ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những đất nước có điều kiện tốt khí hậu tốt để thực vật phát triển và tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc nghiên cứu tạo ra các sản phẩm có giá trị trị bệnh cho con người. Chính vì vậy, từ ngàn xưa, ông cha ta đã khám phá sức mạnh của thiên nhiên và biết sử dụng nhiều loại thực vật nhằm mục đích chữa bệnh, đồng thời tránh được một số tác nhân có hại cho sức khỏe con người và được đặt lên hàng đầu. Xã hội ngày càng phát triển thì con người càng phải đối đầu với những loại bệnh mới, nguy hiểm hơn rất nhiều như: Đái tháo đường, tăng huyết áp, ung thư,…Từ nguyên nhân trên, nhu cầu về các loại thuốc cũng tăng cao. Do đó, việc nghiên cứu các chất mang hoạt tính sinh học cao có trong các loài cây, cỏ có tác dụng thiết thực trong đời sống hàng ngày là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.
Gần đây, có một loại cây di thực từ châu Mỹ du nhập vào Việt Nam và được sử dụng như một loại cây cảnh đẹp và lạ, đó là cây Hồ đằng rễ mành (Cissus verticillata (L. Cây này có thể bắt gặp ở quán cà phê, nơi bán cây cảnh, nhà hàng,… Tuy nhiên, bên cạnh việc dùng để làm cảnh, cây còn đem lại một số tác dụng chữa bệnh: Đái tháo đường, hạ đường huyết (Almeida E., et al (2007); Pepato M., et al (2003); Viana G., et al (2004)), chống viêm và chống dị ứng (Quilez A. Về hóa thực vật, trong cây có sự hiện diện của: Flavonoid, saponin, coumarin, steroid. Do cây mới xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng thời gian gần đây nên việc theo dõi sự phát triển của cây với sinh thái, thổ nhưỡng cần được quan tam nhiều hơn.
Để góp phần tìm hiểu thêm về giá trị mà cây thuốc đem lại, đề tài “Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa của cây Hồ đằng rễ mành (Cissus verticillata (L.Jarvis) được tiến hành với các nội dung sau: - Mô tả định danh, khảo sát vi học các bộ phận của cây HĐRM. - Định tính sơ bộ thành phần hóa thực vật của cây HĐRM. - Khảo sát tác dụng sinh học: Thử hoạt tính chống oxy hóa của cây HĐRM. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Thực vật học 2. Vị trí phân loại Tên gọi: Hồ đằng rễ mành Tên gọi khác: Liêm hồ đằng, Mành mành Tên nước ngoài: Princess vine (tiếng Anh) Tên khoa học: Cissus verticillata (L.Jarvis Đồng danh: Cissus sicyoides L. Thực vật bậc cao (Cormobionta) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) Bộ Nho (Vitales) Họ Nho (Vitaceae) Chi Cissus Loài Cissus verticillata (L. Sơ đồ vị trí phân loại thực vật của HĐRM 2 2.
Đặc điểm họ Nho (Vitaceae) (Trương Thị Đẹp, 2007) Thân: Cây bụi leo hay dây leo thân gỗ bằng vòi cuốn mọc đối diện với lá. Lá: Đơn, mọc cách, có khía răng hoặc có thùy hình chân vịt hoặc lá kép hình chân vịt với 3 – 5 lá chét. Lá kèm nhỏ, dễ rụng. Cụm hoa: Xim, tán, ngù, chùm, đôi khi chùm kép ở nách lá hay đối diện với lá (do sự phát triển cộng trụ của thân).
Hoa: Nhỏ, đều, lưỡng tính hay đơn tính vì trụy, mẫu 4 hay 5, 4 vòng. Bao hoa: 4 – 5 lá đài, 4 – 5 cánh hoa, tiền khai van; cánh hoa có thể rời hay dính nhau ở chóp như một cái nón. Bộ nhị: Số nhị bằng số cánh hoa, rời và mọc trước cánh hoa. Đĩa mật dày nằm ở phía trong vòng nhị.
Bộ nhụy: 2 lá noãn dính nhau thành bầu trên 2 ô, mỗi ô 2 noãn. Quả: Mọng, chứa 2 – 4 hạt, hạt có nội nhũ. Sơ lược về chi Cissus Cây bụi leo, có tua cuốn đối diện với lá. Lá đơn, thường có răng, có khi chia thùy; lá kèm 2, nhỏ.
Cụm hoa có cuống, thành tán hay ngù, đối diện với lá; hoa có cuống. Đài hình đấu. Cánh hoa 4, xếp van, tách ra ở đỉnh khi hoa nở. Nhị 4, đối diện với cánh hoa, đính xung quanh đĩa; bao phấn hướng trong.
Đĩa mật nguyên, lượn sóng hay chia thùy. Bầu dính suốt chiều cao với đĩa mật; 2 ô, 2 noãn cong; vòi dạng cột; đầu nhụy ít rõ. Quả mọng hơi nạc; hạt độc nhất, có 2 hố nhỏ ở gốc (Võ Văn Chi, 2004; Phạm Hoàng Hộ, 2000). Gồm tới 350 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và vùng nóng.
Ở nước ta có một số loài được sử dụng (Võ Văn Chi, 1997; Phạm Hoàng Hộ, 2000): - Cissus adnata Roxb. - Cissus annamica Gagn. Hồ đằng trung bộ. - Cissus assamica (Laws.
Hồ đằng assam. - Cissus astrotricha Gagn. Hồ đằng lông sao. - Cissus bachmaensis Gagn.
Hồ đằng bạch mã. - Cissus evrardii Gagn. Hồ đằng evrad. - Cissus hastata Pl.
Hồ đằng mũi giáo. - Cissus hexangularis Thor. Hồ đằng 6 cạnh. - Cissus javana DC.
Hồ đằng Java, Hồ đằng hai màu. - Cissus modeccoides Pl. Hồ đằng 4 cánh. - Cissus repens Lamk.
- Cissus rosea Royle. Hồ đằng hường. Mô tả hình thái - HĐRM là cây leo tua cuốn, cao 5 – 7 m hoặc hơn, phân nhiều cành mảnh, nhẵn, có hệ thống rễ bất định mọc ở các nách lá chạy dọc suốt thân cành. Những rễ này buông thòng mềm mại, màu hồng thắm khi còn non rồi chuyển qua màu vàng xám khi già dần.
- Lá mọc đơn so le, phiến lá hình tim hẹp, dài 6 – 10 cm, rộng 4 – 6 cm, cuống lá dài 2 – 3 cm, đậm màu, tua cuốn mảnh đối diện với cuốn lá. - Cụm hoa là một xim ngắn dạng tán đứng đối diện với lá, mang nhiều hoa nhỏ lưỡng tính với 4 cánh hoa màu vàng lục, 4 nhị đứng đối diện cánh hoa, bầu trên. - Quả mọng, gần hình cầu, đường kính 8 – 10 cm, chứa 1 – 4 hạt, khi chín màu đen (Nguồn dẫn: Http://blogcaycanh.vn; http://chohoaonline. Cây Hồ đằng rễ mành 2.
Phân bố, sinh thái - HĐRM là cây di thực phân bố tự nhiên ở nhiều vùng của châu Mỹ, từ Bắc Mỹ cho đến Trung và Nam Mỹ. - Ở nước ta, cây được trồng làm cảnh ở nhiều nơi. Cách trồng - Cây rất dễ trồng, chọn phần thân bánh tẻ, bỏ lá, chỉ chừa một phần cuống, cắt thành từng đoạn có từ hai đến ba mắt lá để làm hom giâm, cắm trong những túi bầu (Nguồn dẫn: Http://caycanhsanvuon.vn; http://trongraulamvuon. 4 - Che nắng và theo dõi để tưới nước bổ sung sao cho vừa đủ ấm.
Sau một thời gian, các chồi nách phát triển thành cành mới thì đem túi bầu đi trồng (Nguồn dẫn: Http://caycanhsanvuon.vn; http://trongraulamvuon.com ; http://chohoaonline. Thu hái, chế biến - Lá tươi, thân hay rễ rửa sạch, đun với nước để ngâm chân (Nguồn dẫn: Http://caycanhsanvuon. - Thân, lá, rễ giã lấy nước giữ luôn bã để đắp lên vết bỏng hay vết ngứa, ngoài ra có thể phơi khô để nguyên hoặc nghiền thành bột (Nguồn dẫn: Http://caycanhsanvuon. Thành phần hóa học Các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của cây HĐRM không nhiều.
et al (2002); Beltrame F. et al (2001), trong cây HĐRM có flavonoid với 2 cấu trúc chính là: Kaemferol – 3 – O – rhamnosid và quercetin – 3 – O – rhamnosid. Luteolin, kaempferol, luteonin – 3 – sulfat được chiết từ dung dịch nước sau khi thủy phân. Kaempferol – 3 – O – rhamnosid Quercetin – 3 – O – rhamnosid CTPT: C21H20O10 CTPT: C21H21O11 2.
Một số tác dụng dược lý của HĐRM 2. Tác dụng hạ đường huyết Theo Almeida E., et al (2007), dịch chiết lá tươi của cây HĐRM làm giảm đáng kể lượng đường trong máu ở chuột mắc bệnh tiểu đường., et al (2003), việc sử dụng lâu dài dịch của lá cây HĐRM ảnh hưởng đến các biến đổi sinh lý và trao đổi chất của carbohydrat, lipid, protein của chuột bị bệnh tiểu đường., et al (2004), chỉ ra lợi ích tiềm năng của dịch chiết nước từ cây HĐRM trong việc làm giảm đường huyết trong máu trên chuột bị bệnh tiểu đường type 2. Tác dụng chống dị ứng và chống viêm Theo Quilez A., et al (2004), cho thấy tác dụng chống dị ứng và chống viêm thông qua thử nghiệm in vitro phóng thích histamin từ tế bào mast của dịch chiết methanol trong cây HĐRM. Nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa 2.
Khái niệm về gốc tự do Các gốc tự do hay nói chính xác hơn là các chất hoạt động chứa oxy và nitơ (ROS và RNS), là các dẫn xuất dạng khử của oxy và nitơ phân tử. Chúng được chia thành hai nhóm lớn là các gốc tự do và các dẫn xuất không phải gốc tự do. Các ROS và RNS trong cơ thể sinh học O2•– Gốc superoxyd 1 O2 Oxy đơn OH• Gốc hydroxyl NO• Oxyd nitrid ROO• Gốc peroxyd ONOO- Peroxynitrid H2O2 Hydrogenperoxyd HOCl Acid hypochlorique Các gốc tự do là các phân tử hoặc nguyên tử có một hoặc nhiều điện tử độc thân. Các dẫn xuất không phải gốc tự do như oxy đơn, hydroperoxyd, nitroperoxyd là tiền chất của các gốc tự do.
Các ROS và RNS phản ứng rất nhanh với các phân tử quanh nó do đó gây tổn thương và làm thay đổi giá trị sinh học của các đại phân tử sinh học như ADN, protein, lipid (Proctor P. Các ROS và RNS được tạo ra một cách tất yếu trong quá trình trao đổi chất và tùy thuộc vào nồng độ mà chúng có tác động tốt hoặc xấu đến cơ thể. Ở nồng độ thấp, các ROS và RNS là các tín hiệu làm nhiệm vụ: Điều hòa phân ly tế bào, kích hoạt các yếu tố phiên mã cho các gen tham gia quá trình miễn dịch, kháng viêm và điều hòa biểu hiện các gen mã hóa cho các enzym chống oxy hóa. Ở nồng độ cao, các ROS và RNS oxy hóa các đại phân tử sinh học gây nên: Đột biến ở ADN, biến tính protein, oxy hóa lipid (Favier A.
Sự phá hủy các đại phân tử sinh học bởi ROS và RNS là nguyên nhân của rất nhiều bệnh nguy hiểm. Sự oxy hóa của các LDL dẫn đến sự hình thành các vạch lipid trên thành mạch máu, giai đoạn đầu tiên của bệnh tăng huyết áp và nhiều bệnh tim mạch. Các ROS và RNS tấn công phospholipid màng tế bào làm thay đổi tính mềm dẻo của màng, thay đổi chức năng của nhiều thụ thể trên màng do đó ảnh hưởng đến tính thẩm thấu của màng cũng như việc trao đổi thông tin giữa tế bào và môi trường. Sự oxy hóa 6 các ADN bởi các ROS và RNS gây nên biến dị di truyền là một trong những nguy cơ phát triển ung thư.
Nhiều enzym và protein vận chuyển cũng bị oxy hóa và vô hoạt bởi ROS và RNS (Favier A., et al, 2003; Pincemail J. Sự tích lũy các sản phẩm của sự oxy hóa các cấu tử tế bào gây nên hiện tượng lão hóa sớm.