Luận án tiến sĩ y học: Phương pháp điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc

Tài liệu điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Chuyên ngành

Nhãn khoa

Tác giả

Đoàn Kim Thành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

148
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về glôcôm giả tróc bao

Glôcôm giả tróc bao là một dạng glôcôm góc mở thứ phát, thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi. Bệnh đặc trưng bởi sự lắng đọng chất giả tróc bao trên các cấu trúc nội nhãn, dẫn đến tăng nhãn áp và tổn thương thần kinh thị giác. Hội chứng giả tróc bao là nguyên nhân chính gây ra bệnh lý này, với tỷ lệ mắc tăng theo tuổi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 30% người trên 60 tuổi có dấu hiệu của hội chứng này. Glôcôm giả tróc bao có diễn tiến nhanh hơn so với glôcôm góc mở nguyên phát, với biên độ dao động nhãn áp cao và đáp ứng kém với điều trị.

1.1. Đặc điểm dịch tễ

Hội chứng giả tróc bao phổ biến ở các nước Scandinavia, với tỷ lệ mắc cao nhất tại Iceland (28%) và thấp nhất tại Đan Mạch (5%). Tại Việt Nam, glôcôm giả tróc bao là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa. Bệnh thường gặp ở người lớn tuổi, với tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi tác, di truyền và các bệnh lý toàn thân như tim mạch và mạch máu não.

1.2. Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế bệnh sinh của glôcôm giả tróc bao liên quan đến sự lắng đọng chất giả tróc bao ở vùng bè, gây tắc nghẽn thoát lưu thủy dịch. Chất giả tróc bao được tạo ra từ các tế bào nội nhãn, bao gồm tế bào biểu mô thể thủy tinh và tế bào nội mô vùng bè. Sự tích tụ này dẫn đến tăng kháng lực thoát lưu và tăng nhãn áp. Ngoài ra, sự suy yếu dây chằng Zinn cũng góp phần gây ra glôcôm góc đóng thứ phát.

II. Phương pháp điều trị glôcôm giả tróc bao

Điều trị glôcôm giả tróc bao tập trung vào việc kiểm soát nhãn áp và ngăn ngừa tổn thương thần kinh thị giác. Các phương pháp điều trị bao gồm sử dụng thuốc hạ nhãn áp, phẫu thuật và tạo hình vùng bè laser chọn lọc (THVBLCL). Trong đó, THVBLCL là phương pháp hiệu quả, ít xâm lấn và có thể thay thế thuốc nhỏ hạ nhãn áp trong một số trường hợp.

2.1. Thuốc hạ nhãn áp

Tafluprost 0,0015% là một trong những thuốc hạ nhãn áp thuộc nhóm prostaglandin, được sử dụng phổ biến trong điều trị glôcôm giả tróc bao. Thuốc có hiệu quả hạ nhãn áp cao và ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, việc duy trì sử dụng thuốc lâu dài gặp nhiều khó khăn do chi phí cao và sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

2.2. Tạo hình vùng bè laser chọn lọc THVBLCL

THVBLCL là phương pháp sử dụng laser Nd:YAG 532nm để tác động lên các tế bào sắc tố ở vùng bè, giúp tăng thoát lưu thủy dịch. Phương pháp này có hiệu quả tương đương với thuốc nhỏ hạ nhãn áp và ít ảnh hưởng đến các phẫu thuật trong tương lai. THVBLCL đặc biệt phù hợp với bệnh nhân không dung nạp hoặc không tuân thủ điều trị bằng thuốc.

III. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Nghiên cứu so sánh hiệu quả của THVBLCLTafluprost 0,0015% trong điều trị glôcôm giả tróc bao cho thấy cả hai phương pháp đều có hiệu quả hạ nhãn áp đáng kể. Tuy nhiên, THVBLCL có ưu điểm về chi phí thấp và ít tác dụng phụ hơn so với thuốc nhỏ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng THVBLCL là phương pháp an toàn và hiệu quả, đặc biệt với bệnh nhân ở giai đoạn nhẹ và trung bình.

3.1. Hiệu quả hạ nhãn áp

Kết quả nghiên cứu cho thấy THVBLCL giúp giảm nhãn áp trung bình từ 25% đến 30% sau 12 tháng điều trị, tương đương với hiệu quả của Tafluprost 0,0015%. Tỷ lệ thành công của THVBLCL đạt 70% sau 1 năm, cao hơn so với các phương pháp điều trị khác.

3.2. Tác dụng ngoại ý và biến chứng

THVBLCL có tỷ lệ biến chứng thấp, chủ yếu là tăng nhãn áp thoáng qua và viêm nhẹ. Trong khi đó, Tafluprost 0,0015% có thể gây kích ứng mắt và các tác dụng phụ toàn thân. Nghiên cứu khẳng định THVBLCL là phương pháp an toàn và ít xâm lấn hơn so với điều trị bằng thuốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. GLÔCÔM GIẢ TRÓC BAO 1. Đặc điểm dịch tễ 1. Hội chứng giả tróc bao Hội chứng giả tróc là một rối loạn của cấu trúc chất nền ngoại bào liên quan đến tuổi, hội chứng giả tróc bao được xem là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý glôcôm giả tróc bao.

Tỉ lệ mắc hội chứng giả tróc bao tăng theo tuổi, các nghiên cứu cho thấy có đến 30% người trên 60 tuổi có những bất thường vi thể biểu hiện bằng sự lắng đọng của các chất dạng sợi nhỏ trên bề mặt các cấu trúc nội nhãn ở phần trước nhãn cầu, những chất này được gọi là “chất giả tróc bao” [109]. Ngày nay, hội chứng giả tróc bao được xem là một tình trạng toàn thân với chất liệu giả tróc bao hiện diện ở khắp nơi trong cơ thể, liên quan đến một số bệnh lý tim mạch, bệnh lý mạch máu não và điếc cảm nhận thần kinh [26]. Khoảng 90 năm trước, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy sự thay đổi của bề mặt bao trước thể thủy tinh trong hội chứng giả tróc bao và cho rằng đó là nguyên nhân của tình trạng glôcôm thứ phát. Những phát hiện về sau cho thấy trong hội chứng giả tróc bao có sự thay đổi mô học liên quan đến nhiều cấu trúc ở phần trước nhãn cầu như tình trạng rung thể thủy tinh, lệch thể thủy tinh, glôcôm góc đóng, lắng đọng sắc tố, giảm khả năng thoát lưu vùng bè, dính mống mắt và bệnh lý nội mô giác mạc mất bù.

Những thay đổi về mặt cấu trúc này cũng là nguyên nhân dẫn đến các biến chứng liên quan đến phẫu thuật thường gặp liên quan đến hội chứng giả tróc bao như: đứt dây chằng Zinn, rách bao sau gây thoát dịch kính, phản ứng viêm sau mổ, cơn tăng nhãn áp và tình trạng lệch kính nội nhãn…. Một nghiên cứu cho thấy có khoảng 16% bệnh nhân khi được chẩn đoán hội chứng giả tróc bao đã phải điều trị thuốc hạ nhãn áp ngay tại thời điểm phát 5 hiện và trong những bệnh nhân còn lại có đến 44% cần được điều trị trong thời gian 15 năm tiếp theo [49]. Bệnh nhân có tăng nhãn áp kèm theo hội chứng giả tróc bao có nguy cơ tiến triển thành glôcôm cao gấp 2-3 lần so với bệnh nhân tăng nhãn áp đơn thuần không kèm theo hội chứng giả tróc bao [34]. Hội chứng giả tróc bao có ở khắp nơi trên thế giới nhưng có tần suất cao tại các nước vùng Scandinavia.

Tần suất thay đổi theo từng quốc gia, theo từng vùng trong mỗi quốc gia, theo chủng tộc và theo tuổi. Tần suất khoảng 20% ở Phần Lan và cao hơn 28% ở Iceland, nhưng chỉ có 5% ở Đan mạch, cao đến 38% ở Arizona Navajo [23]. Một số nghiên cứu dịch tễ cho rằng tỷ lệ hội chứng xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, một số khác lại không thấy sự khác biệt giữa 2 giới [23], [52]. Glôcôm giả tróc bao Glôcôm giả tróc bao xảy ra ở khoảng 40 – 50% bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao và tỷ lệ này tăng theo tuổi của bệnh nhân.

Nghiên cứu của tác giả Drolsum (1993) đã cho thấy ở những mắt có hội chứng giả tróc bao có đến 48,9% mắt tiến triển thành glôcôm giả tróc bao, trong khi đó chỉ có 6,8% mắt không có hội chứng giả tróc bao tiến triển thành glôcôm [24]. Tại Phần Lan, tần suất là 10% ở người 60 – 69 tuổi, tăng đến 33% ở người 80 – 89 tuổi [23], [107]. Một nghiên cứu khác cho thấy phần trăm nguy cơ tích lũy phát triển thành glôcôm trên bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao là 5,3% sau 5 năm theo dõi và 15,4% sau 10 năm theo dõi, điều này tương đương với nguy cơ phát triển thành glôcôm cao gấp 10 lần so với dân số bình thường [110]. Mặc dù glôcôm giả tróc bao là bệnh lý glôcôm góc mở thứ phát thường gặp nhất, nhưng vẫn có từ 9-18% bệnh nhân glôcôm giả tróc bao là góc đóng (do tình trạng suy yếu của dây chằng Zinn làm thể thủy tinh di lệch ra trước) [29].

6 Glôcôm giả tróc bao có diễn tiến nhanh hơn so với glôcôm góc mở nguyên phát, theo nghiên cứu Early Manifest Glaucoma Trial (EMGT) thì glôcôm giả tróc bao có nguy có tiến triển cao gấp 2,12 lần so với glôcôm góc mở nguyên phát [37]. So với bệnh lý glôcôm góc mở nguyên phát thì glôcôm giả tróc bao có diễn tiến nhanh hơn và nặng hơn với biên độ dao động nhãn áp trong ngày cao, tổn thương thần kinh thị tiến triển nhanh và khả năng đáp ứng với điều trị kém hơn [23], [34]. Cơ chế bệnh sinh Đặc trưng của hội chứng giả tróc bao là sự hình thành và tích tụ các chất dạng sợi hay còn gọi “chất giả tróc bao” bất thường chất nền ngoại bào ở phần trước nhãn cầu. Nghiên cứu về cấu trúc vi thể cho thấy các chất giả tróc bao được tạo ra bởi nhiều loại tế bào nội nhãn bao gồm: các tế bào biểu mô thể thủy tinh quanh xích đạo, tế bào biểu mô thể mi không sắc tố, tế bào nội mô vùng bè, tế bào nội mô giác mạc, tế bào nội mô mạch máu và các loại tế bào của mống mắt [90].

Chất giả tróc bao bao gồm các sợi có độ dày từ 10-12nm, được sắp xếp dưới dạng ma trận hoặc cuộn lại hình xoắn ốc. Nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy các chất giả tróc bao gồm thành phần protein và glycosaminoglycans. Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyển hóa về sự kết hợp giữa các axit amin thành protein đã không cho thấy sự khác biệt giữa mô bình thường và chất giả tróc bao [39]. Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của chất giả tróc bao được đưa ra bao gồm: giả thuyết về tình trạng thoái hóa dạng tinh bột, giả thuyết về bệnh lý màng đáy và giả thuyết vi sợi đàn hồi.

Cơ chế bệnh sinh và thành phần chính xác của chất giả tróc bao cho đến nay vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, sự xuất hiện của chất giả tróc bao có thể liên quan đến yếu tố di truyền, môi trường, chấn thương và/hoặc yếu tố miễn dịch [25]. 7 Các nghiên cứu về bất thường gen trong những năm gần đây đã cho thấy có mối liên quan giữa đột biến trên gen lysil-oxydase-like 1 (LOXL1) và nguy cơ mắc hội chứng giả tróc bao. Gen LOXL1 mã hóa cho enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp elastine.

Do đó, bất thường của gen LOXL1 có thể dẫn đến sự sản xuất bất thường elastin và tích tụ các chất dạng sợi từ đó gia tăng kháng lực ở vùng bè. Bên cạnh đó, biểu hiện bất thường của gen LOXL1 có thể dẫn đến sự thoái hóa của mô liên kết, đặc biệt là ở vùng lá sàng dẫn đến tăng nguy cơ tổn thương đầu thần kinh thị khi nhãn áp tăng [84]. Tổn thương dây chằng Zinn Về mặt hình thái, bao trước và bao sau của thể thủy tinh vẫn giữ độ dày và độ đàn hồi tương tự như mắt bình thường. Tuy nhiên, bao thể thủy tinh ở vùng quanh xích đạo nơi chứa các tế bào biểu mô thể thủy tinh và là nơi bám vào của các dây chằng Zinn lại có sự thay đổi đáng kể.

Tại vùng này, các bó sợi giả tróc bao xuất phát từ các tế bào biểu mô thể thủy tinh phá vỡ bao thể thủy tinh và xâm lấn vào các sợi dây chằng Zinn. Từ đó, dẫn đến sự phân tách giữa các sợi dây chằng Zinn với bao thể thủy tinh [112]. Tương tự như vậy, tại vị trí nguyên ủy nơi các sợi dây chằng Zinn bám vào lớp tế bào biểu mô không sắc tố của thể mi, lớp màng đáy của lớp tế bào biểu mô bị phá vỡ do sự lắng đọng đan xen của các sợi giả tróc bao. Từ đó phá vỡ sự liên kết với các sợi dây chằng Zinn [112].

Những thay đổi của các cấu trúc phía sau mống mắt thường không quan sát được trên lâm sàng. Tuy nhiên, khi các sợi dây chằng Zinn mất đi tính ổn định đáng kể trên lâm sàng sẽ có biểu hiện như rung thể thủy tinh hoặc lệch thể thủy tinh (hình 1. Khi thể thủy tinh di chuyển ra phía trước sẽ gây ra tình trạng nghẽn đồng tử hoặc glôcôm góc đóng.1: Dây chằng Zinn vùng thể mi và xích đạo thể thủy tinh với kính hiển vi điện tử. “Nguồn: Schlötzer-Schrehardt, 1994 [112]” Khi chụp hình trên kính hiển vi điện tử cho thấy sự tích tụ của chất giả tróc bao trên các sợi dây chằng Zinn ở vùng thể mi và xích đạo thể thủy tinh (hình 1.

Tổn thương mống mắt Trong hội chứng giả tróc bao, sự thay đổi của mống mắt được ghi nhận sớm nhất, trong đó tất cả các cấu trúc và tế bào của mống mắt đều bị ảnh hưởng. Về mặt lâm sàng, quan sát thấy đồng tử cứng, giãn kém, nguyên nhân là do các chất giả tróc bao lắng đọng trong nhu mô mống mắt kèm theo đó là sự thoái hóa của các cơ vòng và cơ tia mống mắt [60]. Lớp tế bào biểu mô sắc tố ở mặt sau mống mắt bị thoái hóa với sự phá vỡ màng đáy khu trú, dẫn đến sự hình thành các lỗ teo mống mắt chu biên và sự phân tán các hạt sắc tố melanin vào trong tiền phòng. Bên cạnh đó là sự thoái hóa của mạch máu trong nhu mô mống mắt, dẫn đến tình trạng giảm tưới máu và giảm oxy cung cấp cho tiền phòng.

Trên hình chụp fluorescein bán phần trước, có thể thấy tình trạng thoát dịch từ mạch máu mống mắt [38]. Tổn thương mạch máu mống mắt trong hội chứng giả tróc bao còn liên quan đến sự phá vỡ hàng rào máu - thủy dịch, dẫn đến tình trạng giả viêm màng bồ đào do tăng phóng thích các protein vào trong thủy dịch (hình 1. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tăng tình trạng viêm sau mổ (mổ đục thể thủy tinh, mổ cắt bè củng mạc…) trên bệnh nhân có hội chứng giả tróc bao [69], [92].2: Sự thay đổi cấu trúc mạch máu mống mắt. Cơ chế tăng nhãn áp trong hội chứng giả tróc bao Hội chứng giả tróc bao có thể gây nên tình trạng tăng nhãn áp và dẫn đến bệnh lý glôcôm thứ phát hay còn gọi là glôcôm giả tróc bao.

Mặc dù phần lớn các trường hợp glôcôm giả tróc bao là góc mở, nhưng do tình trạng suy yếu dây chằng Zinn và thay đổi của mống mắt nên một số trường hợp thể thủy tinh bị đẩy lệch về phía trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu điều trị glôcôm giả tróc bao bằng tạo hình vùng bè laser chọn lọc là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào phương pháp điều trị glôcôm giả tróc bao thông qua kỹ thuật tạo hình vùng bè bằng laser chọn lọc. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về cơ chế hoạt động của phương pháp mà còn đánh giá hiệu quả lâm sàng, mang lại hy vọng mới cho bệnh nhân mắc bệnh glôcôm. Đây là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực nhãn khoa, giúp cải thiện chất lượng điều trị và giảm thiểu biến chứng.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis, một nghiên cứu đột phá trong lĩnh vực chỉnh nha. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane cũng là một tài liệu đáng chú ý, cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại WHO 2013 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chẩn đoán và điều trị các bệnh lý xương phức tạp.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong thực tiễn.