưng; số lượng và vị trí xuất phát của từng nhánh bên (hoành dưới, thân tạng, mạc treo tràng trên, thận, mạc treo tràng dưới, sinh dục, thắt lưng, cùng giữa).
- Xử lý số liệu và khống chế sai số: Số liệu được thu thập qua mẫu bệnh án thống nhất, làm sạch và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS 20.0. Tiến hành nhập và kiểm tra đối chiếu hai lần để loại trừ sai lệch số liệu.
- Vấn đề đạo đức: Đề tài được sự phê duyệt của Bộ môn Giải phẫu, Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội và lãnh đạo Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh; dữ liệu bệnh nhân được mã hóa, bảo mật và chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu y học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tổng quan tài liệu
Chương này dành 28 trang trình bày hệ thống lý thuyết giải phẫu học và tổng thuật các công trình nghiên cứu:
- Giải phẫu động mạch chủ bụng: Trình bày chi tiết mốc nguyên ủy tại lỗ động mạch chủ cơ hoành, đường đi dọc trước cột sống, tận cùng tại mức đốt sống L4 chia thành hai động mạch chậu chung. Mô tả cặn kẽ các liên quan giải phẫu phức tạp ở bốn phía: phía trước liên quan túi mạc nối, động mạch thân tạng, đám rối tạng, động mạch mạc treo tràng trên bắt chéo tĩnh mạch thận trái, thân tụy, tĩnh mạch lách và đoạn ngang tá tràng; phía sau liên quan thân các đốt sống thắt lưng, dây chằng dọc trước và tĩnh mạch thắt lưng 3, 4 bên trái; phía bên phải liên quan bể dưỡng chấp, ống ngực, tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch chủ dưới; phía bên trái liên quan trụ trái cơ hoành, hạch tạng trái, góc tá hỗng tràng và chuỗi hạch giao cảm.
- Phân nhánh giải phẫu: Tổng hợp cấu trúc, phân nhánh và tỷ lệ biến thể của từng mạch máu:
- Động mạch thân tạng: Nêu 7 dạng phân nhánh theo phân loại của PGS.TS. Lê Văn Cường trên 62 thi thể người Việt (Dạng I điển hình chia 3 nhánh chiếm 50%; Dạng II chia 3 nhánh cùng một điểm chiếm 24,1%; Dạng III vị trái tách từ động mạch chủ bụng chiếm 16,1%; các dạng thân chung với mạc treo tràng trên từ 1% đến 6,4%).
- Động mạch mạc treo tràng trên: Chiều dài từ 20-25 cm, vị trí tách cách thân tạng khoảng 1-22 mm.
- Động mạch mạc treo tràng dưới: Nguyên ủy cách ngã ba chia đôi động mạch chủ bụng từ 3-4 cm.
- Động mạch thận: Nêu rõ đặc điểm phân nhánh trước và sau bể thận, ứng dụng đường vô mạch Hyrtl/Brödel trong phẫu thuật lấy sỏi thận. Dẫn số liệu của Ozan (ĐM thận phải cao hơn trái chiếm 53,3%) và đối chiếu số liệu Lê Văn Cường (58% ĐM thận trái cao hơn bên phải, 33,8% thận trái thấp hơn và 8% hai bên ngang nhau; 92,7% ĐM sinh dục xuất phát từ ĐM chủ bụng, 7,25% từ ĐM thận).
- Động mạch thành bụng: Thống kê tỷ lệ động mạch hoành dưới (37,7% xuất phát từ ĐM chủ bụng, 52% từ ĐM thân tạng theo Lê Văn Cường) và 4 đôi động mạch thắt lưng.
- Các phương pháp nghiên cứu giải phẫu người: So sánh ưu - nhược điểm của 5 phương pháp: phẫu tích xác ướp formol (phương pháp kinh điển, sử dụng công thức quy đổi $d = 2D/3$ để tính đường kính tròn từ đường kính dẹt $D$, nhược điểm co rút mô); kỹ thuật làm tiêu bản ăn mòn (dùng nhựa celloidin ngâm acetone bơm mạch rồi ăn mòn mô bằng HCl 35% trong 48-72 giờ); chụp mạch số hóa xóa nền DSA; chụp cộng hưởng từ (MRI) từ lực 1.5 Tesla trở lên; và chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT 64 dãy với thời gian quay < 0,5 giây, lát cắt < 1 mm, tích hợp phần mềm tái tạo 3D MIP và VR).
- Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước: Điểm qua các mốc nghiên cứu của Eustachius (1564), Lancisi (1714), Hyrtl (1867), Brödel (1901), Alexandrowicz (1974 - đo khuôn đúc 110 người), Leithner (1975 - đo X quang 61 người), Michels (1955). Tại Việt Nam, hệ thống hóa từ các nghiên cứu đặt nền móng của Đỗ Xuân Hợp (1976-1978), Nguyễn Quang Quyền (phân thùy phổi), Trịnh Văn Minh (phân thùy gan), Nguyễn Kim Lộc (1971), Vũ Duy San (1974), Lê Quang Cát (1969, 1994), đến công trình chuyên khảo năm 2012 của Lê Văn Cường trên xác ướp và các luận án nghiên cứu mạch máu trên CLVT của Đặng Nguyễn Trung An (2019), Đỗ Thanh Nam (2019), Nguyễn Thị Thanh Thiện (2021).
Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết việc triển khai nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh:
- Xác lập cỡ mẫu gồm 24 bệnh nhân (chọn mẫu thuận tiện) chụp CLVT từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023.
- Tiêu chuẩn tuyển chọn và loại trừ được xác định rõ ràng nhằm đảm bảo tính chính xác của các mốc giải phẫu mạch máu bình thường.
- Mô tả hệ thống thiết bị phần cứng (máy LightSpeed VCT 64 của GE, máy bơm tiêm tự động) và phần mềm xử lý ảnh.
- Bảng danh mục định nghĩa biến số chi tiết: xác định rõ phương pháp thu thập biến số thông qua dựng hình MIP và VR đối với chiều dài, đường kính (nguyên ủy, đoạn cuối) và vị trí xuất phát của từng nhánh mạch (hoành dưới, thân tạng, mạc treo tràng trên, thận, mạc treo tràng dưới, sinh dục, thắt lưng, cùng giữa).
- Quy trình kiểm soát sai số, nhập liệu kép và đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu
Cung cấp các phát hiện định lượng thực tế trên 24 bệnh nhân:
- Phân bố giới tính: Nam giới chiếm 16 bệnh nhân (67%), nữ giới chiếm 8 bệnh nhân (33%); tỷ lệ nam/nữ đạt 2/1.
- Vị trí nguyên ủy động mạch chủ bụng: Trong 24 trường hợp, đa số bắt đầu từ lỗ động mạch chủ của cơ hoành ở ngang mức đốt sống ngực XII (T12) với 17 trường hợp (chiếm 70,8%); 5 trường hợp ở mức gian đốt sống ngực XII - thắt lưng I (T12-L1) (20,8%); 1 trường hợp ở mức gian đốt sống ngực XI - ngực XII (T11-T12) (4,2%); và 1 trường hợp ở ngang mức đốt sống thắt lưng I (L1) (4,2%).
- Vị trí tận cùng động mạch chủ bụng: Đa số các trường hợp tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng IV (L4) với 19 trường hợp (chiếm 79,2%), bằng cách chia đôi thành hai nhánh tận là động mạch chậu chung phải và trái.
- Kích thước động mạch chủ bụng:
- Chiều dài trung bình của động mạch chủ bụng đo trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính là 127,503 mm.
- Đường kính lòng mạch có xu hướng nhỏ dần từ nguyên ủy đến đoạn tận cùng. Theo Bảng 3.1 trong văn bản: tại nguyên ủy, đường kính lớn nhất là 30 mm, nhỏ nhất là 16,5 mm; tại đoạn tận cùng (trước khi chia hai nhánh chậu chung), đường kính lớn nhất là 20,1 mm, nhỏ nhất là 10,7 mm và giá trị trung bình là 15,263 mm.
- Khảo sát số lượng và biến thể các nhánh bên trên hình ảnh ca lâm sàng:
- Nhánh tạng mặt trước: Động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên và động mạch mạc treo tràng dưới. Văn bản mô tả trường hợp bệnh nhân Phạm Minh H. (61 tuổi) quan sát rõ động mạch mạc treo tràng dưới và trường hợp bệnh nhân Nguyễn Tấn P. (49 tuổi) không thấy hiện hình động mạch mạc treo tràng dưới trên phim chụp CLVT.
- Nhánh tạng mặt bên: Gồm hai động mạch thận phải và trái. Phân tích tương quan vị trí nguyên ủy cho thấy các dạng biến thiên: động mạch thận phải xuất phát cao hơn thận trái (như ở bệnh nhân Vũ Thị Hồng N., 56 tuổi), hai bên ngang nhau (bệnh nhân Hoàng Minh D., 73 tuổi), hoặc động mạch thận phải thấp hơn thận trái (bệnh nhân Nguyễn Hữu T., 65 tuổi).
- Nhánh thành: Gồm các động mạch hoành dưới phải - trái và các đôi động mạch thắt lưng (minh họa nguyên ủy tương quan cột sống trên bệnh nhân Lê Vĩnh V., 44 tuổi; giải phẫu phân nhánh trên bệnh nhân Lê Văn A., 51 tuổi và Vũ Đức C., 54 tuổi).
Chương 4 - Bàn luận
Qua danh mục bảng biểu của khóa luận (từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.15), nội dung bàn luận tập trung vào:
- Đối chiếu vị trí tận cùng và kích thước động mạch chủ bụng đo bằng CLVT so với số liệu đo trên xác của Lê Văn Cường và đo X quang của Leithner. Chiều dài trung bình trên CLVT (127,503 mm) lớn hơn đáng kể so với chiều dài đo trên tiêu bản xác ướp (thường ước tính khoảng 10 cm), phản ánh hiện tượng không bị co rút mô khi chụp trên người sống có áp lực dòng máu tự nhiên.
- So sánh sự khác biệt về đường kính và chiều dài mạch máu giữa hai giới nam và nữ.
- Đánh giá tần suất xuất phát của các nhánh tạng (thân tạng, mạc treo tràng trên, mạc treo tràng dưới) và nhánh thành (hoành dưới, thắt lưng) đối chiếu với các công bố quốc tế và trong nước.
- Khẳng định giá trị thực tiễn của kỹ thuật tái tạo đa bình diện MIP và VR trên máy cắt lớp vi tính 64 dãy trong việc bộc lộ chi tiết các nhánh mạch nhỏ và các biến thể giải phẫu mà trước đây phương pháp phẫu tích hoặc X quang thường quy khó đánh giá đầy đủ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu trong văn bản
Khóa luận đã định lượng hóa các đặc điểm giải phẫu quan trọng của động mạch chủ bụng trên 24 bệnh nhân Việt Nam trưởng thành thông qua kỹ thuật CLVT đa dãy:
| Chỉ số giải phẫu |
Giá trị / Tỷ lệ ghi nhận trong văn bản |
| Phân bố giới tính |
Nam: 16 bệnh nhân (67%) | Nữ: 8 bệnh nhân (33%) (Tỷ lệ nam/nữ: 2/1) |
| Chiều dài trung bình DMCB |
127,503 mm |
| Đường kính DMCB tại nguyên ủy |
Lớn nhất: 30 mm | Nhỏ nhất: 16,5 mm |
| Đường kính DMCB tại đoạn tận cùng |
Lớn nhất: 20,1 mm | Nhỏ nhất: 10,7 mm | Trung bình: 15,263 mm |
| Vị trí nguyên ủy so với cột sống |
- Ngang đốt sống ngực XII (T12): 17/24 trường hợp (70,8%) - Gian đốt ngực XII - thắt lưng I (T12-L1): 5/24 trường hợp (20,8%) - Gian đốt ngực XI - ngực XII (T11-T12): 1/24 trường hợp (4,2%) - Ngang đốt sống thắt lưng I (L1): 1/24 trường hợp (4,2%) |
| Vị trí tận cùng so với cột sống |
Ngang đốt sống thắt lưng IV (L4): 19/24 trường hợp (79,2%) chia đôi thành 2 ĐM chậu chung |
| Hình thái các nhánh bên ghi nhận |
- Nhánh tạng mặt trước: ĐM thân tạng, ĐM mạc treo tràng trên, ĐM mạc treo tràng dưới (có ca không thấy hiện hình ĐM mạc treo tràng dưới) - Nhánh tạng mặt bên: ĐM thận hai bên (ghi nhận đủ 3 dạng tương quan: phải cao hơn trái, hai bên bằng nhau, phải thấp hơn trái) - Nhánh thành: ĐM hoành dưới, các đôi ĐM thắt lưng |
Đóng góp so với nghiên cứu trước
- Tác giả chỉ rõ các nghiên cứu giải phẫu hệ thống mạch máu người Việt Nam quy mô nhất trước đó (tiêu biểu là công trình của Lê Văn Cường năm 1994, xuất bản sách chuyên khảo năm 2012) được thực hiện chủ yếu trên xác ướp formol bằng phương pháp phẫu tích. Các cấu trúc giải phẫu trên xác đều bị co rút cơ học, làm cho các kích thước đo đạc nhỏ hơn kích thước thực tế trên cơ thể sống.
- Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu giải phẫu động mạch chủ bụng và các nhánh bên được tiến hành trên người Việt Nam sống bằng công nghệ chụp cắt lớp vi tính 64 dãy, sử dụng các phần mềm tái tạo không gian ba chiều chuyên dụng (MIP, VR). Nghiên cứu cung cấp số liệu nhân trắc giải phẫu sống trung thực, có độ chính xác cao về kích thước lòng mạch và các dạng nguyên ủy đối chiếu cột sống.
- Dữ liệu cung cấp mốc quy chiếu hình thái phục vụ trực tiếp cho các phẫu thuật viên ngoại tiêu hóa, phẫu thuật mạch máu, ghép tạng và các bác sĩ điện quang can thiệp trong việc đo đạc lựa chọn kích cỡ stent-graft, lập bản đồ mạch trước phẫu thuật và hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương mạch máu bất thường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ (n = 24 bệnh nhân), được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở y tế duy nhất (Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội) trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023).
- Tiêu chuẩn chọn mẫu khu trú vào các bệnh nhân có hình ảnh động mạch chủ bụng bình thường, chưa đại diện đầy đủ cho toàn bộ quần thể người Việt ở các nhóm tuổi và tình trạng thể chất khác nhau.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tác giả định hướng mở rộng nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, đa trung tâm nhằm củng cố tính đại diện của hằng số sinh học người Việt.
- Tiếp tục ứng dụng các thế hệ máy cắt lớp vi tính hiện đại hơn (128 dãy, 256 dãy hoặc cắt lớp vi tính hai mức năng lượng) để khảo sát sâu hơn các nhánh mạch rất nhỏ và phân tích chi tiết tỷ lệ các biến thể giải phẫu hiếm gặp của từng nhánh tạng riêng biệt.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên y khoa, học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, Cao học, Chuyên khoa I, Chuyên khoa II) chuyên ngành Ngoại khoa, Giải phẫu học và Chẩn đoán hình ảnh.
- Bác sĩ phẫu thuật ngoại tổng quát, ngoại lồng ngực - mạch máu, phẫu thuật tiết niệu, ghép thận và bác sĩ can thiệp tim mạch.
- Nội dung giá trị nhất:
- Chương 1: Cung cấp tư liệu tổng thuật toàn diện, có giá trị học thuật cao về giải phẫu học động mạch chủ bụng và các nhánh bên, đồng thời phân tích chi tiết các kỹ thuật nghiên cứu giải phẫu (từ phẫu tích xác, đúc khuôn ăn mòn bằng nhựa celloidin và axit HCl, đến DSA, MRI và MSCT).
- Chương 3: Cung cấp bảng dữ liệu đo đạc thực tế về chiều dài, đường kính và vị trí tương quan đốt sống của động mạch chủ bụng trên người Việt sống, đóng vai trò là tài liệu tham khảo đáng tin cậy trong thực hành lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Kích thước chiều dài và đường kính của động mạch chủ bụng trên phim chụp cắt lớp vi tính 64 dãy đạt giá trị bao nhiêu?
Theo kết quả nghiên cứu trên 24 bệnh nhân tại Chương 3, chiều dài trung bình của động mạch chủ bụng đo trên hình ảnh cắt lớp vi tính là 127,503 mm. Về đường kính (Bảng 3.1), tại vị trí nguyên ủy đường kính dao động từ 16,5 mm (nhỏ nhất) đến 30 mm (lớn nhất); tại đoạn tận cùng trước khi chia đôi, đường kính dao động từ 10,7 mm đến 20,1 mm, với giá trị trung bình là 15,263 mm.
2. Vị trí nguyên ủy và tận cùng của động mạch chủ bụng đối chiếu lên cột sống phân bố như thế nào trong mẫu nghiên cứu?
Về nguyên ủy, trong 24 trường hợp có 17 ca (70,8%) xuất phát ngang mức đốt sống ngực XII; 5 ca (20,8%) ngang đĩa gian đốt sống ngực XII - thắt lưng I; 1 ca (4,2%) ngang đĩa gian ngực XI - ngực XII; và 1 ca (4,2%) ngang đốt sống thắt lưng I. Về vị trí tận cùng, đa số trường hợp tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng IV với 19/24 trường hợp (79,2%), bằng cách chia đôi thành 2 động mạch chậu chung.
3. Nghiên cứu giải phẫu trên hình ảnh cắt lớp vi tính 64 dãy có ưu thế gì so với phương pháp nghiên cứu trên xác ướp formol kinh điển?
Nghiên cứu trên xác ướp bằng phương pháp phẫu tích bộc lộ nhược điểm cơ bản là các cấu trúc giải phẫu bị co rút do hóa chất bảo quản formol, làm kích thước lòng mạch đo được nhỏ hơn thực tế và chỉ đo được đường kính dẹt rồi quy đổi ước tính ($d = 2D/3$). Ngược lại, máy chụp CLVT 64 dãy với thời gian quét dưới 0,5 giây, độ dày lớp cắt dưới 1 mm và phần mềm dựng hình 3D (MIP, VR) cho phép quan sát, đo đạc trung thực kích thước, nguyên ủy và đường đi của mạch máu trên cơ thể người sống dưới áp lực tưới máu tự nhiên một cách khách quan, không xâm lấn.
4. Cơ cấu mẫu nghiên cứu và tiêu chuẩn tuyển chọn bệnh nhân của đề tài được quy định ra sao?
Nghiên cứu tiến hành trên 24 bệnh nhân chụp CLVT ổ bụng tại Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Tâm Anh Hà Nội từ tháng 11/2022 đến tháng 5/2023, gồm 16 nam (67%) và 8 nữ (33%), tỷ lệ nam/nữ là 2/1. Tiêu chuẩn lựa chọn là bệnh nhân có hình ảnh động mạch chủ bụng bình thường, không có tổn thương bệnh lý (hẹp, phình, tắc), hình ảnh các nhánh rõ nét; loại trừ các ca bị nhiễu ảnh hoặc có bệnh lý hẹp, tắc, phình động mạch chủ bụng.
5. Văn bản ghi nhận những trường hợp lâm sàng đáng chú ý nào đối với động mạch mạc treo tràng dưới và tương quan hai động mạch thận?
Văn bản ghi nhận trường hợp bệnh nhân Phạm Minh H. (61 tuổi) thấy rõ động mạch mạc treo tràng dưới, trong khi bệnh nhân Nguyễn Tấn P. (49 tuổi) không quan sát thấy hiện hình động mạch mạc treo tràng dưới trên phim chụp CLVT. Đối với hai động mạch thận, nghiên cứu ghi nhận đầy đủ 3 dạng tương quan: động mạch thận phải cao hơn thận trái (bệnh nhân Vũ Thị Hồng N., 56 tuổi), hai động mạch thận ngang nhau (bệnh nhân Hoàng Minh D., 73 tuổi) và động mạch thận phải thấp hơn thận trái (bệnh nhân Nguyễn Hữu T., 65 tuổi).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa của tác giả Nguyễn Thành Trung đã mô tả chi tiết các đặc điểm giải phẫu, kích thước hình thái và số lượng các nhánh bên của động mạch chủ bụng trên 24 bệnh nhân người Việt Nam thông qua hệ thống chụp cắt lớp vi tính 64 dãy. Công trình đã xác định các thông số giải phẫu sống quan trọng như chiều dài trung bình (127,503 mm), đường kính tại các phân đoạn mạch và đối chiếu nguyên ủy (70,8% ở đốt sống ngực XII), nơi tận cùng (79,2% ở đốt sống thắt lưng IV) lên cột sống. Kết quả nghiên cứu chứng minh hiệu quả vượt trội của công nghệ dựng hình ba chiều (MIP, VR) trong việc đánh giá giải phẫu hệ mạch máu không xâm lấn, đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu tham khảo giá trị cho chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật ổ bụng và can thiệp mạch máu tại Việt Nam.