Luận án tiến sĩ: Đánh giá độc tính và tác dụng sinh học của cao khô hành đen

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu bào chế đánh giá độc tính và một số tác dụng sinh học của cao khô hành đen, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Trường đại học

Học viện Quân y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

247
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY HÀNH TA

1.1.1. Đặc điểm thực vật và phân bố

1.1.2. Thành phần hóa học

1.1.2.1. Các hợp chất flavonoid
1.1.2.2. Các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ

1.1.3. Tác dụng sinh học và dược lý

1.2. TỔNG QUAN VỀ LÊN MEN DƯỢC LIỆU

1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình lên men dược liệu

1.2.2. Thay đổi về thành phần hóa học và tác dụng sinh học sau quá trình lên men dược liệu chi Allium

1.3. CÁC GIAI ĐOẠN BÀO CHẾ CAO KHÔ DƯỢC LIỆU

1.3.1. Chuẩn bị dung môi, dược liệu

1.3.2. Chiết xuất dược liệu

1.3.3. Loại bớt tạp chất. Cô đặc, sấy khô

1.4. MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG SINH HỌC

1.4.1. Các mô hình thực nghiệm in vivo

1.4.2. Các mô hình thực nghiệm in vitro

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.5.1.1. Dược liệu nghiên cứu
1.5.1.2. Động vật thí nghiệm. Các dòng tế bào và chủng vi sinh vật kiểm định cho nghiên cứu in vitro
1.5.1.3. Thuốc thử, hóa chất và dung môi. Thiết bị nghiên cứu
1.5.1.4. Địa điểm thực hiện nghiên cứu

1.5.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.2.1. Nghiên cứu xây dựng quy trình lên men tạo hành đen và tiêu chuẩn chất lượng hành đen
1.5.2.2. Nghiên cứu bào chế và xây dựng tiêu chuẩn cao khô hành đen
1.5.2.3. Nghiên cứu đánh giá độc tính và tác dụng sinh học của cao khô hành đen
1.5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu

1.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.6.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÊN MEN TẠO HÀNH ĐEN VÀ TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG HÀNH ĐEN

1.6.1.1. Kết quả thẩm định phương pháp định lượng cycloalliin trong hành đen bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao
1.6.1.2. Kết quả xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dược liệu hành ta làm nguyên liệu bào chế hành đen
1.6.1.3. Kết quả xây dựng quy trình lên men tạo hành đen
1.6.1.4. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của hành đen. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của hành đen

1.6.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CAO KHÔ HÀNH ĐEN

1.6.2.1. Kết quả xây dựng quy trình bào chế cao khô hành đen
1.6.2.2. Kết quả xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của cao khô hành đen
1.6.2.3. Kết quả đánh giá độ ổn định của cao khô hành đen

1.6.3. ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CAO KHÔ HÀNH ĐEN

1.6.3.1. Kết quả đánh giá độc tính của cao khô hành đen
1.6.3.2. Kết quả đánh giá một số tác dụng sinh học của cao khô hành đen

4. CHƯƠNG 4: VỀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH LÊN MEN TẠO HÀNH ĐEN VÀ TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG HÀNH ĐEN

4.1. Về việc lựa chọn cycloalliin làm chất đánh dấu

4.2. Về tiêu chuẩn cơ sở hành ta

4.3. Về xây dựng quy trình lên men tạo hành đen

4.4. Về nghiên cứu thành phần hóa học của hành đen. Về xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của hành đen

4.5. VỀ NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CAO KHÔ HÀNH ĐEN

4.5.1. Về điều chế dịch chiết hành đen

4.5.2. Bào chế cao khô hành đen bằng phương pháp phun sấy

4.5.3. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở bột cao khô hành đen

4.5.4. Đánh giá độ ổn định của cao khô hành đen

4.6. VỀ ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA CAO KHÔ HÀNH ĐEN

4.6.1. Đánh giá độc tính của cao khô hành đen

4.6.2. Đánh giá một số tác dụng sinh học của cao khô hành đen

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá độc tính của cao khô hành đen

Nghiên cứu độc tính của cao khô hành đen được thực hiện nhằm xác định mức độ an toàn sinh học của sản phẩm này. Các phương pháp thử nghiệm độc tính cấp tính và mãn tính đã được áp dụng để đánh giá tác động của cao khô hành đen trên động vật thí nghiệm. Kết quả cho thấy, liều lượng cao của cao khô hành đen không gây ra hiện tượng ngộ độc cấp tính, với tỷ lệ sống sót cao ở nhóm chuột thí nghiệm. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng độc tính cấp tính của sản phẩm này có thể được coi là thấp, với giá trị LD50 vượt quá 2000 mg/kg. Điều này cho thấy cao khô hành đen có thể được sử dụng an toàn trong các ứng dụng y học và thực phẩm. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi các tác dụng phụ có thể xảy ra trong thời gian dài sử dụng.

1.1. Phương pháp đánh giá độc tính

Phương pháp đánh giá độc tính được thực hiện thông qua việc sử dụng các mô hình động vật thí nghiệm như chuột và thỏ. Các chỉ số sinh hóa như AST, ALT, và các chỉ số huyết học được theo dõi để đánh giá tác động của cao khô hành đen lên cơ thể động vật. Kết quả cho thấy không có sự thay đổi đáng kể trong các chỉ số này, cho thấy cao khô hành đen không gây tổn thương cho gan và thận. Điều này khẳng định rằng cao khô hành đen có thể được coi là an toàn cho sức khỏe con người khi sử dụng đúng liều lượng.

II. Tác dụng sinh học của cao khô hành đen

Nghiên cứu về tác dụng sinh học của cao khô hành đen đã chỉ ra nhiều lợi ích tiềm năng cho sức khỏe. Các thử nghiệm in vitro cho thấy cao khô hành đen có khả năng ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư, với giá trị IC50 thấp, cho thấy hoạt tính chống ung thư mạnh mẽ. Ngoài ra, cao khô hành đen cũng cho thấy tác dụng hạ lipid máu và hạ glucose máu, điều này có thể hữu ích trong việc điều trị các bệnh lý như tiểu đường và rối loạn lipid máu. Các hợp chất phenolic trong cao khô hành đen được cho là nguyên nhân chính gây ra các tác dụng này, nhờ vào khả năng chống oxy hóa và kháng viêm của chúng.

2.1. Tác dụng chống ung thư

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cao khô hành đen có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư qua cơ chế tác động lên chu trình tế bào. Các hợp chất trong cao khô hành đen như cycloalliin và các flavonoid có thể làm giảm sự sinh sản của tế bào ung thư, đồng thời kích thích quá trình apoptosis. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư từ thiên nhiên, đặc biệt là từ các dược liệu truyền thống như hành đen.

III. Ứng dụng thực tiễn của cao khô hành đen

Với những kết quả nghiên cứu về độc tínhtác dụng sinh học, cao khô hành đen có thể được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực dược phẩm và thực phẩm chức năng. Sản phẩm này không chỉ có thể được sử dụng như một loại thực phẩm bổ sung mà còn có thể phát triển thành các sản phẩm thuốc điều trị. Việc sử dụng cao khô hành đen trong chế biến thực phẩm cũng có thể giúp tăng cường giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần khẳng định giá trị của các dược liệu truyền thống trong việc phát triển các sản phẩm y tế hiện đại.

3.1. Phát triển sản phẩm từ cao khô hành đen

Các nhà nghiên cứu có thể phát triển các sản phẩm từ cao khô hành đen như viên nang, bột hoặc dịch chiết để dễ dàng sử dụng. Việc này không chỉ giúp bảo tồn các hoạt chất có lợi mà còn tạo ra các sản phẩm tiện lợi cho người tiêu dùng. Hơn nữa, việc kết hợp cao khô hành đen với các dược liệu khác có thể tạo ra các sản phẩm có tác dụng bổ trợ, nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa bệnh tật.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY HÀNH TA Hành ta có tên khoa học là Allium ascalonicum L., thuộc họ Hành (Liliaceae) [1]. Đặc điểm thực vật và phân bố Cây thảo, sống 1 - 2 năm, cao 15 - 50 cm.

Bản chất hình thái thân hành ta phình to nên thường gọi là củ hành, có kích thước thay đổi, có cạnh, gồm nhiều vẩy thịt mỏng như giấy, có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Hành ta có hình dạng trong hơi dẹt, hình bầu dục hoặc hình bầu dục dài, thường có màu đỏ, tím hay màu trắng. Lá dài, hình trụ, nhọn, rỗng, tròn, màu xanh mốc. Cụm hoa dạng tán ở đầu một cán cao 20 - 50 cm, rộng, tán hoa hình cầu.

Hoa có 6 phiến hoa rời, màu trắng, hồng hay tím nhạt, cuống hoa dài 1 - 1,5 cm [1]. Hình ảnh hành ta * Nguồn: Ảnh chụp tại huyện đảo Lý Sơn tháng 8 năm 2017 Phân bố: Cây trồng làm rau ăn từ lâu đời, đầu tiên được trồng ở Tadzhikistan, Afghanistan, Iran sau đó du nhập khắp thế giới. Ở nước ta cây hành ta được trồng ở nhiều nơi như huyện Kinh Môn (tỉnh Hải Dương), huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), huyện Ninh Hải (tỉnh Ninh Thuận), thị xã Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng), huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang) nhưng luan an 4 nổi tiếng nhất là ở thị xã Vĩnh Châu và huyện đảo Lý Sơn. Thường trồng ở rẫy và vùng đồng bằng.

Cây chịu được lạnh vào mùa đông. Vào tháng 7 - 8, lúc lá khô, đào lấy củ đem phơi khô, rồi để trong bóng mát [5]. Bộ phận dùng: Thân hành hay còn gọi là củ hành. Thành phần hóa học Theo các tài liệu thu thập được, thành phần hóa học của hành ta chủ yếu là các flavonoid, các hợp chất lưu huỳnh và các saponin.

Các hợp chất flavonoid Flavonoid trong hành ta chủ yếu thuộc nhóm flavonol như kaempferol, isorhamnetin, dẫn chất của quercetin: isoquercetin, quercetin monoglucosid, quercetin diglucosid và quercetin tự do. Theo nghiên cứu của Fattorusso E. và cộng sự, sau khi thu nhận cao methanol từ hành ta và phân lập bằng các hỗn hợp dung môi như n-butanol và nước, methanol và nước, thông qua nhiều loại cột khác nhau đã xác định được một số flavonoid và glycosid của chúng như quercetin, quercetin-4'-glucosid (spiraeosid), quercetin-7-glucosid, quercetin-3-4'-diglucosid, isorhamnetin và isorhamnetin-3-4'-diglucosid [2]. và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đánh giá hàm lượng flavonol glucosid trong một số loài hành, bằng phương pháp HPLC-DAD-ESI-MS-MS.

Kết quả cho thấy hành ta có chứa các hợp chất quercetin 3,7,4'-triglucosid, quercetin 7,4'-diglucosid, quercetin 3,4'- diglucosid, isorhamnetin 3,4'-diglucosid, quercetin 3-glucosid, quercetin 4'- glucosid và isorhamnetin 4'-glucosid, trong đó quercetin 3,4'-diglucosid và quercetin 4'-glucosid có hàm lượng cao nhất, tương ứng là 516-605 mg/kg và 392-509 mg/kg [6]. Ngoài ra trong hành ta còn có một số glucosid khác của quercetin và isorhamnetin như quercetin-3-rhamnosid (quercitrin) và isorhamnetin-3- glucosid [7]. luan an 5 Theo kết quả của các nghiên cứu đã được thực hiện, các hợp chất flavonoid phân lập được từ hành ta được trình bày ở bảng 1. Các hợp chất flavonoid trong hành ta STT Tên hợp chất TLTK 1 Quercetin (1) [2], [7] 2 Quercetin 4'-O-glucosid (2) [7] 3 Quercetin 3-O-rhamnosid (3) [7] 4 Quercetin 3,4'-O-diglucosid (4) [7] 5 Quercetin 7-glucosid (5) [6] 6 Quercetin 3-glucosid (6) [6] 7 Quercetin 7,4'-diglucosid (7) [6] 8 Quercetin 3,7,4'-triglucosid (8) [6] 9 Isorhamnetin (9) [2] 10 Isorhamnetin 3,4'-O-diglucosid (10) [7] 11 Isorhamnetin 4'-glucosid (11) [6] 12 Isorhamnetin 3-O-glucosid (12) [7] 13 Kaemferol 3-O-glucosid (13) [7] 14 Kaemferol 3,4'-O-glucosid (14) [7] R1 R2 R3 R4 R1 R2 R3 R4 (1) H H H H (7) H Glc H Glc (2) H H H Glc (8) Glc Glc H Glc (3) Rha H H H (9) H H CH3 H (4) Glc H H Glc (10) Glc H CH3 Glc (5) H Glc H H (11) H H CH3 Glc (6) Glc H H H (12) Glc H CH3 H R1 R2 (13) Glc H (14) Glc Glc Hình 1.

Cấu trúc của các flavonoid phân lập từ hành ta * Nguồn: Theo Fatturuso E. Các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ Các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ trong hành ta tồn tại dưới 3 dạng chính là cystein sulfoxyd, γ-glutamylcystein và các hợp chất lưu huỳnh dễ bay hơi khác [8]. Hợp chất γ-glutamylcystein dễ bị oxy hóa và thủy phân thành thiosulfinat như là S-alky(en)yl-cystein sulfoxyd (ACSO) đại diện là các chất như alliin, isoalliin, methiin và propiin [8], [9], [10]. ACSO và các thiosulfinat khác có thể chuyển đổi thành các hợp chất có chứa lưu huỳnh dễ bay hơi như dithiin, allicin, vinyldithiin, bởi enzym allinase [8], [11].

Tuy nhiên, cycloalliin (CYC) không bị chuyển đổi thành thiosulfinat bởi enzym allinase và vẫn ổn định trong quá trình cắt hoặc nghiền hành ta [12], [13]. * Cycloalliin a) Nguồn gốc - CYC là một sulfoxyd mạch vòng bền vững với nhiều hoạt tính sinh học khác nhau, thuộc nhóm organosulfur, có màu trắng. - CYC có nhiều trong hành ta, hành tây, hẹ và tỏi tây. - CYC sử dụng trong các nghiên cứu thường ở dạng cycloalliin hydroclorid monohydrat [8], [12], [13].

b) Công thức hóa học Hình 1. Công thức hóa học của cycloalliin * Nguồn: Theo Ichikawa M. (2006) [12] - Tên IUPAC: (1S, 3R, 5S)-5-methyl-1,4-thiazan-3-carboxylic acid 1- oxyd. - Công thức phân tử: C6H11NO3S luan an 7 - Khối lượng mol phân tử: 177,22 đvC [14].

c) Tính chất vật lý - Cảm quan: Bột tinh thể màu trắng. - Độ tan: Trong môi trường nước là 52,3 g/l. - Khối lượng riêng: 1,4 g/cm3 [14]. - Một đặc điểm quan trọng của cycloalliin là có khả năng hấp thụ tia tử ngoại, có cực đại hấp thụ tại bước sóng 210 nm [15], [16].

d) Độ ổn định - CYC ổn định trong các dung dịch acid, dung dịch kiềm và các dịch sinh học như máu toàn phần, huyết tương. - CYC ổn định trong dung dịch HCl 0,1M và NaOH 0,1M ở 70°C trong 3 giờ, hầu như không chuyển hóa thành chất khác, lượng thu hồi là hơn 98%. Khi thêm CYC vào máu và huyết tương chuột thì hơn 96% CYC được thu hồi. Trong các thí nghiệm với các chất đồng nhất của gan chuột, hơn 97% CYC không bị phân hủy sau khi ủ ở 37°C, thời gian là 7 giờ và không có chất chuyển hóa nào của CYC được phát hiện [15].

e) Các phương pháp định lượng - Ichikawa M. và cộng sự sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao để định lượng CYC. Pha động là hỗn hợp acetonitril/nước với tỷ lệ 84:16 (thể tích/ thể tích) và 0,2% acid phosphoric. Điều kiện sắc ký: Cột Shodex Asahipak NH2P-50 2D (150 mm x 2 mm, 5 µm), nhiệt độ cột 25°C, tốc độ dòng 0,2 ml/phút, thể tích tiêm mẫu 1 µl và detector UV với bước sóng 210 nm [16].

và cộng sự cũng định lượng CYC theo phương pháp được mô tả bởi Ichikawa M. và cộng sự với một số thay đổi như cột sắc ký là cột Shodex Asahipak NH2P-50 4E (250 mm x 4,6 mm), pha động là dung dịch A luan an 8 (0,2%, thể tích/thể tích, acid phosphoric trong nước) và dung dịch B (0,2%, thể tích/thể tích, acid phosphoric trong acetonitril) chạy theo chương trình gradient (0-5 phút: 84% B, 5-15 phút: 84-80% B, 15-20 phút: 80-84% B, 20- 30 phút: 84% B), nhiệt độ cột 30°C, tốc độ dòng 1,5 ml/phút và thể tích tiêm mẫu là 10 µl [17]. f) Tác dụng dược lý CYC có tác dụng giảm nguy cơ mắc ung thư và bệnh tim mạch, cũng như đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm chất béo trung tính trong huyết thanh ở chuột [18], [19]. Ngoài ra, CYC còn có tác dụng làm tăng đáng kể hoạt động tiêu sợi huyết của máu trong một thử nghiệm trên người nhưng không có tác dụng trên kết tập tiểu cầu [20], [21], [22].

g) Quá trình chuyển hóa các chất thành cycloalliin Trong hành ta có các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ được sinh tổng hợp bằng cách sử dụng các hợp chất vô cơ có chứa lưu huỳnh. Lưu huỳnh kết hợp với L-cystein, sau đó trải qua hai quá trình chuyển đổi, glutamyl hóa và glycyl hóa để tạo ra glutathion. Sau quá trình cố định lưu huỳnh này, các hợp chất lưu huỳnh khác nhau được tạo ra dưới dạng một loạt các phân tử có chứa lưu huỳnh, chẳng hạn như S-alk (en) yl-L-cystein sulfoxyd, γ-glutamyl-S-alk (en) yl-L-cystein và γ -glutamyl-S-alk (en) yl-L-cystein sulfoxyd thông qua S-alk (en) yl hóa dư lượng L-cystein, tiếp theo là loại bỏ glycin để tạo thành γ- glutamyl peptid (GSPC). GSPC được chuyển đổi thành S-alk(en)yl-L-cystein sulfoxyd như alliin, isoalliin, methiin bởi γ-glutamyl transpeptidase và oxydase [23], [24], [25].

và cộng sự đã trình bày con đường sinh tổng hợp của các hợp chất S-1-propenyl bao gồm trans-S-1-propenyl-L-cystein sulfoxyd (trans-S1PCSO, isoalliin) trong hành tây, thông qua kỹ thuật đánh dấu đồng vị [26]. Trong hành tây, sau khi khử cacboxyl hóa dư lượng β- carboxypropenyl trong S- (β-carboxypropenyl) -γ-glutamyl-L cystein để tạo ra γ-glutamyl-S-1-propenyl-L-cystein (GS1PC), lưu huỳnh trong GS1PC bị luan an 9 oxy hóa bởi oxygenase và sau đó isoalliin được giải phóng khỏi GS1PC sulfoxyd bằng cách khử oxy hóa [27]. Quá trình sinh tổng hợp isoalliin * Nguồn: Theo Kodera Y. Vì vậy, hàm lượng CYC sẽ tăng lên trong quá trình bảo quản, đun nấu hành ta ở nhiệt độ cao cũng như lên men hành ta dưới tác động của nhiệt độ.

luan an 10 Hình 1. Cơ chế chuyển hóa isoalliin thành cycloalliin * Nguồn: Theo Lee H. (2016) [17] Ngoài ra, bằng phương pháp sắc ký khí, Wu J. và cộng sự đã xác định được trong tinh dầu chiết từ hành ta, các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ có hàm lượng khoảng 0,03% (thể tích/khối lượng) so với khối lượng nguyên liệu khô kiệt (bảng 1.

luan an 11 Bảng 1. Các hợp chất lưu huỳnh hữu cơ trong hành ta Thành phần Hàm lượng (%)* Dimethyl disulfid 1,99 Propyl propenyl sulfid 0,28 Methyl propyl disulfid 3,59 Methyl cis-propenyl disulfid 2,91 Methyl trans-propenyl disulfid 5,09 Dimethyl trisulfid 18,81 Dipropyl disulfid 4,16 Propyl cis-propenyl disulfid 2,79 Propyl trans-propenyl disulfid 4,43 Methyl propyl trisulfid 19,93 Methyl propenyl trisulfid 4,85 Dipropyl trisulfid 5,55 1-methylthiopropyl ethyl disulfid 6,41 Propyl cis-propenyl trisulfid 4,50 Propyl trans-propenyl trisulfid 5,47 * so với tổng các hợp chất chiết được trong tinh dầu. * Nguồn: Theo Wu J. Các hợp chất chính trong tinh dầu hành ta * Nguồn: Theo Mnayer D.

Các hợp chất saponin Năm 2002, Fattorusso E. và cộng sự đã chiết xuất, phân lập được từ luan an 12 hành ta các hợp chất saponin mới là ascalonicosid A1/A2 và ascalonicosid B [2]. Đây là các hợp chất saponin furostanol lần đầu tiên được phân lập từ hành ta. và cộng sự đã chiết xuất, phân lập được từ hành ta 2 hợp chất saponin furostanol mới là ascalonicosid C, ascalonicosid D và 2 hợp chất đã biết là dichotomin, parisaponin [31].

Các hợp chất saponin phân lập được trình bày ở bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đánh giá độc tính và tác dụng sinh học của cao khô hành đen" của tác giả Nguyễn Hồng Sơn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Vũ Bình Dương và PGS. Hồ Anh Sơn, được thực hiện tại Học viện Quân y. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá độc tính và các tác dụng sinh học của cao khô hành đen, một loại dược liệu có tiềm năng trong y học. Bài luận án không chỉ cung cấp những thông tin quý giá về tính an toàn và hiệu quả của cao khô hành đen mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong điều trị bệnh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC", nơi trình bày phương pháp định lượng một hoạt chất quan trọng trong dược liệu. Bên cạnh đó, "Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023" cũng là một nghiên cứu thú vị về nhu cầu tư vấn thuốc, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự quan trọng của việc tư vấn trong điều trị. Cuối cùng, "Nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh và minivis" sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các ứng dụng trong y dược.