Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về say nóng Lao động, tập luyện trong điều kiện khí hậu nóng ẩm làm thân nhiệt tăng nhanh và các chức năng của cơ thể phải hoạt động rất căng thẳng. Theo Vitte, khi nhiệt độ môi trường từ 32C trở lên, lao động với cường độ nhẹ đã làm tăng thân nhiệt, còn khi lao động với cường độ nặng thì thân nhiệt tăng ngay từ mức nhiệt độ môi trường là 22C. Nhiều loại hình lao động quân sự có cường độ cao, phải tiến hành trong những điều kiện vi khí hậu và khí hậu khắc nghiệt sẽ tạo điều kiện làm tăng thân nhiệt nhanh.
Lao động ở những nơi vật có tính bức xạ nhiệt cao, môi trường chật hẹp, thông khí kém là những yếu tố nguy cơ gây mất cân bằng của hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt của cơ thể [3],[6]. Lao động trong điều kiện khí hậu nóng ẩm hoặc trong môi trường vi khí hậu nóng ẩm là yếu tố bất lợi tác động lên cơ thể người chiến sĩ, gây ảnh hưởng tới khả năng lao động, sức khoẻ và có thể đe dọa tính mạng nếu không có biện pháp tổ chức lao động, luyện tập hợp lý và phòng chống nóng [3]. Một số rối loạn bệnh lý có thể gặp do tác động của nắng nóng Say nóng là rối loạn bệnh lý xảy ra do thân nhiệt tăng quá cao khi lao động căng thẳng, kéo dài trong điều kiện nắng nóng. Say nóng trải qua 3 giai đoạn (mức độ): - Giai đoạn 1 (mức độ 1): Thân nhiệt chưa tăng nhiều: các biện pháp thải nhiệt được huy động tối đa (da đỏ, vã mồ hôi), chưa có biểu hiện của rối loạn chuyển hóa - Giai đoạn 2 (mức độ 2): Thân nhiệt bắt đầu tăng cao: có rối loạn chuyển hóa, khó chịu, nhưng trung tâm điều hòa nhiệt và các trung tâm khác chưa rối loạn chức năng thân nhiệt chưa vượt quá 41C.
- Giai đoạn 3 (mức độ 3): Khi thân nhiệt vượt 41,5C thì rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt, thân nhiệt tăng nhanh (dù đã ra khỏi môi trường nóng), mất muối và mất nước nặng, có các biểu hiện thần kinh… Nạn nhân có cảm giác rất nóng, hốt hoảng, thở nhanh 4 và nông, có thể thở chu kỳ, mạch nhanh và yếu, huyết áp hạ, thiểu niệu hoặc vô niệu, mồ hôi giảm hoặc không tiết…tiến tới các triệu chứng thần kinh: uể oải, thờ ơ, vật vã, co giật và hôn mê. Chuyển hóa bị rối loạn làm cho cơ thể lâm vào tình trạng nhiễm toan, nhiễm độc nặng. Nạn nhân có thể chết (ở 42C hay 42,5C) sau vài giờ trong tình trạng trụy tim mạch và thân nhiệt quá cao – nếu không được cứu chữa (bằng hạ thân nhiệt, bù muối và nước, trợ tim…) [3]. Những biện pháp phòng, cấp cứu và điều trị say nóng 1.
Biện pháp dự phòng say nóng - Cải thiện môi trường lao động: + Dùng phương tiện che chắn: mũ, quần áo bảo vệ. + Đảm bảo thông gió tốt để thải nhiệt bằng đối lưu và bay hơi mồ hôi (nhà xưởng thông thoáng, quạt hút gió và quạt thông gió). + Sử dụng các loại quần áo thông thoáng, khả năng thấm nước cao. - Tuyển chọn sức khoẻ phù hợp đặc điểm, tính chất công việc: Hoạt động của một số ngành nghề vừa đòi hỏi khả năng thể lực tốt, nhất là khả năng sức bền, vừa chịu sự tác động của yếu tố nóng ẩm cao.
Vì vậy phải tuyển chọn và kiểm tra sức khoẻ để đưa những người có đủ sức khoẻ vào trong các nghề đó. - Biện pháp rèn luyện: + Rèn luyện thể lực chung có tác dụng nâng cao sức đề kháng chung của cơ thể. + Rèn luyện với nóng nhằm nâng cao trạng thái thích nghi của cơ thể. Để đạt hiệu quả rèn luyện thường phải cần từ 7 - 10 ngày rèn luyện với nóng ẩm.
Rèn luyện theo nguyên tắc nâng dần, thường xuyên. + Việc rèn luyện thể lực và rèn luyện với nóng cần thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản để việc rèn luyện có thể đạt hiệu quả cao. - Biện pháp dinh dưỡng phù hợp: + Cần đảm bảo về chất lượng và dễ ăn; có nhiều yếu tố vi lượng, đủ các vitamin và có đủ canh để ăn. 5 + Đảm bảo đủ nước uống trước, trong và sau lao động.
- Biện pháp tổ chức lao động hợp lý: + Điều chỉnh cường độ lao động hợp lý trong những thời điểm, những ngày nóng ẩm: giảm cường độ lao động khi nóng ẩm cao. + Tổ chức thực hiện lao động, luyện tập vào những giờ mát trong ngày và nghỉ ngơi vào những giờ nắng nóng cao điểm (11 - 14 giờ). - Thời gian nghỉ ngơi và bù nước đủ [3],[7]. Cấp cứu và điều trị say nóng Mục tiêu chung là tiến hành các biện pháp cấp cứu tích cực cho đến khi nhiệt độ lõi về dưới 39C.
Khả năng mắc bệnh và tử vong phụ thuộc vào khoảng thời gian và mức độ tăng nhiệt độ lõi của cơ thể. Do đó quy trình điều trị tổn thương do nóng phải nhằm một mục tiêu cơ bản là hạ nhiệt độ lõi của cơ thể xuống bình thường càng nhanh càng tốt. Chẩn đoán sớm và điều trị đúng cách là hai điều kiện quan trọng giúp người bệnh tăng khả năng sống sót [3],[7]. - Biện pháp chung: + Ngừng lao động, đưa vào chỗ râm mát, tăng cường thông gió.
+ Cởi bỏ quần áo, đặt người bệnh ở tư thế nằm đầu thấp. + Chườm lạnh ở những vùng có mạch máu lớn đi qua. + Hồi sức tim phổi nếu có ngừng hô hấp, ngừng tim. + Tiếp tục theo dõi thân nhiệt, sự tỉnh táo, lượng nước tiểu.
+ Sử dụng thuốc theo phác đồ cấp cứu: thuốc kích thích tim mạch, thuốc chống tăng động, thuốc nâng huyết áp. + Với trường hợp nặng, thực hiện các biện pháp cấp cứu (hạ thân nhiệt.) ngay sau khi được phát hiện và trên đường vận chuyển đến cơ sở có bộ phận hồi sức tích cực. - Biện pháp cụ thể: Cấp cứu và điều trị nhiễm nóng phụ thuộc vào độ nặng của bệnh: 6 + Trường hợp nhẹ: tắm nước nhiệt độ 25 - 30C trong 5 - 6 phút, sau đó dùng khăn lau khô người, nghỉ ngơi yên tĩnh. Trường hợp nặng hơn, ngâm nạn nhân vào nước nhiệt độ 28 - 30C trong 7 - 8 phút, sau đó dùng khăn khô lau khô, nghỉ ngơi yên tĩnh.
Có thể lau người bằng khăn tẩm nước mát - ủ ẩm (nhiệt độ 25 - 26C) trong 10 - 15 phút, sau đó dùng khăn lau khô, nghỉ ngơi yên tĩnh. Uống nhiều nước, dùng thuốc an thần, tim mạch theo chỉ định. + Trường hợp nặng: ngâm trong nước mát (25 - 26C), ủ khăn ẩm, mát trên các vùng ngực và bụng và nơi có các động mạch lớn đi qua (cổ, bẹn. Rửa dạ dày bằng nước mát.
Nếu có triệu chứng của tăng áp lực hộp sọ (cứng gáy, triệu chứng Kernig) có thể chỉ định hút 20ml dịch não tuỷ. Trong trường hợp quá nặng (ngừng thở, ngừng tim) cần nhanh chóng tiến hành các kỹ thuật hồi sức cấp cứu. Có nghiên cứu chỉ ra việc sử dụng dexamethasone hoặc kết hợp manitol giúp cải thiện triệu chứng của đột quỵ nhiệt do làm giảm kích hoạt đông máu, chống viêm toàn thân, và cải thiện tình trạng thiếu máu cục bộ não [3],[7],[8]. Tổng quan Y học cổ truyền về trúng thử 1.
Khái niệm về thử - Thử là hỏa nhiệt của mùa hạ, trong khoảng thời gian sau hạ chí đến trước lập thu. Ngoại tà hỏa nhiệt trong tự nhiên gọi là thử tà. Thử tà gây bệnh gọi là thử bệnh. - Thử là chủ khí mùa hạ.
Thử tà có tính theo tiết mùa rõ rệt và gây bệnh chủ yếu từ thời tiết sau hạ chí đến trước lập thu. Thử tà có thể đơn độc gây bệnh vào mùa hạ, thử thuộc ngoại tà và không thấy nội thử. Thử tà gây bệnh phân ra âm và dương. Mùa hạ về ban ngày thời tiết quá nóng, hoặc làm việc dưới ánh nắng mặt trời lâu, hoặc làm việc nơi có nhiệt độ cao mà gây nên thử bệnh thì đều thuộc dương thử; hoặc do thời tiết nóng bức, ăn nhiều đồ mát lạnh, thích sống ngoài trời, thích ngâm lạnh quá lâu cũng gây nên thử bệnh và thuộc về âm thử [9],[10],[11].
Đặc tính của thử - Thử là dương tà hay gây sốt và hiện tượng viêm nhiệt, khát, mạch hồng, ra mồ hôi. - Thử hay đi lên trên, tản ra ngoài (thăng tán) làm mất tân dịch: gây ra mồ hôi nhiều, mất nước và điện giải có thể gây hôn mê, trụy mạch. - Hay phối hợp với thấp lúc cuối hạ sang thu gây ra các chứng ỉa chảy, lỵ [10]. Trúng thử 1.
Khái niệm về trúng thử - Từ thời Tần Việt Nhân - Hiệu Biển Thước trong “Hoàng Đế - Nội kinh (TK VIII – III, TCN)”, Y học cổ truyền phương Đông đã mô tả hội chứng say nóng trong phạm trù “Trúng thử”, nguyên nhân do mùa hè nóng nực, nhiệt độ môi trường và độ ẩm tăng cao mà bệnh nhân phải làm việc, lao động với cường độ cao liên tục ở nơi thông khí kém, nên rối loạn công năng điều hòa thân nhiệt của cơ thể, dẫn đến hệ thống thần kinh trung ương, hệ thống tuần hoàn bị trở ngại. Biểu hiện cấp tính là chủ yếu [12]. - Dựa trên biện chứng luận trị của YHCT, “Trúng thử” được chia làm 3 thể: say nóng co giật (kinh quyết) và say nóng suy kiệt. Trúng thử còn được gọi là trúng nhiệt, trúng khát, phát sa.
Nếu xuất hiện hôn mê, co giật, liệt tứ chi thì đó là chứng tối cấp bách của bệnh, còn gọi là thử phong, thử quyết, thử khinh, thử bế. - Trúng thử trong y học cổ truyền có sự tương đồng với say nóng của y học hiện đại, biểu hiện lâm sàng giống nhau, do vậy trong điều trị có ý nghĩa tham khảo. Cơ chế bệnh sinh của trúng thử theo y học cổ truyền - “Trúng thử” xảy ra chủ yếu do mùa hè nóng nực, môi trường khí nóng quá cao, cơ thể không có khả năng thích ứng, vì vậy nguyên nhân “Trúng thử” là do ngoại cảm, (tà khí thử nhiệt); nhưng nguyên nhân bên trong là chính khí hư suy, cơ thể không kịp thích ứng với môi trường, khí nóng và độ ẩm môi trường tăng cao lại lao động ở chỗ thông khí kém. - Thử là hỏa nhiệt chi tà (Đan Khê tâm pháp – Trúng thử) viết: “Thử nãi hạ nguyệt viêm thử dã”, “thịnh nhiệt chi khí giả, hỏa dã”.
8 - Thử nhiệt xâm phạm từ bên ngoài: mùa hạ quá nóng, cảm nhiễm thử nhiệt hoặc thử thấp ngoại tà, tà nhiệt nội uất, bưng bít thanh khiếu gây rối loạn thăng giáng, khí hóa thất thường, rối loạn âm dương khí huyết, cuối cùng gây trúng thử.