Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan niệm về nghề y Hippocrates (460-370, BC) đã nêu lên một số đặc điểm của nghề y mà người thầy thuốc khi hành nghề phải tuân theo trong lời thề của mình như “suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết, tôi sẽ chỉ dẫn mọi điều có lợi cho người bệnh tùy theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công. Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa. Hải Thượng Lãn Ông quan niệm về nghề y là "Đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta, phải lo cái lo cùa người, vui cải vui của người, chỉ lay việc giúp người làm phận sự cùa mình mà không cầu lợi, kể công" [14].
Quan niệm của nền văn hóa phưong Đông và phương Tây về nghề y đều cho thấy có một sự kết họp giữa năng lực và đạo đức của người thầy thuốc. Ở Việt Nam hiện nay, đời sống của đa số nhân viên y tế còn gặp nhiều khó khăn mặc dù Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã cỏ những chính sách đổi mới nhằm nâng cao đời sống cho cán bộ y tế. Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đàng Cộng sàn Việt Nam đã nêu: Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” [6].
Từ góc độ của xã hội, người dân và cộng đồng cũng đòi hỏi rất cao đối với những phẩm chất của ngành y tế cũng như nhân viên y tế. Khái niệm về bệnh viện Bệnh viện là nơi cung cấp các dịch vụ y tế nhằm đảm bảo chức năng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Thực hiện công bằng xã hội ưong chăm sóc sức khỏe người bệnh [13]. 5 Bệnh viện là một cơ sở y tế ưong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị, cơ sở hạ tầng để phục vụ bệnh nhân.
Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động: ■ Một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng. ■ Một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. ■ Một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y te, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [13].
Phân loại bệnh viện: Theo Quy chế Bệnh viện của Bộ Y tế, bệnh viện đa khoa được chia làm 4 hạng: Bệnh viện hạng đặc biệt, Bệnh viện hạng I, Bệnh viện hạng II, Bệnh viện hạng III. Nguồn nhân lực y tế 1. Khái niệm về nhãn lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhản lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chù yếu vào các hoạt động với mục đích ban đầu là nâng cao sức khoẻ Nhân lực y tế bao gồm những người trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế nhưng sự đóng góp của họ là không thể thiếu được. Như vậy, nhân lực y tế bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lương y.); kể cả những người làm việc ưong ngành y tế và ửong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [26].
Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam “Nhân lực y tế” bao gồm các cán bộ, NVYT trong biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ 6 thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người đang tham gia vào các hoạt động quàn lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y và người đỡ đẻ). Tất cả những người thuộc “nhân lực y tế” theo định nghĩa đã nêu trên đều phải được đề cập đến khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quàn lý và phát triển nhân lực y tế.2 Nguồn nhân lựcy tế Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng cùa hệ thống y tế, là yếu tố quan frọng bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế. Các chỉ định của cán bộ y tế như xét nghiệm, X quang, kê đơn thuốc hoặc quy định về danh mục trang thiết bị ở các tuyến.
sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế. Khi xây dựng chính sách, nhà hoạch định chính sách thường tập trung vào khâu phát triển nguồn nhân lực mà chưa chú trọng đến cả tính hiệu quả ưong quản lý nguồn nhân lực cả từ khía cạnh Nhà nước lẫn các cơ sở y tế. Để đảm bào hiệu quả, chất lượng và sự công bàng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn nhân lực y tế một cách hiệu quả nhất. Quan điểm chỉ đạo của Đàng và Chính phủ đã thể hiện rõ nhân lực y tế cần phải được quan tâm đặc biệt.
Động lực và các yếu tố liên quan đến động lực làm việc 1. Khái niệm Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về động lực lao động, theo giáo trình Hành vi tổ chức thì động lực lao động được định nghĩa là: “Động lực của người lao động là những nhân tổ bên trong kích thích con người no lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu cùa tổ chức cũng như của bản thân người lao động”, ở đây động lực được hiểu là phải gắn liền với công việc và tổ chức [15]. Theo Giáo trình quàn trị nhân lực thì “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện cùa người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, trong môi trường sống và làm việc của con người.
Do đó hành vi có động lực (bao gồm cả hành hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) của người lao động trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tổ: văn hóa tổ chức, phong cách lãnh đạo, các chính sách của tổ chức. Ngoài ra nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị của cá nhân trong tổ chức cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tạo động lực lao động của tổ chức đó [10]. Theo Marc Luoma, InfraHealth International.- động lực là một trạng thái nội bộ bao gồm ba thành phần: nhận thức tầm quan trọng cùa công việc, hiệu quà công việc, sự khen thưởng [22]. Khi người lao động có động lực làm việc họ sẽ tự giác dồn hết khả năng, sức lực để thực hiện công việc được giao sao cho hiệu quả để góp phàn giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.
Phân loại động lực: Động lực lao động mang lại lợi ích rất lớn và thiết thực không chỉ với tổ chức mà cả đối với người lao động. Có 2 loại động lực: - Động lực vật chất: là lợi ích kinh tế, mục tiêu hay mục đích kinh tế. Chính lợi ích và mục đích kinh tế này nảy sinh ra động cơ của hành vi và tạo nên động lực làm việc. Động lực vật chất bao gồm tiền và những thứ có thể mua được bàng tiền để phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của con người.
Đe tăng cường động lực vật chất cho người lao động, nhà quản lý cần sử dụng các công cụ như lương, thưởng, hỗ trợ về nhà ở, phương tiện đi lại. Điều này giúp cho người lao động yên tâm công tác, nuôi sống được bản thân và gia đình. - Động lực tinh thần: có tác động trực tiếp đến trạng thái tinh thần của người lao động như môi trường làm việc, quan hệ với lãnh đạo, quan hệ với đồng nghiệp, cơ hội học tập, thăng tiến, được lãnh đạo, đồng nghiệp tôn trọng và được xã hội công nhận. Để đáp ứng các nhu cầu về tinh thần cho người lao động, các nhà quàn lý phải luôn quan tâm và có những chính sách hợp lý trong từng thời kỳ, từng giai 8 đoạn để người lao động được thỏa mãn và từ đó sẽ cống hiến hết sức mình, không ngừng tìm tòi sáng tạo để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Quá trình tạo động lực Tạo động lực có thể hiểu là việc làm cùa những nhà quản lý nhằm khuyến khích, động viên nhân viên để họ nâng cao hiệu quả làm việc của mình, thông qua đó nhà quản lý đạt được mục tiêu mà tổ chức đặt ra. Có rất nhiều cách tạo động lực lao động khác nhau, các nhà quản lý phải dựa frên nhu cầu của cá nhân người lao động và diễn biển tâm lý của họ. Quá trình tạo động lực diễn ra một cách liên tục, khi nhu cầu cũ đã được thỏa mãn thì nhu cầu mới lại xuất hiện và cần được thỏa mãn. Quá trình tạo động lực diễn giải cho ta diễn biến hành vi tâm lý của người lao động trong hoạt động lao động.
Đây là cơ sở rất hữu ích để các nhà quản lý cỏ thể tạo ra điều kiện, cơ hội giúp nhân viên thỏa mãn được nhu cầu, mong muốn của họ và đạt được mục tiêu cùa tổ chức [8]. Sự cần thiết của tạo động lực Tạo động lực làm việc là vô cùng quan trọng vì nó quyết định năng suất, chất lượng và “sự tồn tại” của tổ chức. “Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey đã nghiên cứu tổng thể về năng suất của các nước trên thế giới trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2003.