ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn chuyển hóa mạn tính với tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, đặc trưng bởi lượng đường huyết tăng cao dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chức năng tim mạch, mắt, thận và thần kinh. Bệnh ĐTĐ típ 2 là do sự đề kháng với insulin hoặc thiếu insulin do tế bào β tuyến tụy tiết ra không đủ hoặc kết hợp cả hai [1]. Theo dữ liệu gần đây nhất của Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (International Diabetes Federation - IDF): 537 triệu người- khoảng 10,5% tổng số người trong độ tuổi 20-79 trên thế giới đang chung sống với bệnh đái tháo đường tính đến năm 2021. Con số này dự kiến sẽ tăng lên 643 triệu vào năm 2030 và 783 triệu vào năm 2045 [2].
Hơn nữa, ước tính có khoảng 240 triệu người mắc bệnh đái tháo đường hiện chưa được chẩn đoán. Tại Việt Nam, kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 2021 cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trưởng thành ước tính là 7,1%, tương đương với khoảng gần 5 triệu người đang mắc bệnh đái tháo đường. Trong đó, số đã được chẩn đoán chỉ chiếm khoảng 35% và số đang được quản lý, điều trị tại các cơ sở y tế chiếm 23,3%. Theo dự báo, số mắc đái tháo đường của Việt Nam cũng như toàn thế giới sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm tới [3].
Hiện nay có một số nhóm thuốc điều trị ĐTĐ nhưng hiệu quả còn hạn chế, các thuốc hầu như không có tác dụng hạ glucose huyết lâu dài kể cả khi đã dùng phối hợp, hiệu quả ngăn ngừa biến chứng thấp, còn nhiều tác dụng không mong muốn, một số thuốc gây tăng cân, gây hạ đường huyết quá mức, buồn nôn, nôn, tiêu chảy… Do vậy, nghiên cứu các thuốc điều trị ĐTĐ hiệu quả và ít tác dụng phụ là rất cần thiết. Tại các nước có nền y học cổ truyền phát triển như Việt Nam, bên cạnh các phương pháp y học hiện đại, các bài thuốc, vị thuốc đang được nghiên cứu ngày càng sâu để góp phần điều trị các bệnh, trong đó có bệnh đái tháo đường. Cây Xấu hổ là một dược liệu mọc hoang ở nhiều vùng của nước ta và đã được chứng minh sơ bộ là có tác dụng chống viêm, an thần, giảm đường huyết và có thể có tác dụng trong điều trị bệnh đái tháo đường. Nguồn cung cấp nguyên liệu 1 về cây Xấu hổ rất tiềm năng.
Việc phát triển các dược liệu thành thuốc hoặc các sản phẩm bảo vệ sức khỏe theo hướng chống đái tháo đường đang rất cần thiết. Các nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy cây Xấu hổ chứa các nhóm hợp chất như alkaloid, terpenoid, glycoprotein, crocetin dimethyl ester, phytosterol, glycosid, flavonoid, quinon, hợp chất phenolic, saponin, coumarin và tanin [4]. Một tác giả khác cũng phân lập được từ phân đoạn EtOAc của cao chiết Xấu hổ các hợp chất có tác dụng ức chế α-glucosidase như: stigmasterol; quercetin; avicularin [5]. Nhìn chung, các nghiên cứu về cây Xấu hổ còn rời rạc, chưa có nghiên cứu toàn diện bao gồm cả in silico, in vitro và in vivo về tác dụng và cơ chế tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường của cây Xấu hổ.
Do đó, nghiên cứu làm sáng tỏ tác dụng và cơ chế tác dụng hạ đường huyết của cao phân đoạn và các hợp chất của cây Xấu hổ (Mimosa pudica L.) trên bệnh đái tháo đường là rất cần thiết. Do đó, nghiên cứu này tập trung đánh giá tác dụng hạ đường huyết, chống viêm, hạ lipid máu, cải thiện biến chứng tổn thương thận và sơ bộ cơ chế tác dụng chống đái tháo đường của cao chiết lá cây Xấu hổ. Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về tác dụng dược lý của cây Xấu hổ có tác dụng điều trị bệnh đái tháo đường, từ đó đề xuất khả năng ứng dụng theo hướng làm thuốc điều trị bệnh đái tháo đường của cây Xấu hổ, và phát triển nguồn dược liệu Việt. Do vậy, luận án “Nghiên cứu tác dụng chống đái tháo đường của lá cây Xấu hổ (Mimosa pudica L.) trên thực nghiệm.” được tiến hành nhằm mục tiêu: 1.
Đánh giá tác dụng hạ đường huyết và một số tác dụng liên quan đến đái tháo đường của cao chiết lá cây Xấu hổ trên thực nghiệm. Đánh giá cơ chế tác dụng chống đái tháo đường của cao chiết và hai hợp chất chiết xuất từ lá cây Xấu hổ in vitro và in silico. Tổng quan về bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hoá không đồng nhất, có đặc điểm tăng đường huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hoá carbohydrat, protein, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [6].
Phân loại ĐTĐ Đái tháo đường típ 1 ĐTĐ típ 1 do tế bào β bị phá hủy nên bệnh nhân không còn hoặc còn rất ít insulin, 95% do cơ chế tự miễn (típ 1A), 5% vô căn (típ1B). Bệnh nhân bị thiếu hụt insulin, tăng glucagon trong máu, không điều trị sẽ bị nhiễm toan ceton. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên. Bệnh nhân cần insulin để ổn định glucose huyết.
Đái tháo đường típ 2 ĐTĐ típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Thể bệnh này bao gồm những người có thiếu insulin tương đối cùng với đề kháng insulin. Bệnh nhân không có sự phá hủy tế bào beta do tự miễn, không có kháng thể tự miễn trong máu. Đa số bệnh nhân có béo phì hoặc thừa cân và/hoặc béo phì vùng bụng với vòng eo to.
Béo phì nhất là béo phì vùng bụng có liên quan với tăng acid béo trong máu, mô mỡ cũng tiết ra một số hormon làm giảm tác dụng của insulin ở các cơ quan đích như gan, tế bào mỡ, tế bào cơ (đề kháng insulin tại các cơ quan đích). Do tình trạng đề kháng insulin, ở giai đoạn đầu tế bào β bù trừ và tăng tiết insulin trong máu, nếu tình trạng đề kháng insulin kéo dài hoặc nặng dần, tế bào β sẽ không tiết đủ insulin và ĐTĐ típ 2 lâm sàng sẽ xuất hiện. Nguyên nhân ĐTĐ nguyên phát [4] Các nguyên nhân ĐTĐ típ 1 ĐTĐ típ 2 Tiền sử gia đình Kháng nguyên HLA- Đặc tính dân tộc Yếu tố nguy cơ DR3, HLA-DR4 Ăn nhiều, ít tập luyện thể dục Nhiễm độc Nhiễm virus Béo phì Yếu tố khởi phát Stress chuyển hoá Stress chuyển hoá Các tế bào tại đảo tuỵ thoái Phá huỷ đảo tuỵ theo cơ Yếu tố bệnh sinh hoá/suy yếu dần chế tự miễn Giảm receptor insulin Đái tháo đường thai kỳ ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa thai kỳ hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó. Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ Thể chuyên biệt của ĐTĐ hay ĐTĐ thứ phát do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô…[6, 7].
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ típ 2 1. Nguyên nhân Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường típ 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và môi trường. - Yếu tố di truyền. - Yếu tố môi trường: đây là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh.
Các yếu tố đó là: + Sự thay đổi lối sống: như giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. + Chất lượng thực phẩm + Các stress 4 - Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: đây là yếu tố không thể can thiệp được. Cơ chế bệnh sinh bệnh ĐTĐ típ 2 - Suy giảm chức năng tế bào β và kháng insulin - Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực, là những đặc điểm thường thấy ở người đái tháo đường típ 2 có kháng insulin. Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền đái tháo đường, tăng huyết áp vô căn, người mắc hội chứng chuyển hoá.
Người đái tháo đường típ 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin-đặc biệt khi lượng glucose huyết tương khi đói trên 10,0 mmol/L [6]. Thừa cân, ít hoạt động thể lực là những yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh ĐTĐ. Cơ chế tác dụng của insulin Insulin là một peptid 51 acid amin, được sản xuất và tiết ra bởi các tế bào đảo tụy. Nó bao gồm hai chuỗi polypeptid, A và B, gồm 21 và 30 acid amin tương ứng, được nối với nhau bằng cầu nối disulfit.
Hoạt động sinh học của insulin bắt đầu khi nó liên kết với thụ thể. Bản thân thụ thể của insulin (insulin receptor -IR) là gồm 2 tiểu đơn vị α và 2 tiểu đơn vị β. Tiểu đơn vị α có chứa vị trí gắn insulin nằm ở mặt ngoài của màng plasma. Tiểu đơn vị β xuyên qua màng với miền tyrosin kinase nội bào được kích hoạt bởi quá trình phosphoryl hóa.
Insulin liên kết với tiểu đơn vị α của thụ thể và kích hoạt hoạt động tyrosin kinase của tiểu đơn vị β dẫn đến quá trình tự phosphoryl hóa và kích hoạt thụ thể insulin. Kinase này lại hoạt hóa tiếp nhiều protein kinase khác bằng phản ứng phosphoryl hóa các gốc tyrosin đặc hiệu. Cuối cùng những enzym này có thể phosphoryl hóa một nhóm các phân tử cơ chất nội bào điển hình như là thụ thể insulin nền (insulin receptor substrate -IRS). Quá trình phosphoryl hóa có thể kích hoạt con đường tín hiệu phosphatidylinositol-3-kinase (PI3K)/AKT, còn được gọi là protein kinase B (PKB), chịu trách nhiệm cho hầu hết các hoạt động trao đổi chất như thúc đẩy sự chuyển vị của protein vận chuyển glucose, glycogen, tổng hợp lipid, protein và kiểm soát quá trình tân tạo đường ở gan [8].
5 Các protein IRS phosphoryl hóa liên kết với các tiểu đơn vị điều tiết phosphatidylinositol-3-kinase (PI3K), điều này dẫn đến việc kích hoạt PI3K và PI3K phosphoryl hóa phosphatidylinositol 4,5-biphosphat (PIP2) thành phosphatidylinositol (3,4,5)-triphosphat (PIP3). PIP3 lại kích hoạt các kinase: PDK-1 và PDK-2 và cuối cùng là kích hoạt AKT/PKB kinase. Sau đó, AKT xúc tác quá trình phosphoryl hóa protein cơ chất AS160 kích thích sự dịch chuyển các chất vận chuyển glucose GLUT-4 từ các túi tế bào chất đến bề mặt màng tế bào và do đó làm tăng sự vận chuyển glucose phụ thuộc insulin vào tế bào (hình 1.