Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Luận án tiến sĩ phân tích lâm sàng và cận lâm sàng, đánh giá hiệu quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III qua phẫu thuật nội soi.

Chuyên ngành

Ngoại Tiêu Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2022

161
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu của dạ dày

1.2. Hình thể giải phẫu và các vùng của dạ dày

1.3. Cấu tạo mô học của dạ dày

1.4. Mạch máu của dạ dày

1.4.1. Động mạch

1.4.2. Tĩnh mạch

1.5. Thần kinh của dạ dày

1.6. Hệ bạch huyết của dạ dày

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1. Bệnh án mẫu thu thập số liệu

PHỤ LỤC 2. Chia các nhóm hạch của Hội ung thư dạ dày Nhật Bản (JGCA)

PHỤ LỤC 3. Phân loại giai đoạn ung thư dạ dày của Hội nghiên cứu UTDD Nhật Bản năm 1995

PHỤ LỤC 4. Phân loại giai đoạn ung thư dạ dày của Hội nghiên cứu UTDD Nhật Bản năm 1998

PHỤ LỤC 5. Tỉ lệ biến chứng và tử vong trong mổ mở cắt dạ dày

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Ung thư dạ dày giai đoạn III là một trong những loại ung thư phổ biến và nguy hiểm. Theo thống kê, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở Việt Nam đứng thứ tư, với nhiều bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn. Phẫu thuật nội soi đã trở thành một phương pháp điều trị hiệu quả, giúp cải thiện tỷ lệ sống sót và giảm thiểu biến chứng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III bằng phẫu thuật nội soi.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn III thường có triệu chứng như đau bụng, khó tiêu, và giảm cân. Các triệu chứng này thường không rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Theo nghiên cứu, khoảng 46,4% bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn này, cho thấy sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức về bệnh.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Về Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày được thực hiện lần đầu vào năm 1994 tại Nhật Bản. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp này có hiệu quả tương đương với phẫu thuật mở, nhưng có nhiều lợi ích hơn như giảm đau và thời gian hồi phục nhanh hơn.

II. Thách Thức Trong Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III gặp nhiều thách thức, bao gồm việc xác định giai đoạn bệnh chính xác và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Nhiều bệnh nhân có thể gặp phải biến chứng sau phẫu thuật, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Việc nạo vét hạch lympho cũng là một yếu tố quan trọng trong điều trị.

2.1. Biến Chứng Sau Phẫu Thuật Nội Soi

Biến chứng sau phẫu thuật nội soi có thể bao gồm chảy máu, nhiễm trùng và tổn thương các cơ quan lân cận. Theo nghiên cứu, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật nội soi thấp hơn so với phẫu thuật mở, nhưng vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Nạo Vét Hạch Lympho

Nạo vét hạch lympho là một phần quan trọng trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III. Tuy nhiên, việc thực hiện nạo vét hạch lympho qua phẫu thuật nội soi có thể gặp khó khăn do vị trí và số lượng hạch lympho cần nạo vét.

III. Phương Pháp Phẫu Thuật Nội Soi Trong Điều Trị Ung Thư Dạ Dày

Phẫu thuật nội soi là phương pháp chính trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III. Phương pháp này cho phép bác sĩ thực hiện các thao tác phẫu thuật qua các vết mổ nhỏ, giảm thiểu tổn thương mô và thời gian hồi phục cho bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có thể mang lại kết quả tương đương với phẫu thuật mở.

3.1. Kỹ Thuật Phẫu Thuật Nội Soi

Kỹ thuật phẫu thuật nội soi bao gồm việc sử dụng camera và các dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng để thực hiện cắt dạ dày. Kỹ thuật này yêu cầu bác sĩ có kinh nghiệm và kỹ năng cao để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

3.2. Lợi Ích Của Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích như giảm đau, thời gian nằm viện ngắn hơn và hồi phục nhanh hơn. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân phẫu thuật nội soi có tỷ lệ sống sót cao hơn so với phẫu thuật mở.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có hiệu quả trong việc điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III. Tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật cao, và nhiều bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường sau điều trị. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả lâu dài của phương pháp này.

4.1. Tỷ Lệ Sống Sót Sau Phẫu Thuật

Tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn III đạt khoảng 60-70%. Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố như giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe tổng quát ảnh hưởng đến tỷ lệ sống sót.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Điều Trị

Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ tái phát, biến chứng và thời gian hồi phục. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi có tỷ lệ tái phát thấp hơn so với phẫu thuật mở.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III

Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi là một phương pháp hiệu quả trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng những lợi ích mà phương pháp này mang lại là rõ ràng. Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện kỹ thuật và kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.1. Tương Lai Của Phẫu Thuật Nội Soi

Phẫu thuật nội soi có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Các nghiên cứu mới sẽ giúp cải thiện kỹ thuật và mở rộng ứng dụng của phương pháp này trong điều trị ung thư dạ dày.

5.2. Khuyến Nghị Cho Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng để xác định rõ hơn về hiệu quả và an toàn của phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III. Việc chia sẻ kinh nghiệm và kết quả giữa các cơ sở y tế cũng rất quan trọng.

23/06/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ung thư dạ dày giai đoạn iii kèm nạo vét hạch d2 bằng phẫu thuật nội soi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu của dạ dày Dạ dày xuất hiện từ tuần lễ thứ tư của phôi thai, ruột trên phình ra thành một túi hình thoi kèm theo mạc treo phía lưng và mạc treo phía bụng. Do phần trên lớn nhanh hơn phần dưới nên dạ dày bị xoay từ trái sang phải nên mặt lưng trở thành bờ cong lớn và mặt bụng trở thành bờ cong nhỏ [10]. Hình thể giải phẫu và các vùng của dạ dày Dạ dày là cơ quan nằm trong phúc mạc, là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, dạ dày có hình chủ J nằm sát dưới vòm hoành trái, ở sau cung sườn và vòm hoành trái [10].

Dạ dày gồm có 2 thành trước và sau, 2 bờ là bờ cong lớn và bờ cong nhỏ, có 2 đầu tâm vị ở trên và môn vị ở dưới. Từ trên xuống dưới, dạ dày chia thành các vùng [10]: - Tâm vị: là điểm cố định trên của dạ dày thông với thực quản qua lỗ tâm vị. Lỗ này không có van đóng kín mà chỉ có nếp niêm mạc nằm ngang mức thân đốt sống ngực 10, dưới lỗ cơ hoành 2cm. - Phình vị lớn hay còn gọi là đáy vị, hình chỏm cầu, ở bên trái tâm vị và ngăn cách với thực quản đoạn bụng bởi khuyết tâm vị.

- Thân vị nối tiếp phía dưới phình vị lớn. Giới hạn trên là mặt phẳng ngang qua lỗ tâm vị, giới hạn dưới là mặt phẳng qua góc bờ cong nhỏ. Bờ cong nhỏ: kéo dài từ chỗ nối thực quản-tâm vị cho đến môn vị, dọc theo bờ phải của dạ dày. Có một chỗ khuyết gần với môn vị hơn tâm vị gọi là góc bờ cong nhỏ, chia bờ cong nhỏ thành 2 phần: phần đứng và phần ngang.

Mạc nối gan - vị (hay mạc nối nhỏ) là hai lớp phúc mạc đi từ cuống gan và bờ dưới gan trái đến bờ cong nhỏ dạ dày [10]. Bờ cong lớn: dài gấp 4 lần bờ cong nhỏ, bắt đầu từ điểm nối thực quản- Tâm vị đến môn vị dọc theo bờ trái của dạ dày. Mạc nối lớn đến bám vào bờ cong lớn, trong đó có 3 phần giúp cố định dạ dày với các tạng lân cận đó là dây chằng vị 14 hoành, mạc nối vị lách, mạc chằng vị đại tràng [10]. - Hang vị nối tiếp với thân vị, chạy sang phải và ra sau, hình ống phễu, hẹp dần phía dưới.

- Môn vị: nối dạ dày với tá tràng, ngang với bờ trên đốt sống thắt lưng 1, hơi lệch sang phải so với đường giữa bụng. Mặt ngoài của môn vị được đánh dấu bởi tĩnh mạch trước môn vị. Hình thể giải phẫu dạ dày *Nguồn: Frank. Netter MD, (2017), Atlas giải phẫu người [44] Hội ung thư dạ dày Nhật Bản chia dạ dày làm ba vùng.

Ba vùng này được xác định bằng cách dùng hai điểm cách đều nhau chia mỗi bờ cong của dạ dày thành ba đoạn bằng nhau rồi nối hai điểm gần nhau của hai bờ cong lại. Ba vùng của dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [62] Như vậy, dạ dày được chia thành các vùng 1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới [62]. Cấu tạo mô học của dạ dày Thành dạ dày có 5 lớp, kể từ ngoài vào trong gồm [10]: - Lớp thanh mạc: là mô liên kết mỏng, phủ bên ngoài là tổ chức trung biểu mô. Thuộc lá tạng của phúc mạc, liên tục với mạc nối nhỏ, mạc nối lớn và mạc nối vị- lách.

- Lớp dưới thanh mạc: là một tổ chức mô liên kết lỏng lẻo, rất mỏng, đặc biệt ở 2 mặt trước và mặt sau dạ dày. - Lớp cơ: từ ngoài vào trong gồm 3 lớp cơ trơn: + Cơ dọc: liên tục với thớ cơ dọc của thực quản và tá tràng. + Cơ vòng: bao kín toàn thể dạ dày, đặc biệt dày ở môn vị, tạo nên cơ thắt môn vị rất chắc. + Cơ chéo: là một lớp không hoàn toàn, chạy vòng quanh đáy vị và đi chéo xuống phía dưới về phía bờ cong lớn.

- Lớp dưới niêm mạc: là mô liên kết thưa, chứa các tế bào mỡ, dưỡng bào, lymphô bào, mạch máu, bạch huyết. - Lớp niêm mạc: lót mặt trong dạ dày, lớp này lồi lên xếp thành các nếp, phần lớn theo chiều dọc, nhất là dọc theo bờ cong nhỏ, các nếp đều và liên tục hơn tạo thành rãnh gọi là ống vị. Mạch máu của dạ dày 1. Động mạch Các ĐM chính cấp máu cho dạ dày đều có nguồn gốc từ ĐM thân tạng.

ĐM vị trái, ĐM lách và ĐM gan chung xuất phát trực tiếp từ ĐM thân tạng. ĐM lách chia các nhánh ĐM vị ngắn, ĐM vị sau và ĐM vị mạc nối trái. ĐM gan chung chia nhánh ĐM gan riêng và ĐM vị tá tràng. ĐM gan riêng chia nhánh ĐM vị phải và ĐM trên tá tràng.

ĐM vị tá tràng chia nhánh ĐM dưới môn vị và ĐM vị mạc nối phải [10]. Các ĐM này được nối với nhau thành 2 vòng ĐM quanh dạ dày là [10]:  Vòng ĐM bờ cong nhỏ: được tạo bởi ĐM vị trái và ĐM vị phải 16 - ĐM vị trái: là nhánh nhỏ nhất của ĐM thân tạng, đi lên qua trái đường giữa và nằm trong mạc nối nhỏ đến dưới trụ hoành trái. Biến đổi giải phẫu của ĐM vị trái: 90% xuất phát từ ĐM thân tạng, 4% từ thân chung vị lách, 3% trực tiếp từ ĐM chủ bụng, 2% từ thân chung vị gan [67]. Theo Lê Văn Cường [6], ĐM vị trái của người Việt Nam có nguyên ủy: từ ĐM thân tạng (74,1%), từ ĐM chủ bụng (16,1%), từ thân chung vị lách (6,4%) và từ thân chung gan vị (3,2%).

Các động mạch cung cấp máu cho dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [62] - ĐM vị phải: là nhánh nhỏ xuất phát từ ĐM gan riêng và đi đến phần dưới của bờ cong nhỏ. Nó cho một hoặc nhiều nhánh trên môn vị, đồng thời đi dọc theo bờ cong nhỏ của dạ dày và nối với động mạch vị trái. Biến đổi giải phẫu của ĐM vị phải: 50 - 68% xuất phát từ ĐM gan riêng, 28,8 - 40,5% từ ĐM gan trái và 3,2% từ ĐM gan chung [54]. - ĐM vị mạc nối phải: xuất phát từ ĐM vị tá tràng ở bờ dưới tá tràng D1 rồi đi trong mạc nối vị đại tràng song song với bờ cong lớn lên trên.

- ĐM vị mạc nối trái: là một nhánh lớn của ĐM lách, nó đi đến dạ dày trong mạc vị đại tràng tại vị trí giữa và dọc theo bờ cong lớn. 17  Các ĐM vị ngắn Khoảng 5-7 ĐM vị ngắn xuất phát từ các nhánh tận của ĐM lách hoặc từ ĐM lách. Các ĐM này đi đến phần trên thân vị và phình vị.  ĐM vị sau Xuất phát từ ĐM lách và đi lên phần sau thân vị, tâm vị và phình vị.

Sự hiện diện của ĐM vị sau thay đổi theo nhiều nghiên cứu từ 36 – 86 %. Theo Okabayashi [107], ĐM vị sau hiện diện ở 97,2 % các trường hợp (70/72 trường hợp) và xuất phát từ ĐM lách. Theo Suzuki [127], ĐM vị sau có ở 62,3% (38/61) các trường hợp. Trong số này, có 7/38 trường hợp (18,4%) ĐM vị sau xuất phát từ phần gần ĐM lách, 18/38 trường hợp (47,8%) từ phần giữa và 13/38 trường hợp (34,2%) xuất phát từ phần xa của ĐM lách.

Hiểu biết về giải phẫu của ĐM vị sau giúp tránh biến chứng chảy máu khi nạo hạch nhóm 10, 11p và 11d.  Tuần hoàn ĐM trong thành dạ dày (hình 1.4) Dạ dày là một trong những cơ quan được tưới máu tốt nhất, không chỉ được cấp máu bởi nhiều ĐM mà còn có hệ thống mạng mạch nối phong phú bên ngoài và cả trong thành dạ dày. Dạ dày vẫn có thể tồn tại nếu chúng ta thắt tất cả các ĐM chỉ trừ một trong các ĐM của nó. Tĩnh mạch Các TM cùng tên với ĐM và đổ trực tiếp vào TM cửa hoặc vào TM lách rồi về TM cửa và dẫn máu về gan.

- TM vị trái (hay TM vành vị): đổ trực tiếp vào TM cửa hoặc TM lách. Có 3 vị trí đổ của TM vị trái và tỉ lệ như ở hình 1. TM vị trái thường không đi kèm sát với ĐM vị trái nên trong phẫu thuật chúng ta phải phẫu tích và thắt riêng biệt.4 Tuần hoàn bàng hệ trong thành dạ dày Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [62] Hình 1.5 Các vị trí dẫn lưu của TM vị trái Nguồn: Rebibo, 2012 [109] - TM vị phải: là một TM nhỏ đổ trực tiếp vào TM cửa ở rốn gan [115]. - TM vị mạc nối trái: đổ vào TM lách hoặc vào một trong các nhánh tận của TM lách.

TM vị mạc nối trái thường đi kèm sát với ĐM vị mạc nối trái nên trong phẫu thuật chúng ta có thể thắt chung với nhau. 19 - TM vị mạc nối phải: đổ vào TM mạc treo tràng trên qua thân TM vị đại tràng (còn gọi là thân Henle: hợp bởi 3 TM là TM vị mạc nối phải, TM đại tràng phải trên và TM trước dưới tá tụy, TM này hiện diện trong 70% trường hợp) [107]. Thần kinh của dạ dày Dạ dày được chi phối bởi 2 nhánh thần kinh lang thang trước và sau thuộc hệ phó giao cảm và những sợi thần kinh từ đám rối tạng thuộc hệ giao cảm. Hệ bạch huyết của dạ dày Hệ bạch huyết của dạ dày bắt nguồn từ các mạng mao mạch bạch huyết ở dưới thanh mạc, trong lớp cơ và lớp dưới niêm mạc.

Các mạng mao mạch bạch huyết này đổ vào 3 chuỗi hạch nằm dọc theo các động mạch lớn của dạ dày [42]. Chuỗi hạch bạch huyết dạ dày: dọc theo bờ cong nhỏ nhận hạch bạch huyết của nửa phải phần đứng và nửa trên phần ngang dạ dày. Chuỗi bạch huyết vị mạc nối: nhận bạch huyết của nửa trái thân vị và nữa dưới phần ngang dọc bờ cong lớn. Chuỗi hạch bạch huyết tụy lách: nhận bạch huyết của đáy vị và nửa trên thân vị.

Quan điểm chia các hạch bạch huyết dạ dày thành nhóm theo vị trí giải phẫu đã được các tác giả Nhật Bản ủng hộ và phát triển. Năm 1963, Hội nghiên cứu ung thư dạ dày Nhật bản-JRSGC (Japanese Research Society for Gastric Cancer) đã đánh số các hạch của dạ dày thành 16 nhóm và quy định các nhóm cần được nạo vét trong mổ tùy theo vị trí khối u ở dạ dày [64]. Năm 1998, một năm sau khi JRSGC chuyển thành Hội ung thư dạ dày Nhật Bản- JGCA (Japanese Gastric Cancer Association), phiên bản tiếng Anh lần 2 về phân loại UTDD của Hội được xuất bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Giai Đoạn III Bằng Phẫu Thuật Nội Soi" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị ung thư dạ dày giai đoạn III thông qua phẫu thuật nội soi. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ quy trình phẫu thuật mà còn phân tích hiệu quả và lợi ích của phương pháp này so với các phương pháp điều trị truyền thống. Đặc biệt, phẫu thuật nội soi giúp giảm thiểu đau đớn, thời gian hồi phục nhanh chóng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị ung thư và ứng dụng phẫu thuật nội soi, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị bằng phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng, nơi cung cấp thông tin về phẫu thuật nội soi trong điều trị các bệnh lý liên quan đến dạ dày. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở người cao tuổi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kết quả phẫu thuật nội soi trong các trường hợp cụ thể. Cuối cùng, tài liệu Luận án nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính cũng mang lại cái nhìn về ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong các lĩnh vực khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.